Kinh Hatthaka
Hatthaka Sutta
Một đêm đông lạnh buốt, chỉ có tấm thảm lá mỏng trải trên đất, Đức Phật vẫn nói: Ta ngủ ngon. Bài kinh giải thích điều gì thật sự làm người ta mất ngủ.
Trước khi đọc kinh
Kinh Hatthaka thuộc Tăng Chi Bộ, phần Ba Pháp. Một ngày mùa đông ở Āḷavī, vương tử Hatthaka đi dạo và thấy Đức Thế Tôn ngồi trên tấm thảm lá trải bên lối bò đi, trong rừng cây (đoạn 1.3). Ông hỏi Ngài đêm qua ngủ có ngon không, và Ngài đáp: có, ở đời nếu có ai ngủ ngon thì Ta là một người như thế (đoạn 1.5–1.7). Hatthaka ngạc nhiên, vì ông thấy rõ hoàn cảnh: đêm đông giá rét, đất cứng bị móng bò giẫm nát, thảm lá mỏng, lá trên cây thưa, y thì lạnh, gió buốt thổi tứ phía (đoạn 2.1).
Đức Phật không tranh luận mà hỏi lại. Hãy hình dung một người giàu ở trong ngôi nhà kín gió, giường trải thảm êm, có màn che, gối đỏ, đèn dầu sáng, bốn người vợ hầu hạ đủ điều vừa ý (đoạn 3.2–3.5). Người ấy có ngủ ngon không? Hatthaka đáp: có (đoạn 3.8). Nhưng rồi Đức Phật hỏi tiếp: có thể nào nơi người ấy khởi lên những cơn nóng bức do tham sinh ra, nơi thân hay nơi tâm, khiến người ấy bị thiêu đốt và ngủ không yên chăng? Hatthaka thừa nhận là có thể (đoạn 4.2–4.3). Cũng vậy với sân và si (đoạn 6.2–6.4).
Đó là điểm mấu chốt của bài kinh: điều làm người ta mất ngủ không phải chiếc giường mà là ngọn lửa trong lòng. Tham, sân, si đã được Như Lai đoạn trừ tận gốc, như cây thốt nốt bị chặt ngọn không thể mọc lại, vì thế Ngài ngủ ngon (đoạn 5.1–5.2, 7.1–7.2). Hai bài kệ kết nói rằng người đã cắt đứt mọi sợi dây đeo bám, dẹp yên nỗi bất an trong lòng, thì ngủ an lành vì tâm đã đạt được bình yên (đoạn 9.1–9.4). Với những đêm bạn trằn trọc vì lo toan, bài kinh này là một gợi ý để nhìn vào bên trong thay vì chỉ thay đổi bên ngoài.
Ý chính
- Dù đêm đông giá rét, nằm trên thảm lá mỏng, Đức Phật vẫn ngủ ngon (1.6–2.1).
- Người giàu trên giường êm vẫn có thể mất ngủ vì những cơn nóng bức do tham (3.2–4.3).
- Sân và si cũng thiêu đốt, khiến người ta ngủ không yên (6.2–6.4).
- Như Lai đã đoạn tận gốc tham, sân, si, như cây thốt nốt bị chặt ngọn (5.1, 7.1).
- Người không bị dục lạc làm vấy bẩn, mát dịu, lúc nào cũng ngủ an lành (8.1–8.4).
- Dẹp yên nỗi bất an trong lòng, tâm đạt bình yên thì ngủ an lành (9.1–9.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- sukhaṁ seti
- ngủ an lành, sống an ổn
- pariḷāha
- cơn nóng bức, sự thiêu đốt
- rāga
- tham, tham ái
- dosa
- sân
- moha
- si
- tālāvatthukata
- như cây thốt nốt bị chặt ngọn, không thể mọc lại
- parinibbuta
- đã hoàn toàn tịch diệt
- upadhi
- chỗ bám víu, sinh y
Kinh Hatthaka
1Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Alavì, tại Gomagga, trong rừng Simsapà, trên chỗ có trải lá.
Rồi Hatthaka, người Alavì, đang đi bộ hàng du ngoạn, thấy Thế Tôn đang ngồi trên chỗ có trải lá trong rừng Simsapà ở Gomagga, thấy vậy, liền đi đến Thế Tôn; sau khi đi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Hatthaka người Alavì bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sống có an lạc không?
—Phải, này Hoàng Tử, ta sống được an lạc. Và những ai cảm thấy an lạc ở đời, Ta là một trong số những người ấy.Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā āḷaviyaṁ viharati gomagge siṁsapāvane paṇṇasanthare. Atha kho hatthako āḷavako jaṅghāvihāraṁ anucaṅkamamāno anuvicaramāno addasa bhagavantaṁ gomagge siṁsapāvane paṇṇasanthare nisinnaṁ. Disvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho hatthako āḷavako bhagavantaṁ etadavoca: “kacci, bhante bhagavā, sukhamasayitthā”ti? “Evaṁ, kumāra, sukhamasayitthaṁ. Ye ca pana loke sukhaṁ senti, ahaṁ tesaṁ aññataro”ti.So I have heard. At one time the Buddha was staying near Āḷavī, on a mat of leaves by a cow-path in a rosewood grove. Then as Hatthaka of Āḷavī was going for a walk he saw the Buddha sitting on that mat of leaves. He went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said, “Sir, I trust the Buddha slept well?” “Yes, prince, I slept well. I am one of those who sleep at ease in the world.”
2—Bạch Thế Tôn, lạnh là đêm mùa đông, thời gian giữa những ngày tám (trước và sau ngày rằm) là thời gian tuyết rơi, cứng rắn là đất do trâu bò dẫm đạp, mỏng manh là nệm làm bằng lá, lưa thưa là những lá của cây, lạnh là tấm vải cà sa, và lạnh là làn gió thổi.
Rồi Thế Tôn nói như sau:“Sītā, bhante, hemantikā ratti, antaraṭṭhako himapātasamayo, kharā gokaṇṭakahatā bhūmi, tanuko paṇṇasantharo, viraḷāni rukkhassa pattāni, sītāni kāsāyāni vatthāni, sīto ca verambho vāto vāyati. Atha ca pana bhagavā evamāha: ‘evaṁ, kumāra, sukhamasayitthaṁ. Ye ca pana loke sukhaṁ senti, ahaṁ tesaṁ aññataro’”ti.“The winter nights are cold, sir, and it’s the week of mid-winter, when the snow falls. Rough is the ground trampled under the cows’ hooves, and thin is the mat of leaves. The leaves are sparse on the trees, the ocher robes are cold, and cold blows the north wind. And yet the Buddha says, ‘Yes, prince, I slept well. I am one of those who sleep at ease in the world.’”
3—Dẫu vậy, này Hoàng Tử, Ta sống được an lạc. Và những ai cảm thấy an lạc ở đời, Ta là một trong số những người ấy. Vậy nay, này Hoàng Tử, ở đây ta sẽ hỏi Hoàng Tử, nếu có thể kham nhẫn, Hoàng Tử hãy trả lời. Hoàng Tử nghĩ thế nào, này Hoàng Tử? Ở đây, người gia chủ hay con người gia chủ có nhà có nóc nhọn, với các tường trét trong trét ngoài, che chở khỏi gió, chốt cửa được khóa chặt, các cửa sổ được đóng kín. Trong ấy, có một chỗ nằm có trải tấm thảm len với lông dài, với tấm vải giường bằng len trắng, chăn len thêu bông, nệm bằng da quý con sơn dương kadali, tấm thảm có tàn che phía trên và gối nệm đỏ cả hai đầu, có đèn thắp đỏ và bốn bà vợ đẹp hầu hạ. Này Hoàng Tử, Hoàng Tử nghĩ thế nào, người ấy nằm ngủ có an lạc không? Hay Hoàng Tử nghĩ thế nào?
—Bạch Thế Tôn, người ấy nằm ngủ an lạc. Nếu có những người cảm thấy an lạc ở đời, người ấy là một trong những người ấy.“Tena hi, kumāra, taññevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi. Taṁ kiṁ maññasi, kumāra, idhassa gahapatissa vā gahapatiputtassa vā kūṭāgāraṁ ullittāvalittaṁ nivātaṁ phusitaggaḷaṁ pihitavātapānaṁ. Tatrassa pallaṅko gonakatthato paṭikatthato paṭalikatthato kadalimigapavarapaccattharaṇo sauttaracchado ubhato lohitakūpadhāno; telappadīpo cettha jhāyeyya; catasso ca pajāpatiyo manāpāmanāpena paccupaṭṭhitā assu. Taṁ kiṁ maññasi, kumāra, sukhaṁ vā so sayeyya no vā? Kathaṁ vā te ettha hotī”ti? “Sukhaṁ so, bhante, sayeyya. Ye ca pana loke sukhaṁ senti, so tesaṁ aññataro”ti.“Well then, prince, I’ll ask you about this in return, and you can answer as you like. What do you think? Take the case of a householder or his son, who lives in a bungalow, plastered inside and out, draft-free, with door fastened and window shuttered. His couch is spread with woolen covers—shag-piled, pure white, or embroidered with flowers—and spread with a fine deer hide. It has a canopy above and red pillows at both ends. An oil lamp is burning there, while his four wives attend to him in all manner of agreeable ways. What do you think, prince, would he sleep at ease, or not? Or how do you see this?” “He would sleep at ease, sir. Of those who sleep at ease in the world, he would be one.”
4—Hoàng Tử nghĩ thế nào, này Hoàng tử, với người gia chủ hay người con của người gia chủ ấy, khởi lên những nhiệt não về thân hay về tâm, do tham ái sanh. Bị nung đốt bởi những nhiệt não do tham ái sanh, người ấy có cảm thấy đau khổ không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.“Taṁ kiṁ maññasi, kumāra, api nu tassa gahapatissa vā gahapatiputtassa vā uppajjeyyuṁ rāgajā pariḷāhā kāyikā vā cetasikā vā yehi so rāgajehi pariḷāhehi pariḍayhamāno dukkhaṁ sayeyyā”ti? “Evaṁ, bhante”ti.“What do you think, prince? Is it not possible that a fever born of greed—physical or mental—might arise in that householder or householder’s son, burning him so he sleeps badly?” “Yes, sir.”
5—Người gia chủ hay con của người gia chủ ấy, này Hoàng Tử, bị nung đốt bởi những nhiệt não do tham ái sanh, cảm thấy đau khổ. Tham ái ấy, Như Lai đã đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy ta cảm thấy an lạc.“Yehi kho so, kumāra, gahapati vā gahapatiputto vā rāgajehi pariḷāhehi pariḍayhamāno dukkhaṁ sayeyya, so rāgo tathāgatassa pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo. Tasmāhaṁ sukhamasayitthaṁ.“The greed that burns that householder or householder’s son, making them sleep badly, has been cut off at the root by the Realized One, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future. That’s why I sleep at ease.
6Hoàng Tử nghĩ thế nào, này Hoàng Tử, với người gia chủ hay con của người gia chủ ấy, khởi lên những nhiệt não về thân hay tâm do sân sanh … do si sanh. Bị nung đốt bởi những nhiệt não do si sanh, người ấy có cảm thấy đau khổ không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.Taṁ kiṁ maññasi, kumāra, api nu tassa gahapatissa vā gahapatiputtassa vā uppajjeyyuṁ dosajā pariḷāhā …pe… mohajā pariḷāhā kāyikā vā cetasikā vā yehi so mohajehi pariḷāhehi pariḍayhamāno dukkhaṁ sayeyyā”ti? “Evaṁ, bhante”ti.What do you think, prince? Is it not possible that a fever born of hate … or a fever born of delusion—physical or mental—might arise in that householder or householder’s son, burning him so he sleeps badly?” “Yes, sir.”
7—Người gia chủ hay con của người gia chủ ấy, này Hoàng Tử, bị nung đốt bởi những nhiệt não do si sanh, cảm thấy đau khổ. Si ấy, Như Lai đã đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy ta cảm thấy an lạc.“Ye hi kho so, kumāra, gahapati vā gahapatiputto vā mohajehi pariḷāhehi pariḍayhamāno dukkhaṁ sayeyya, so moho tathāgatassa pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo. Tasmāhaṁ sukhamasayitthanti.“The delusion that burns that householder or householder’s son, making them sleep badly, has been cut off at the root by the Realized One, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future. That’s why I sleep at ease.
8–9Luôn luôn được an lạc,
Vi phạm chí tịch tịnh
Không bị dục uế nhiễm
Trong mát, không sanh y,
Mọi tham trước dứt đoạn,
Nhiếp phục tâm sầu khổ,
An tịnh, cảm thọ lạc
Với tâm đạt an tịnh.Sabbadā ve sukhaṁ seti, brāhmaṇo parinibbuto; Yo na limpati kāmesu, sītibhūto nirūpadhi. Sabbā āsattiyo chetvā, vineyya hadaye daraṁ; Upasanto sukhaṁ seti, santiṁ pappuyya cetaso”ti. Pañcamaṁ.A brahmin who is fully quenched always sleeps at ease. Sensual pleasures slip off them, they’re cooled, free of attachments. Since they’ve cut off all clinging, and removed the stress from the heart, the peaceful sleep at ease, having found peace of mind.”
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 3.35 (Hatthaka Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 3.35 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.