Phật Thuyết Như Vậy 50 · Iti 50

Kinh Gốc Rễ

Mūla Sutta

Kinh Gốc Rễ nói rõ ba căn bản bất thiện là tham, sân và si, và bài kệ đi kèm nói ba căn này làm hại chính người mang tâm ác độc, như cây giả có lõi là vỏ mà vẫn ra trái.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Tham, sân, si là ba căn bản bất thiện mà kinh nêu ra.
  • Người có tâm ác độc bị chính tham, sân, si làm hại từ bên trong.
  • Bài kệ ví người ấy như cây giả có lõi là vỏ mà vẫn sinh trái.

Kinh Gốc Rễ nằm trong bộ Phật Thuyết Như Vậy, một tập hợp các bài kinh ngắn thuộc kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli. Bài kinh mang số hiệu Iti 50 và mở đầu bằng lời dạy gửi đến các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia trong Tăng đoàn, về ba căn bản bất thiện. Phần văn xuôi nằm ở đoạn 1.1 đến 2.6, bài kệ nằm ở đoạn 3.1 đến 3.4, và lời kết nằm ở đoạn 4.1 đến 4.2.

Chữ akusalamūlaṁ, căn bản bất thiện, chỉ gốc rễ sinh ra hành động bất thiện. Kinh không kể chuyện dài và không nêu tên một người nào, mà đi thẳng vào ba gốc rễ ấy rồi kết bằng một hình ảnh trong bài kệ. Cấu trúc ngắn gọn này giúp bạn nắm được ý chính ngay từ lần đọc đầu.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
lobho
tham
doso
sân
moho
si
akusalamūlaṁ
căn bản bất thiện
bhikkhave
này các Tỷ-kheo
pāpacetasaṁ
người có tâm ác độc
hiṁsanti
làm hại

Kinh Gốc Rễ

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba căn bản bất thiện này. Thế nào là ba? Tham là căn bản bất thiện; Sân là căn bản bất thiện; Si là căn bản bất thiện. Này các Tỷ-kheo, có ba căn bản bất thiện này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tīṇimāni, bhikkhave, akusalamūlāni. Katamāni tīṇi? Lobho akusalamūlaṁ, doso akusalamūlaṁ, moho akusalamūlaṁ— imāni kho, bhikkhave, tīṇi akusalamūlānī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, there are these three unskillful roots. What three? Greed, hate, and delusion. These are the three unskillful roots.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Tham, sân, si làm hại,
Người có tâm ác độc,
Họ tự mình hiện hữu,
Như giả từ lõi, vỏ.
“Lobho doso ca moho ca,
purisaṁ pāpacetasaṁ;
Hiṁsanti attasambhūtā,
tacasāraṁva samphalan”ti.
“When greed, hate, and delusion, have arisen inside oneself, they harm a person of wicked heart, as a bamboo is destroyed by its own fruit.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Paṭhamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh nêu tham, sân, si không phải như ba điều xấu rời rạc mà như ba gốc rễ, và gốc rễ thì nuôi lớn những hành động bất thiện về sau. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, một hành động bất thiện thường không tự sinh ra mà lớn lên từ một trong ba gốc này, nên nhìn vào gốc giúp bạn thấy sớm hơn là chỉ nhìn vào hành động đã thành.

Bài kệ nói tham, sân, si làm hại người có tâm ác độc, và người ấy tự hiện hữu như cây giả từ lõi, vỏ. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hình ảnh này nói sự hại không đến từ bên ngoài mà đến từ chính gốc rễ đang nuôi trong tâm, nên người mang gốc ấy chịu hại trước hết từ gốc của chính người ấy.

Ví dụ của người viết (không phải lời kinh), không phải chuyện trong kinh: một người bán hàng vì tham mà cân thiếu cho khách, rồi vì sợ bị phát hiện mà nói dối thêm, cuối cùng mất khách quen và mất lòng tin, và thiệt hại ấy bắt đầu từ lòng tham ban đầu chứ không bắt đầu từ lời nói dối về sau.

Kinh không dạy cách trừ ba gốc bằng một nghi lễ hay một lời cầu xin, và bài này cũng không thêm điều ấy. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, thấy rõ gốc rễ đang hoạt động là bước đầu để không nuôi nó thêm, còn việc đoạn tận là con đường dài mà các bài kinh khác trong cùng bộ sẽ nói thêm.

Tham, sân, si là ba gốc bất thiện, và thấy rõ gốc là cách để không nuôi lớn thêm hại.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 50 (Mūla Sutta, Itivuttaka 50). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 50 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp