Tăng Chi Bộ 5.57 · AN 5.57

Kinh Năm Điều Nên Thường Quán Xét

Abhiṇhapaccavekkhitabbaṭhāna Sutta

Còn gọi là: Kinh Năm Điều Quán Tưởng

Năm suy niệm ngắn mà Đức Phật dặn cả người tại gia lẫn xuất gia nên nhớ thường xuyên: già, bệnh, chết, chia ly và nghiệp.

Trước khi đọc kinh

Nghe qua, năm điều này có vẻ buồn: ta sẽ già, sẽ bệnh, sẽ chết, sẽ xa người thân yêu. Nhưng đọc kỹ, kinh không nhằm làm ta sợ. Mỗi điều đều đi kèm một lý do rất thực tế (đoạn 2–6).

Người trẻ dễ say vì tuổi trẻ, người khỏe dễ say vì sức khỏe, người đang sống dễ quên mình sẽ chết. Chính sự “say” ấy khiến ta làm điều sai bằng thân, lời và ý. Nhớ đến già, bệnh, chết là cách tự giải say. Nhớ đến chia ly giúp tình thương bớt thành bám víu.

Điều thứ năm là nền của cả đạo đức Phật giáo: “Ta là chủ nhân của nghiệp, là người thừa tự nghiệp” (đoạn 1.7–1.9). Không ai ban phước hay giáng họa thay ta. Việc ta làm, ta nhận.

Phần sau của kinh (đoạn 7–11) mở rộng tầm nhìn: không riêng gì ta, mọi chúng sinh đều như vậy. Từ cái nhìn ấy, con đường tu tập sinh khởi. Đây là bài kinh rất hợp để đọc mỗi sáng, chừng hai phút.

Ý chính

  • Năm điều: phải già, phải bệnh, phải chết, phải xa người thân yêu, là chủ nhân của nghiệp (1.3–1.9).
  • Mỗi điều giải một cơn say: say tuổi trẻ, say sức khỏe, say mạng sống, say dục tham, say làm ác (2–6).
  • Không chỉ riêng ta, mọi chúng sinh đều như vậy (7–11).
  • Từ suy niệm này, con đường tu tập sinh khởi.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
kamma
nghiệp: hành động có tác ý
kammassaka
chủ nhân của nghiệp
kammadāyāda
người thừa tự nghiệp
mada
sự say, kiêu mạn
paccavekkhati
quán xét, suy niệm
saṁyojana
kiết sử: dây trói buộc

Kinh Năm Điều Nên Thường Quán Xét

1—Có năm sự kiện này, này các Tỷ-kheo, cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Thế nào là năm?

“Ta phải bị già, không thoát khỏi già” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. “Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. “Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. “Tất cả pháp khả ái, khả ý đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt”, là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.
“Pañcimāni, bhikkhave, ṭhānāni abhiṇhaṁ paccavekkhitabbāni itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā. Katamāni pañca? ‘Jarādhammomhi, jaraṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā. ‘Byādhidhammomhi, byādhiṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā. ‘Maraṇadhammomhi, maraṇaṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā. ‘Sabbehi me piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā. ‘Kammassakomhi, kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇo. Yaṁ kammaṁ karissāmi—kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā— tassa dāyādo bhavissāmī’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.“Mendicants, a woman or a man, a layperson or a renunciate should often review these five subjects. What five? ‘I am liable to grow old, I am not exempt from old age.’ A woman or a man, a layperson or a renunciate should often review this. ‘I am liable to get sick, I am not exempt from sickness.’ … ‘I am liable to die, I am not exempt from death.’ … ‘I must be parted and separated from all I hold dear and beloved.’ … ‘I am the owner of my deeds and heir to my deeds. Deeds are my womb, my relative, and my refuge. I shall be the heir of whatever deeds I do, whether good or bad.’ A woman or a man, a layperson or a renunciate should often review this.

2Và do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị già, không thoát khỏi già”, là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.

Có những loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, đang còn trẻ, kiêu mạn trong tuổi trẻ, say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn tuổi trẻ trong tuổi trẻ được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu.

Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị già, không thoát khỏi già”, cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.
Kiñca, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘jarādhammomhi, jaraṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā? Atthi, bhikkhave, sattānaṁ yobbane yobbanamado, yena madena mattā kāyena duccaritaṁ caranti, vācāya duccaritaṁ caranti, manasā duccaritaṁ caranti. Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato yo yobbane yobbanamado so sabbaso vā pahīyati tanu vā pana hoti. Idaṁ kho, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘jarādhammomhi, jaraṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.What is the advantage for a woman or a man, a layperson or a renunciate of often reviewing this: ‘I am liable to grow old, I am not exempt from old age’? There are sentient beings who, intoxicated with the vanity of youth, do bad things by way of body, speech, and mind. Reviewing this subject often, they entirely give up the vanity of youth, or at least reduce it. This is the advantage for a woman or a man, a layperson or a renunciate of often reviewing this: ‘I am liable to grow old, I am not exempt from old age’.

3Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị bệnh, ta không thoát khỏi bệnh” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?

Có những loài hữu tình khỏe mạnh, này các Tỷ-kheo, kiêu mạn trong khỏe mạnh. Do say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn khỏe mạnh trong khỏe mạnh được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu.

Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh” cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.
Kiñca, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘byādhidhammomhi, byādhiṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā? Atthi, bhikkhave, sattānaṁ ārogye ārogyamado, yena madena mattā kāyena duccaritaṁ caranti, vācāya duccaritaṁ caranti, manasā duccaritaṁ caranti. Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato yo ārogye ārogyamado so sabbaso vā pahīyati tanu vā pana hoti. Idaṁ kho, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘byādhidhammomhi, byādhiṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.What is the advantage of often reviewing this: ‘I am liable to get sick, I am not exempt from sickness’? There are sentient beings who, drunk on the vanity of health, do bad things by way of body, speech, and mind. Reviewing this subject often, they entirely give up the vanity of health, or at least reduce it. This is the advantage of often reviewing this: ‘I am liable to get sick, I am not exempt from sickness’.

4Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị chết, ta không thoát khỏi chết”, là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?

Có những lời hữu tình đang sống, này các Tỷ-kheo, kiêu mạn trong sự sống. Do say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn sự sống trong sự sống được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu.

Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết”, cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.
Kiñca, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘maraṇadhammomhi, maraṇaṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā? Atthi, bhikkhave, sattānaṁ jīvite jīvitamado, yena madena mattā kāyena duccaritaṁ caranti, vācāya duccaritaṁ caranti, manasā duccaritaṁ caranti. Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato yo jīvite jīvitamado so sabbaso vā pahīyati tanu vā pana hoti. Idaṁ kho, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘maraṇadhammomhi, maraṇaṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.What is the advantage of often reviewing this: ‘I am liable to die, I am not exempt from death’? There are sentient beings who, drunk on the vanity of life, do bad things by way of body, speech, and mind. Reviewing this subject often, they entirely give up the vanity of life, or at least reduce it. This is the advantage of often reviewing this: ‘I am liable to die, I am not exempt from death’.

5Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Tất cả pháp khả ái, khả hỷ đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?

Có những loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, có lòng tham dục đối với các vật khả ái. Do say đắm với lòng tham dục ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, nên tham dục đối với các vật khả ái được đoạn tận hoàn toàn hay được giảm thiểu.

Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Tất cả pháp khả ái, khả hỷ đối với ta sẽ phải đổi khác, phải biến diệt” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.
Kiñca, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘sabbehi me piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā? Atthi, bhikkhave, sattānaṁ piyesu manāpesu yo chandarāgo yena rāgena rattā kāyena duccaritaṁ caranti, vācāya duccaritaṁ caranti, manasā duccaritaṁ caranti. Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato yo piyesu manāpesu chandarāgo so sabbaso vā pahīyati tanu vā pana hoti. Idaṁ kho, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘sabbehi me piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.What is the advantage of often reviewing this: ‘I must be parted and separated from all I hold dear and beloved’? There are sentient beings who, aroused by desire and lust for their dear and beloved, do bad things by way of body, speech, and mind. Reviewing this subject often, they entirely give up desire and lust for their dear and beloved, or at least reduce it. This is the advantage of often reviewing this: ‘I must be parted and separated from all I hold dear and beloved’.

6Và do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?

Có những loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát như vậy, ác hạnh được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.
Kiñca, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘kammassakomhi, kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇo, yaṁ kammaṁ karissāmi— kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—tassa dāyādo bhavissāmī’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā? Atthi, bhikkhave, sattānaṁ kāyaduccaritaṁ vacīduccaritaṁ manoduccaritaṁ. Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato sabbaso vā duccaritaṁ pahīyati tanu vā pana hoti. Idaṁ kho, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘kammassakomhi, kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇo, yaṁ kammaṁ karissāmi— kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā— tassa dāyādo bhavissāmī’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.What is the advantage of often reviewing like this: ‘I am the owner of my deeds and heir to my deeds. Deeds are my womb, my relative, and my refuge. I shall be the heir of whatever deeds I do, whether good or bad’? There are sentient beings who do bad things by way of body, speech, and mind. Reviewing this subject often, they entirely give up bad conduct, or at least reduce it. This is the advantage for a woman or a man, a layperson or a renunciate of often reviewing like this: ‘I am the owner of my deeds and heir to my deeds. Deeds are my womb, my relative, and my refuge. I shall be the heir of whatever deeds I do, whether good or bad.’

7Nếu vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, suy tư như sau: “Không phải chỉ một mình ta già, không thoát khỏi già, nhưng phàm có những loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình ấy phải bị già, không thoát khỏi già”. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.Sa kho so, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘na kho ahaññeveko jarādhammo jaraṁ anatīto, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbe sattā jarādhammā jaraṁ anatītā’ti. Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato maggo sañjāyati. So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti. Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni sabbaso pahīyanti anusayā byantīhonti.Then that noble disciple reflects: ‘It’s not just me who is liable to grow old, not being exempt from old age. For all sentient beings grow old according to their nature, as long as they come and go, pass away and are reborn.’ When they review this subject often, the path is born in them. They cultivate, develop, and make much of it. By doing so, they give up the fetters and eliminate the underlying tendencies.

8“Không phải chỉ một mình ta bị bệnh, không thoát khỏi bệnh, nhưng phàm có những loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình ấy phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh”. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.‘Na kho ahaññeveko byādhidhammo byādhiṁ anatīto, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbe sattā byādhidhammā byādhiṁ anatītā’ti. Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato maggo sañjāyati. So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti. Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni sabbaso pahīyanti, anusayā byantīhonti.‘It’s not just me who is liable to get sick, not being exempt from sickness. For all sentient beings get sick according to their nature, as long as they come and go, pass away and are reborn.’ When they review this subject often, the path is born in them. They cultivate, develop, and make much of it. By doing so, they give up the fetters and eliminate the underlying tendencies.

9“Không phải chỉ một mình ta bị chết, không thoát khỏi chết, nhưng phàm có những loài hữu tình nào, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình ấy phải bị chết, không thoát khỏi chết…” …‘Na kho ahaññeveko maraṇadhammo maraṇaṁ anatīto, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbe sattā maraṇadhammā maraṇaṁ anatītā’ti. Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato maggo sañjāyati. So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti. Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni sabbaso pahīyanti, anusayā byantīhonti.‘It’s not just me who is liable to die, not being exempt from death. For all sentient beings die according to their nature, as long as they come and go, pass away and are reborn.’ When they review this subject often, the path is born in them. They cultivate, develop, and make much of it. By doing so, they give up the fetters and eliminate the underlying tendencies.

10“Không phải chỉ có các pháp khả ái, khả ý của riêng một mình ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt. Phàm có các loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, các pháp khả ái, khả ý của tất cả loài hữu tình ấy sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt…”.‘Na kho mayhevekassa sabbehi piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbesaṁ sattānaṁ piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo’ti. Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato maggo sañjāyati. So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti. Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni sabbaso pahīyanti, anusayā byantīhonti.‘It’s not just me who must be parted and separated from all I hold dear and beloved. For all sentient beings must be parted and separated from all they hold dear and beloved, as long as they come and go, pass away and are reborn.’ When they review this subject often, the path is born in them. They cultivate, develop, and make much of it. By doing so, they give up the fetters and eliminate the underlying tendencies.

11“Không phải chỉ có một mình ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”. Phàm có các loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình ấy là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào họ sẽ làm thiện hay ác, họ sẽ thừa tự nghiệp ấy.

Do vị ấy thường xuyên quán sát dự kiện ấy, nên con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, nên các kiết sử dụng được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.
‘Na kho ahaññeveko kammassako kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇo, yaṁ kammaṁ karissāmi—kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—tassa dāyādo bhavissāmi; atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbe sattā kammassakā kammadāyādā kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇā, yaṁ kammaṁ karissanti—kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—tassa dāyādā bhavissantī’ti. Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato maggo sañjāyati. So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti. Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni sabbaso pahīyanti, anusayā byantīhontīti.‘It’s not just me who shall be the owner of my deeds and heir to my deeds. For all sentient beings shall be the owners of their deeds and heirs to their deeds, as long as they come and go, pass away and are reborn.’ When they review this subject often, the path is born in them. They cultivate, develop, and make much of it. By doing so, they give up the fetters and eliminate the underlying tendencies.

12–16Bị bệnh và bị già,
Lại thêm phải bị chết,
Pháp yếu là như vậy,
Hữu tình là như vậy.
Phàm phu sanh nhàm chán,
Thật không hợp cho Ta,
Nếu Ta cũng nhàm chán,
Đối với các chúng sanh,
Cùng chung một số phận.
Trong khi đời sống Ta,
Không khác gì đời họ,
Ta được sống như vậy,
Biết pháp không sanh y,
Kiêu mạn trong không bệnh,
Trong tuổi trẻ sinh mạng,
Tất cả Ta nhiếp phục
Phát xuất từ an ổn,
Ta thấy hạnh viễn ly,
Ta phát tâm dõng mãnh,
Thấy được cảnh Niết-bàn.
Nay Ta không có thể,
Hưởng thọ các dục vọng,
Ta sẽ không thối đọa,
Chứng cứu cánh Phạm hạnh.
Byādhidhammā jarādhammā, atho maraṇadhammino; Yathā dhammā tathā sattā, jigucchanti puthujjanā. Ahañce taṁ jiguccheyyaṁ, evaṁ dhammesu pāṇisu; Na metaṁ patirūpassa, mama evaṁ vihārino. Sohaṁ evaṁ viharanto, ñatvā dhammaṁ nirūpadhiṁ; Ārogye yobbanasmiñca, jīvitasmiñca ye madā. Sabbe made abhibhosmi, Nekkhammaṁ daṭṭhu khemato; Tassa me ahu ussāho, Nibbānaṁ abhipassato. Nāhaṁ bhabbo etarahi, Kāmāni paṭisevituṁ; Anivatti bhavissāmi, Brahmacariyaparāyaṇo”ti. Sattamaṁ.For others, sickness is natural, and so are old age and death. Though this is how their nature is, ordinary people feel disgusted. If I were to be disgusted with creatures whose nature is such, it would not be appropriate for me, since my life is just the same. Living in such a way, I understood the truth without attachments. I mastered all vanities— of health, of youth, and even of life— seeing renunciation as sanctuary. Zeal sprang up in me as I looked to extinguishment. Now I’m unable to indulge in sensual pleasures; there’s no turning back, I’m committed to the spiritual life.”

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 5.57 (Abhiṇhapaccavekkhitabbaṭhāna Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 5.57 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp