Phật Thuyết Như Vậy 16 · Iti 16

Kinh Hữu Học Thứ Nhất

Paṭhamasekha Sutta

Đức Phật nói với vị Tỷ-kheo hữu học rằng, trong các nội chi phần, không có chi phần nào nhiều lợi ích bằng như lý tác ý.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Với Tỷ-kheo hữu học đang cầu an ổn vô thượng, không có nội chi phần nào nhiều lợi ích bằng như lý tác ý.
  • Vị Tỷ-kheo như lý tác ý thì từ bỏ bất thiện, tu tập thiện.
  • Kệ: không pháp nào khác nhiều lợi ích như vậy; tinh tấn như lý thì có thể đoạn diệt khổ đau.

Kinh Hữu Học Thứ Nhất (Paṭhamasekha Sutta) là kinh thứ mười sáu, kinh thứ sáu của phẩm thứ hai trong Chương Một Pháp của Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đức Phật nói về vị Tỷ-kheo hữu học (sekha, người còn đang học, tâm chưa thành tựu, đang sống cầu vô thượng an ổn khỏi các triền ách): trong các nội chi phần, Ngài không thấy chi phần nào nhiều lợi ích bằng như lý tác ý (yoniso manasikāra; “chú tâm đúng cách” là cách giải nghĩa của Hoan Hỉ, không phải lời kinh). Vị Tỷ-kheo như lý tác ý thì từ bỏ bất thiện, tu tập thiện. Bài kệ nhắc lại ý ấy.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
sekha
hữu học, người còn đang học
appattamānasa
người tâm chưa thành tựu
yogakkhema
an ổn khỏi các triền ách
ajjhattika aṅga
nội chi phần, yếu tố bên trong
yoniso manasikāra
như lý tác ý; “chú tâm đúng cách” là cách giải nghĩa của Hoan Hỉ
akusala
bất thiện
kusala
thiện
padahaṁ
tinh tấn, nỗ lực

Kinh Hữu Học Thứ Nhất

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, với vị Tỷ-kheo hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các triền ách, sau khi làm thành nội chi phần, Ta không thấy một chi phần nào khác, được nhiều lợi ích như vậy, này các Tỷ-kheo, tức là Như lý tác ý. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tác như lý tác ý, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Sekhassa, bhikkhave, bhikkhuno appattamānasassa anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamānassa viharato ajjhattikaṁ aṅganti karitvā nāññaṁ ekaṅgampi samanupassāmi yaṁ evaṁ bahūpakāraṁ yathayidaṁ, bhikkhave, yoniso manasikāro. Yoniso, bhikkhave, bhikkhu manasi karonto akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāvetī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Taking into account interior factors, mendicants, I do not see a single one that is so very helpful as rational application of mind for a trainee mendicant who hasn’t achieved their heart’s desire, but lives aspiring to the supreme sanctuary from the yoke. A mendicant rationally applying the mind gives up the unskillful and develops the skillful.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Vị Tỷ kheo hữu học,
Hành như lý tác ý,
Không một pháp nào khác,
Nhiều lợi ích như vậy.
Để đạt cho bằng được,
Lợi ích thật tối thượng.
Vị Tỷ kheo như lý,
Tinh tấn và tinh cần,
Có thể thành đạt được,
Sư đoạn diệt khổ đau.
“Yonisomanasikāro,
dhammo sekhassa bhikkhuno;
Natthañño evaṁ bahukāro,
uttamatthassa pattiyā;
Yoniso padahaṁ bhikkhu,
khayaṁ dukkhassa pāpuṇe”ti.
“There is nothing so helpful for a trainee mendicant aspiring for the ultimate goal as rational application of mind. Striving rationally, a mendicant attains the end of suffering.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Chaṭṭhaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh không liệt kê các nội chi phần khác để so sánh. Kinh chỉ nói: trong các nội chi phần, Đức Phật không thấy cái nào nhiều lợi ích bằng như lý tác ý đối với vị Tỷ-kheo hữu học.

Như lý tác ý, trong bài này, đi đôi với hai việc ở câu sau: từ bỏ bất thiện và tu tập thiện. Bài kệ kết bằng ý: tinh tấn như lý thì có thể đạt sự đoạn diệt khổ đau.

Ví dụ đời thường để dễ hình dung (không phải lời kinh): người học nghề, cùng một việc mà chú tâm đúng cách thì tiến nhanh hơn người làm cho xong; so sánh này là của người viết bài, không phải của kinh; kinh chỉ nói về “như lý tác ý” đối với vị Tỷ-kheo hữu học.

Ghi chú về chữ: bài kệ Pāli có sáu dòng, bản Minh Châu dịch thành mười dòng. Dòng cuối trong bản Minh Châu in “Sư đoạn diệt khổ đau”, chữ “Sư” là lỗi in của chữ “Sự”. Phần văn kinh bên dưới giữ nguyên chữ in của bản dịch.

Kinh Hữu Học Thứ Nhất gói lại trong một câu: như lý tác ý là điều Đức Phật nói giúp nhiều nhất cho vị Tỷ-kheo hữu học.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 16 (Paṭhamasekha Sutta, Itivuttaka 16). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 16 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Một Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp