Phật Thuyết Như Vậy 30 · Iti 30

Kinh Điều Gây Hối Tiếc

Tapanīya Sutta

Kinh Điều Gây Hối Tiếc nói về hai pháp làm cho một người bị nung nấu: hai ý nghĩ, ý nghĩ rằng bản thân đã không làm điều lành và ý nghĩ rằng bản thân đã làm điều ác.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Người không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở người sợ hãi mà làm điều ác thì bị nung nấu.
  • Người ấy bị nung nấu bởi ý nghĩ rằng bản thân đã không làm điều lành và đã làm điều ác.
  • Người làm thân, khẩu, ý ác hạnh và không làm nghiệp lành thì sau thân hoại mạng chung, với ác trí tuệ, bị sanh vào địa ngục.

Kinh Điều Gây Hối Tiếc thuộc Phật Thuyết Như Vậy, một tập kinh ngắn trong Tiểu Bộ của kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của kinh. Kinh nói với các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia theo Phật, và nêu hai pháp làm cho nung nấu. Kinh mở đầu bằng lời kể lại điều Thế Tôn đã nói và kết bằng bài kệ nói về thân, khẩu, ý ác hạnh và quả của chúng. Một ghi chú về bản dịch: bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu chỉ nêu ý nghĩ thứ hai, còn bản Pāli và bản Anh nêu đủ hai ý nghĩ.

Cấu trúc của kinh đi từ văn xuôi sang kệ. Phần văn xuôi ở đoạn 1.1 đến 2.7 nêu hai pháp gây nung nấu và hai ý nghĩ làm cho người ấy bị nung nấu. Phần kệ ở đoạn 3.1 đến 4.4 liệt kê thân ác hạnh, lời ác và ý ác hạnh, cùng với việc không làm nghiệp lành và làm nhiều điều bất thiện, rồi nói về quả sau khi thân hoại mạng chung.

Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, chữ nung nấu ở đây không chỉ là sự hối hận thoáng qua mà là một trạng thái bứt rứt kéo dài, như lửa âm ỉ trong tâm.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
tapanīya
gây nung nấu, làm cho thiêu đốt trong tâm
kalyāṇa
lành, tốt đẹp
kusala
thiện, khéo léo trong điều thiện
pāpa
ác, xấu ác
niraya
địa ngục, cảnh giới khổ
duppañña
người có trí tuệ xấu ác
kāya
thân
vacī
lời nói
mano
ý
kamma
nghiệp, hành động có tác ý

Kinh Điều Gây Hối Tiếc

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có hai pháp này làm cho nung nấu. Thế nào là hai? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở người sợ hãi, làm điều ác, ngoan cố trong việc làm, làm điều không thiện. Người ấy bị nung nấu bởi ý nghĩ: “Ta đã làm điều ác”. Này các Tỷ-kho, hai pháp này làm cho nung nấu.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Dveme, bhikkhave, dhammā tapanīyā. Katame dve? Idha, bhikkhave, ekacco akatakalyāṇo hoti, akatakusalo, akatabhīruttāṇo, katapāpo, kataluddo, katakibbiso. So ‘akataṁ me kalyāṇan’tipi tappati, ‘kataṁ me pāpan’tipi tappati. Ime kho, bhikkhave, dve dhammā tapanīyā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “These two things, mendicants, are mortifying. What two? It’s when someone hasn’t done good and skillful things that keep them safe, but has done bad things, violence and sin. Thinking, ‘I haven’t done good things’, they’re mortified. Thinking, ‘I have done bad things’, they’re mortified. These are the two things that are mortifying.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Làm xong thân ác hạnh,
Hay nói các lời ác,
Làm xong ý ác hạnh,
Hay bất cứ gì khác
Có liên hệ lỗi lầm.
Không làm các nghiệp lành,
Làm các điều bất thiện,
Khi thân hoại mạng chung,
Người có ác trí tuệ
Bị sanh vào địa ngục.
“Kāyaduccaritaṁ katvā,
vacīduccaritāni ca;
Manoduccaritaṁ katvā,
yañcaññaṁ dosasañhitaṁ.
Akatvā kusalaṁ kammaṁ,
katvānākusalaṁ bahuṁ;
Kāyassa bhedā duppañño,
nirayaṁ sopapajjatī”ti.
“Having done bad things by way of body, speech, and mind, and whatever else is corrupt; not having done good deeds, and having done many bad, when their body breaks up, that witless person is reborn in hell.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Tatiyaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh nêu hai ý nghĩ làm cho nung nấu: ý nghĩ rằng bản thân đã không làm điều lành và ý nghĩ rằng bản thân đã làm điều ác. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hai ý nghĩ này đi đôi vì một đời sống không có việc lành để nương tựa thì dễ trượt sang việc ác, và việc ác lại càng làm cho tâm không còn chỗ yên.

Người ấy bị nung nấu bởi hai ý nghĩ: bản thân đã không làm điều lành và bản thân đã làm điều ác. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, sự nung nấu này không đến từ người khác trách mắng mà đến từ chính trí nhớ của người ấy về điều đã làm và điều đã bỏ qua.

Bài kệ mở rộng điều dạy sang thân, khẩu và ý. Làm thân ác hạnh, nói lời ác, làm ý ác hạnh, hay bất cứ điều gì có liên hệ với lỗi lầm, cùng với việc không làm nghiệp lành và làm nhiều điều bất thiện, đều dẫn về cùng một quả. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, kinh liệt kê cả ba phương diện thân, khẩu, ý để người đọc không nghĩ rằng chỉ hành động bằng tay mới tính là việc làm.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh (không phải lời kinh): chị Lan có lần thấy một người lớn tuổi loạng choạng ngoài chợ mà bước qua vì vội, tối về chị cứ nhớ mãi hình ảnh ấy và thấy bứt rứt, và sự bứt rứt ấy chỉ dịu khi chị tự nhắc bản thân lần sau sẽ dừng lại giúp đỡ.

Bài kệ kết bằng quả sau khi thân hoại mạng chung. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, quả ấy không phải là sự trừng phạt từ bên ngoài mà là sự tiếp nối tự nhiên của một đời sống đã quen với việc ác và xa lạ với việc lành.

Không làm điều lành mà làm điều ác thì chính ý nghĩ về điều đã làm sẽ nung nấu người ấy.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 30 (Tapanīya Sutta, Itivuttaka 30). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 30 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Hai Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp