Kinh Tập 1.7 · Snp 1.7

Kinh Kẻ Bần Tiện

Vasala Sutta

Còn gọi là: Kinh Người Bần Tiện, Kinh Vasala, Kinh Tập 1.7

Một Bà-la-môn quát Đức Phật là “đồ bần tiện”. Đức Phật bình thản hỏi lại: ông có biết thế nào mới thật là kẻ bần tiện không?

Trước khi đọc kinh

Kinh Kẻ Bần Tiện (Vasala Sutta) là bài kinh thứ bảy trong phẩm đầu của Kinh Tập, Tiểu Bộ. Chữ vasala thời ấy là một lời miệt thị, chỉ người thuộc giai cấp thấp kém. Câu chuyện xảy ra khi Đức Thế Tôn đi khất thực ở Sāvatthī và đến nhà Bà-la-môn Aggika Bhāradvāja, người thờ lửa, đúng lúc ông vừa nhóm lửa tế (đoạn 1.4–1.5). Thấy Đức Phật từ xa, ông quát: “Đứng lại đó, ông trọc đầu! Đứng lại đó, ông Sa-môn hèn mọn! Đứng lại đó, đồ bần tiện!” (đoạn 2.3–2.5). Đức Phật không đáp trả bằng lời nặng. Ngài hỏi: ông có biết thế nào là kẻ bần tiện, và những pháp nào làm cho một người thành kẻ bần tiện không (đoạn 3.2)?

Câu trả lời là một chuỗi bài kệ, mỗi bài kết bằng câu “hãy biết đó là kẻ bần tiện”. Kẻ bần tiện là người hay giận, ôm hận, dối trá (kệ 4), làm hại sinh mạng (kệ 5), trộm của người (kệ 7), vay nợ rồi chối (kệ 8), làm chứng gian (kệ 10), có đủ sức mà không phụng dưỡng cha mẹ già (kệ 12), đánh mắng người thân trong nhà (kệ 13), làm ác rồi che giấu (kệ 15), được người đãi ăn mà không đáp lễ (kệ 16), tự đề cao mình, khinh rẻ người (kệ 20), không biết hổ thẹn, không biết ghê sợ điều ác (kệ 21). Hạng thấp kém nhất là kẻ chưa là A-la-hán mà tự xưng là A-la-hán (kệ 23).

Rồi đến hai câu làm nên tên tuổi bài kinh: không phải do sinh ra mà thành kẻ bần tiện, không phải do sinh ra mà thành Bà-la-môn; do hành động mà thành kẻ bần tiện, do hành động mà thành Bà-la-môn (kệ 24, kệ 30). Đức Phật dẫn chuyện Mātaṅga, người con của giới Caṇḍāla bị xem là thấp nhất, mà vẫn được nhiều người Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn tìm đến phụng sự và sinh về cõi Phạm thiên (kệ 25–27); trong khi có những Bà-la-môn sinh trong dòng tụng đọc vẫn làm việc ác và bị chê trách (kệ 28–29). Hiểu đúng bài kinh: Đức Phật không thay một bảng xếp hạng con người bằng một bảng khác, mà chỉ ra rằng giá trị của một người nằm ở việc người ấy làm. Bà-la-môn nghe xong đã xin quy y (đoạn 31.3).

Ý chính

  • Lời quát “đồ bần tiện” được đáp lại bằng một câu hỏi bình thản (2.5, 3.2).
  • Giận dữ, ôm hận, dối trá làm nên kẻ bần tiện (kệ 4).
  • Có sức mà không phụng dưỡng cha mẹ già cũng là kẻ bần tiện (kệ 12).
  • Làm ác rồi mong không ai biết, che giấu việc mình làm (kệ 15).
  • Không phải do sinh ra, mà do hành động mà thành kẻ bần tiện hay Bà-la-môn (kệ 24, 30).
  • Chuyện Mātaṅga: dòng dõi không ngăn được người tốt lên cõi lành (kệ 25–27).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
vasala
kẻ bần tiện, kẻ hạ tiện
jāti
sự sinh ra, dòng dõi
kamma
hành động, nghiệp
upanāhī
người ôm hận
māyāvī
người dối trá, lừa gạt
hiri-ottappa
hổ thẹn và ghê sợ điều ác
caṇḍāla
giới bị xem là thấp nhất trong xã hội Ấn Độ xưa
brāhmaṇa
Bà-la-môn

Kinh Kẻ Bần Tiện

1–2Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvathi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Lúc bấy giờ, tại trú xứ của Bà-la-môn Aggikabhàradvàja, lửa tế lễ được đốt cháy, đồ cúng dường được dâng cao. Rồi Thế Tôn, trong khi thứ lớp khất thực ở Sàvatthi, đi đến trú xứ của Bà-la-môn Aggibhàradvàja. Bà-la-môn Aggibhàradvàja thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy bèn nói với Thế Tôn:

- Ở đây kẻ trọc đầu, ở đây kẻ Sa-môn ti tiện, ở đây kẻ bần tiện, hãy đứng lại.
Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi. Tena kho pana samayena aggikabhāradvājassa brāhmaṇassa nivesane aggi pajjalito hoti āhuti paggahitā. Atha kho bhagavā sāvatthiyaṁ sapadānaṁ piṇḍāya caramāno yena aggikabhāradvājassa brāhmaṇassa nivesanaṁ tenupasaṅkami. Addasā kho aggikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna bhagavantaṁ etadavoca: “tatreva, muṇḍaka; tatreva, samaṇaka; tatreva, vasalaka, tiṭṭhāhī”ti.So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Sāvatthī for alms. Now at that time in the brahmin Bhāradvāja the Fire-Worshiper’s home the sacred flame had been kindled and the oblation prepared. Wandering indiscriminately for almsfood in Sāvatthī, the Buddha approached Bhāradvāja the Fire-Worshiper’s house. Bhāradvāja the Fire-Worshiper saw the Buddha coming off in the distance and said to him, “Stop right there, shaveling! Right there, fake ascetic! Right there, lowlife!”

3Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Aggibhàradvàja:

- Này Bà-la-môn, Người có biết người bần tiện hay những pháp tạo ra kẻ bần tiện không?

- Này Tôn giả Gotama, tôi không biết kẻ bần tiện hay những pháp tạo ra kẻ bần tiện. Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp như thế nào cho tôi, để tôi được biết về kẻ bần tiện hay các pháp tạo thành kẻ bần tiện.

- Vậy này Bà-la-môn, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

- Thưa vâng, Tôn giả!

Bà-la-môn Aggibhàradvàja vâng đáp Thế Tôn.
Evaṁ vutte, bhagavā aggikabhāradvājaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca: “jānāsi pana tvaṁ, brāhmaṇa, vasalaṁ vā vasalakaraṇe vā dhamme”ti? “Na khvāhaṁ, bho gotama, jānāmi vasalaṁ vā vasalakaraṇe vā dhamme; sādhu me bhavaṁ gotamo tathā dhammaṁ desetu, yathāhaṁ jāneyyaṁ vasalaṁ vā vasalakaraṇe vā dhamme”ti. “Tena hi, brāhmaṇa, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bho”ti kho aggikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:When he said this, the Buddha said to him, “But brahmin, do you know what is a lowlife or what are the qualities that make you a lowlife?” “No I do not, worthy Gotama. Please, worthy Gotama, teach me this matter so I can understand what is a lowlife or what are the qualities that make you a lowlife.” “Well then, brahmin, listen and apply your mind well, I will speak.” “Yes, worthy sir,” Bhāradvāja the Fire-Worshiper replied. The Buddha said this:

4Thế Tôn nói như sau:

Người phẫn nộ, hiềm hận,
Ác nhân, gièm pha người,
Ác tà kiến, man trá,
Được biết là bần tiện.
“Kodhano upanāhī ca, pāpamakkhī ca yo naro; Vipannadiṭṭhi māyāvī, taṁ jaññā vasalo iti.“Irritable and acrimonious, wicked and offensive, a man deficient in view, deceitful: know him as a lowlife.

5Ai ở đây hại vật,
Một sanh, hoặc hai sanh,
Không thương xót hữu tình,
Được biết là bần tiện.
Ekajaṁ vā dvijaṁ vāpi, yodha pāṇaṁ vihiṁsati; Yassa pāṇe dayā natthi, taṁ jaññā vasalo iti.He harms living creatures born of womb or of egg, and has no kindness for creatures: know him as a lowlife.

6Ai làm hại vây hãm,
Các làng, các thị trấn,
Kẻ cướp đoạt có tiếng,
Được biết là kẻ bần tiện.
Yo hanti parirundhati, gāmāni nigamāni ca; Niggāhako samaññāto, taṁ jaññā vasalo iti.He destroys and devastates villages and towns, a notorious oppressor: know him as a lowlife.

7Tại làng hay tại rừng,
Vật sở hữu của người,
Lấy trộm của không cho,
Được biết là kẻ bần tiện.
Gāme vā yadi vā raññe, yaṁ paresaṁ mamāyitaṁ; Theyyā adinnamādeti, taṁ jaññā vasalo iti.Whether in village or wilderness, he steals what belongs to others, taking what has not been given: know him as a lowlife.

8Ai vay nợ của người,
Bị đòi liền trốn tránh,
Ta đâu mắc nợ ngươi,
Được biết là kẻ bần tiện.
Yo have iṇamādāya, cujjamāno palāyati; Na hi te iṇamatthīti, taṁ jaññā vasalo iti.Having fallen into debt, when pressed to pay up he flees, saying ‘I don’t owe you anything!’: know him as a lowlife.

9Ai vì ham vật mọn,
Kẻ đang đi trên đường,
Giết hại cướp vật mọn,
Được biết là kẻ bần tiện.
Yo ve kiñcikkhakamyatā, panthasmiṁ vajantaṁ janaṁ; Hantvā kiñcikkhamādeti, taṁ jaññā vasalo iti.Wanting some item or other, he attacks a person in the street and takes it: know him as a lowlife.

10Ai vì mình, vì người,
Hay vì nhân tài sản,
Làm nhân họ nói láo,
Được biết là kẻ bần tiện.
Attahetu parahetu, dhanahetu ca yo naro; Sakkhipuṭṭho musā brūti, taṁ jaññā vasalo iti.For his own sake or the sake of another, or for the sake of wealth, a man tells a lie when asked to bear witness: know him as a lowlife.

11Ai được thấy giữa vợ
Của bà con, bạn thân,
Ép buộc hay ưng thuận,
Được biết là kẻ bần tiện.
Yo ñātīnaṁ sakhīnaṁ vā, dāresu paṭidissati; Sāhasā sampiyena vā, taṁ jaññā vasalo iti.He is spied among the partners of relatives and friends, by force or seduction: know him as a lowlife.

12Ai với mẹ hay cha,
Già yếu, tuổi trẻ qua,
Tuy giàu không giúp đỡ,
Được biết là kẻ bần tiện.
Yo mātaraṁ pitaraṁ vā, jiṇṇakaṁ gatayobbanaṁ; Pahu santo na bharati, taṁ jaññā vasalo iti.Though able, he does not look after his mother and father when elderly, past their prime: know him as a lowlife.

13Ai với mẹ hay cha,
Với anh chị, nhạc mẫu,
Làm hại, dùng lời mắng,
Được biết là kẻ bần tiện.
Yo mātaraṁ pitaraṁ vā, Bhātaraṁ bhaginiṁ sasuṁ; Hanti roseti vācāya, Taṁ jaññā vasalo iti.He hits or verbally abuses his mother or father, brother, sister, or mother-in-law: know him as a lowlife.

14Ai được hỏi mục đích,
Lại khuyên lời trái đích,
Khuyên bảo nên che đậy,
Được biết là kẻ bần tiện.
Yo atthaṁ pucchito santo, Anatthamanusāsati; Paṭicchannena manteti, Taṁ jaññā vasalo iti.When asked about the good, he teaches what is bad, giving secretive advice: know him as a lowlife.

15Ai làm các nghiệp ác,
Muốn không biết mình làm,
Ai làm hạnh che đậy,
Được biết là kẻ bần tiện.
Yo katvā pāpakaṁ kammaṁ, Mā maṁ jaññāti icchati; Yo paṭicchannakammanto, Taṁ jaññā vasalo iti.Having done a bad deed, he wishes, ‘May no one find me out!’ His deeds are underhand: know him as a lowlife.

16Ai đến nhà người khác,
Ăn món ăn ngon lành,
Lại không đáp lễ lại,
Được biết là bần tiện.
Yo ve parakulaṁ gantvā, Bhutvāna sucibhojanaṁ; Āgataṁ nappaṭipūjeti, Taṁ jaññā vasalo iti.When visiting another family he eats their delicious food, but does not return the honor: know him as a lowlife.

17Ai nói dối lường gạt,
Sa-môn, Bà-la-môn,
Hay các người nghèo khác,
Được biết là bần tiện.
Yo brāhmaṇaṁ samaṇaṁ vā, Aññaṁ vāpi vanibbakaṁ; Musāvādena vañceti, Taṁ jaññā vasalo iti.He deceives with lies ascetics and brahmins and other supplicants: know him as a lowlife.

18Dùng lời mắng, không cho,
Sa-môn, Bà-la-môn,
Khi thời ăn uống đến,
Được biết là bần tiện.
Yo brāhmaṇaṁ samaṇaṁ vā, Bhattakāle upaṭṭhite; Roseti vācā na ca deti, Taṁ jaññā vasalo iti.When time comes to offer a meal to brahmins or ascetics, he abuses them and does not give: know him as a lowlife.

19Ở đời nói không thật,
Bị si mê che đậy,
Tham cầu chút lợi nhỏ,
Được biết là bần tiện.
Asataṁ yodha pabrūti, Mohena paliguṇṭhito; Kiñcikkhaṁ nijigīsāno, Taṁ jaññā vasalo iti.He talks about what never happened, being wrapped up in delusion, chasing after some item or other: know him as a lowlife.

20Ai đề cao tự ngã,
Khi miệt giá trị người,
Hạ mình với tự cao,
Được biết là bần tiện.
Yo cattānaṁ samukkaṁse, Pare ca mavajānāti; Nihīno sena mānena, Taṁ jaññā vasalo iti.He extols himself and disparages others, brought down by his pride: know him as a lowlife.

21Ai gây hấn, hà tiện,
Ác dục và xan tham,
Xảo quyệt, không tàm quí,
Được biết là bần tiện.
Rosako kadariyo ca, Pāpiccho maccharī saṭho; Ahiriko anottappī, Taṁ jaññā vasalo iti.He’s a bully and a miser, of corrupt wishes, stingy, and devious, shameless, imprudent: know him as a lowlife.

22Ai phỉ báng đức Phật,
Hay đệ tử của Ngài,
Hàng xuất gia, tại gia,
Được biết là bần tiện.
Yo buddhaṁ paribhāsati, Atha vā tassa sāvakaṁ; Paribbājaṁ gahaṭṭhaṁ vā, Taṁ jaññā vasalo iti.He insults the Buddha or his disciple, whether lay or renunciate: know him as a lowlife.

23Ai không phải La-hán,
Tự nhận là La-hán,
Kẻ trộm Phạm thiên giới,
Chính tối hạ bần tiện.
Những hàng bần tiện này,
Ta nói rõ cho Ông.
Yo ve anarahaṁ santo, Arahaṁ paṭijānāti; Coro sabrahmake loke, Eso kho vasalādhamo; Ete kho vasalā vuttā, Mayā yete pakāsitā.He claims to be a perfected one, when he really is no such thing. In the world with its divinities, that crook is truly the lowest lowlife. These who are called lowlifes I have revealed to you.

24Bần tiện không vì sanh,
Phạm chí không vì sanh,
Do hành, thành bần tiện,
Do hành, thành Phạm chí.
Na jaccā vasalo hoti, Na jaccā hoti brāhmaṇo; Kammunā vasalo hoti, Kammunā hoti brāhmaṇo.You’re not a lowlife by birth, nor by birth are you a brahmin. You’re a lowlife by your deeds, by deeds you’re a brahmin.

25Do đây, nên hiểu biết,
Như Ta trình bày rõ,
Màtanga được danh,
Bần tiện, ăn thịt chó.
Tadamināpi jānātha, Yathāmedaṁ nidassanaṁ; Caṇḍālaputto sopāko, Mātaṅgo iti vissuto.And also you should know according to this example. A corpse-worker’s son of the dog-eating caste became renowned as Mātaṅga.

26–27Danh tối thượng khó đạt,
Màtanga đạt được,
Nhiều Sát-ly, Phạm chí,
Đến hầu hạ vị ấy.
139. Vị ấy leo thiên xa,
Trên đường lớn không bụi,
Từ bỏ mọi dục tham,
Đạt được Phạm thiên giới,
Thọ sanh không ngăn chận,
Vị ấy sanh Phạm thiên.
So yasaṁ paramaṁ patto, Mātaṅgo yaṁ sudullabhaṁ; Āgacchuṁ tassupaṭṭhānaṁ, Khattiyā brāhmaṇā bahū. Devayānaṁ abhiruyha, Virajaṁ so mahāpathaṁ; Kāmarāgaṁ virājetvā, Brahmalokūpago ahu; Na naṁ jāti nivāresi, Brahmalokūpapattiyā.Mātaṅga achieved the highest fame so very hard to find. Lots of aristocrats and brahmins came to serve him. He ascended the stainless highway that leads to the heavens; having discarded sensual desire, he was reborn in a realm of divinity. His birth did not prevent him from rebirth in the realm of divinity.

28Có những Bà-la-môn,
Sanh gia đình Đạo sư,
Hay sanh những gia đình
Quyến thuộc với bùa chú,
Họ vẫn thường được thấy,
Làm các điều ác nghiệp,
Ajjhāyakakule jātā, Brāhmaṇā mantabandhavā; Te ca pāpesu kammesu, Abhiṇhamupadissare.Those born in a brahmin family who recite as kinsmen of the hymns, are often discovered in the midst of wicked deeds.

29Hiện tại bị khinh miệt,
Đời sau sanh ác thú,
Thọ sanh không ngăn chận,
Sanh ác thú đáng khinh.
Diṭṭheva dhamme gārayhā, Samparāye ca duggati; Na ne jāti nivāreti, Duggatyā garahāya vā.Blameworthy in this very life, and in lives to come, a bad destination. Their birth does not prevent them from blame or bad destiny.

30Bần tiện không vì sanh,
Phạm chí không vì sanh,
Do hành thành bần tiện,
Do hành thành Phạm chí.
Na jaccā vasalo hoti, Na jaccā hoti brāhmaṇo; Kammunā vasalo hoti, Kammunā hoti brāhmaṇo”ti.You’re not a lowlife by birth, nor by birth are you a brahmin. You’re a lowlife by your deeds, by deeds you’re a brahmin.”

31Khi được nói vậy, Bà-la-môn Bhàradvàja bạch Thế Tôn:

- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, ví như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, mở toang ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Pháp được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày. Con nay qui y Tôn giả Gotama, qui y Pháp và qui y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời qui ngưỡng.
Evaṁ vutte, aggikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho gotama …pe… upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti. Vasalasuttaṁ sattamaṁ.When he had spoken, the brahmin Bhāradvāja the Fire-Worshiper said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”

Viết bởi Chánh Tín

Nguồn trích dẫn

  1. Kinh Tập 1.7 (Vasala Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 1.7 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp