Kinh Kiết Sử Ái
Taṇhāsaṁyojana Sutta
Đức Phật nói không thấy kiết sử nào khác trói chúng sanh lưu chuyển lâu dài như ái kiết sử, kèm bài kệ về người có ái làm bạn và vị Tỷ-kheo bỏ ái.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Không có kiết sử nào khác trói chúng sanh chạy dài, lưu chuyển lâu dài như ái kiết sử.
- Kệ: người có ái làm bạn lưu chuyển thời gian dài, không vượt được lưu chuyển.
- Biết nguy hiểm này, biết ái tác thành khổ, vị Tỷ-kheo bỏ ái, không chấp trước, giữ chánh niệm.
Kinh Kiết Sử Ái (Taṇhāsaṁyojana Sutta) là kinh thứ mười lăm trong Chương Một Pháp của Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Cùng khuôn với kinh Triền Cái Vô Minh đứng trước, bài này nêu một điều Đức Phật không thấy có cái nào hơn: ái (taṇhā) là kiết sử (saṁyojana, sự trói buộc) khiến chúng sanh chạy dài, lưu chuyển trong thời gian dài. Bài kệ nói người có ái làm bạn thì lưu chuyển lâu dài, không vượt được lưu chuyển; ai biết nguy hiểm ấy và biết ái tác thành khổ thì bỏ ái, không chấp trước, sống chánh niệm.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- taṇhā
- ái, sự khao khát, thèm muốn
- saṁyojana
- kiết sử, sự trói buộc
- dīgharattaṁ
- trong thời gian dài
- taṇhādutiya
- người có ái làm bạn
- saṁsāra
- sự lưu chuyển
- ādīnava
- nguy hiểm, mặt tai hại
- vītataṇha
- người đã lìa ái
- anādāna
- không chấp trước, không nắm giữ
- paribbaje
- du hành, đi lang thang như người xuất gia; bản Anh dịch “would wander”
Kinh Kiết Sử Ái
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một kiết sử nào khác, do bị cột bởi kiết sử ấy, chúng sanh trong một thời gian dài, chạy dài, lưu chuyển, này các Tỷ-kheo tức là Ái kiết sử. Này các Tỷ-kheo, bị cột với ái kiết sử, chúng sanh trong một thời gian dài, chạy dài lưu chuyển.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekasaṁyojanampi samanupassāmi yena saṁyojanena saṁyuttā sattā dīgharattaṁ sandhāvanti saṁsaranti yathayidaṁ, bhikkhave, taṇhāsaṁyojanaṁ. Taṇhāsaṁyojanena hi, bhikkhave, saṁyuttā sattā dīgharattaṁ sandhāvanti saṁsarantī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, I do not see a single fetter, fettered by which people wander and transmigrate for a long time like the fetter of craving. Fettered by craving, people wander and transmigrate for a long time.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Người có ái làm bạn,
Thời gian dài, lưu chuyển,
Không vượt được lưu chuyển,
Sanh hữu vậy hay khác.
Ai biết nguy hiểm này,
Biết ái tác thành khổ,
Bỏ ái, không chấp trước,
Tỷ-kheo giữ chánh niệm,
Bỏ gia đình xuất gia,
Sống nếp sống như vậy.“Taṇhādutiyo puriso,
dīghamaddhāna saṁsaraṁ;
Itthabhāvaññathābhāvaṁ,
saṁsāraṁ nātivattati.
Etamādīnavaṁ ñatvā,
Taṇhaṁ dukkhassa sambhavaṁ;
Vītataṇho anādāno,
Sato bhikkhu paribbaje”ti.“Craving is a person’s partner as they transmigrate on this long journey. They go from this state to another, but don’t escape transmigration. Knowing this danger, that craving is the cause of suffering— rid of craving, free of grasping, a mendicant would wander mindful.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Pañcamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh không định nghĩa ái. Trong cách dùng thông thường của Phật học Nam truyền, ái là sự khao khát, thèm muốn; đây là cách hiểu chung, không phải câu trong kinh.
Bài kệ gọi ái là “bạn” của người ấy (theo chữ taṇhādutiyo, “người có ái làm bạn”), rồi nói ngược lại: biết ái là tác nhân của khổ thì bỏ ái. Kinh nêu điều ấy trong kệ, không giảng thêm cách bỏ.
Ví dụ đời thường để dễ hình dung (không phải lời kinh): người luôn muốn có thêm một thứ nữa thì chuyến đi nào cũng thấy thiếu; khi thấy rõ cái thiếu ấy đến từ đâu thì mới nhẹ đi.
Ghi chú về chữ: bản Pāli có 8 dòng, bản dịch Minh Châu có 10 dòng; hai dòng cuối của bản dịch (“Bỏ gia đình xuất gia, Sống nếp sống như vậy”) tương ứng chữ paribbaje. Phần văn kinh bên dưới giữ nguyên chữ in của bản dịch.
Kinh Kiết Sử Ái nói gọn: ái là sợi dây trói lâu dài nhất, thấy rõ nó thì mới bỏ được.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 15 (Taṇhāsaṁyojana Sutta, Itivuttaka 15). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 15 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Một Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.