Phật Thuyết Như Vậy 93 · Iti 93

Kinh Lửa

Aggi Sutta

Kinh Lửa nói ba ngọn lửa tham, sân, si đốt cháy con người, và dạy cách làm lắng dịu từng ngọn lửa để đi đến sự diệt tận của sanh.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Lửa tham đốt cháy người say mê trong các dục, lửa sân đốt cháy người sân hận, lửa si đốt cháy người mê muội.
  • Người không biết rõ ba loại lửa thì làm lớn mạnh cảnh địa ngục, bàng sanh, A-tu-la và quỷ đói.
  • Người học lời dạy của bậc Chánh đẳng Chánh giác làm lắng dịu ba ngọn lửa và đi đến sự diệt tận của sanh.

Kinh Lửa là bài kinh số 93 trong tập Phật Thuyết Như Vậy, tức bản dịch tiếng Việt của tập kinh Itivuttaka trong kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của bộ kinh. Kinh mở đầu bằng lời kể rằng điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và người kể đã được nghe.

Kinh gồm một khối liền, mở đầu bằng câu nêu ba loại lửa là lửa tham, lửa sân và lửa si. Phần còn lại là bài kệ dài, nói về tác hại của ba ngọn lửa, về các cảnh mà người không biết rõ ba ngọn lửa sẽ đi đến, và về cách làm lắng dịu từng ngọn lửa để đi đến sự diệt tận của sanh. Bài kệ cũng nhắc đến người ngày đêm chú tâm học lời dạy của bậc Chánh đẳng Chánh giác và bậc thận trọng sáng suốt làm lắng dịu các loại lửa không biết mệt mỏi.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
<i>rāgaggi</i>
lửa tham
<i>dosaggi</i>
lửa sân
<i>mohaggi</i>
lửa si
<i>asubhasaññino</i>
người luôn ý thức tánh bất tịnh
<i>mettāya</i>
bằng lòng thương, từ mẫn
<i>paññāya</i>
bằng trí tuệ
<i>mārabandhanā</i>
trói buộc của Ác ma

Kinh Lửa

1Này các Tỷ-kheo, có ba loại lửa này. Thế nào là ba? Lửa tham, lửa sân, lửa si. Này các Tỷ-kheo, có ba loại lửa này.

Lửa tham đốt cháy người,
Say mê trong các dục,
Còn lửa sân đốt cháy,
Những người có sân hận,
Những người giết, sát hại,
Các loại có sanh mạng.
Còn lửa si đốt cháy,
Những kẻ bị mê muội,
Những kẻ không tinh luyện,
Trong giáo pháp bậc Thánh,
Do không được biết rõ
Các loại lửa như vậy,
Nên loài Người ưa thích,
Vui thích với có thân.
Họ làm cảnh dịa ngục,
Được lớn mạnh tăng trưởng,
Kể cả giới bàng sanh,
Chỗ sanh xứ súc vật,
Cùng với A-tu-la,
Với cảnh giới quỷ đói,
Họ không được thoát khỏi,
Trói buộc của Ác ma.
Nhưng ai ngày và đêm,
Chú tâm vào, chuyên học,
Học những lời giảng dạy,
Bậc Chánh đẳng Chánh giác.
Họ làm cho lắng dịu
Ngọn lửa của lòng tham,
Luôn luôn ý thức được,
Tánh bất tịnh sự vật.
Với lòng thương, từ mẫn,
Những hạng người tối thượng,
Làm lắng dịu, chỉ tịnh,
Ngọn lửa của sân hận.
Còn ngọn lửa si mê,
Với trí tuệ dập tắt,
Trí tuệ này đưa đến
Thể nhập vào chân lý,
Bậc thận trọng sáng suốt,
Ngày đêm làm lắng dịu
Các loại lửa như vậy,
Không có biết mệt mỏi,
Họ làm cho lắng dịu,
Không một chút dư tàn,
Những bậc Thánh đã thấy,
Bậc trí tuệ hiểu biết,
Là những bậc Hiền trí,
Thấy được nhờ chánh trí
Do họ thắng tri được,
Sự diệt tận của sanh,
Nên họ không đi đến,
Sanh đi rồi sanh lại.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tayome, bhikkhave, aggī. Katame tayo? Rāgaggi, dosaggi, mohaggi— ime kho, bhikkhave, tayo aggī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati: “Rāgaggi dahati macce, ratte kāmesu mucchite; Dosaggi pana byāpanne, nare pāṇātipātino. Mohaggi pana sammūḷhe, ariyadhamme akovide; Ete aggī ajānantā, sakkāyābhiratā pajā. Te vaḍḍhayanti nirayaṁ, tiracchānañca yoniyo; Asuraṁ pettivisayaṁ, amuttā mārabandhanā. Ye ca rattindivā yuttā, sammāsambuddhasāsane; Te nibbāpenti rāgaggiṁ, niccaṁ asubhasaññino. Dosaggiṁ pana mettāya, nibbāpenti naruttamā; Mohaggiṁ pana paññāya, yāyaṁ nibbedhagāminī. Te nibbāpetvā nipakā, rattindivamatanditā; Asesaṁ parinibbanti, asesaṁ dukkhamaccaguṁ. Ariyaddasā vedaguno, sammadaññāya paṇḍitā; Jātikkhayamabhiññāya, nāgacchanti punabbhavan”ti. Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Catutthaṁ.This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, there are these three fires. What three? The fires of greed, hate, and delusion. These are the three fires.” The Buddha spoke this matter. On this it is said: “The fire of greed burns a mortal, lustful, infatuated by sensual pleasures; while, fallen in the fire of hate, a person kills living creatures; and, bewildered by the fire of delusion, they miss the teaching of the noble ones. Not recognizing these three fires, people are caught up in substantial reality. They fill the ranks of hell, of birth as an animal, or of titans and ghosts, not freed from Māra’s bonds. But as to those committed day and night to the teaching of the Buddha: they extinguish the fire of greed, always perceiving ugliness; while those supreme men extinguish the fire of hate with love; and the fire of delusion with the wisdom that leads to penetration. Having extinguished these fires, alert, tireless all day and night, they become fully extinguished, completely transcending suffering. Seers of the noble truths, knowledge masters, the astute, understanding rightly, directly know the ending of rebirth, they come not back to future lives.” This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh mở đầu bằng câu nêu rõ ba loại lửa là lửa tham, lửa sân và lửa si, rồi phần kệ nói lửa tham đốt cháy người say mê trong các dục, lửa sân đốt cháy những người sân hận và giết hại các loài có sanh mạng, lửa si đốt cháy những kẻ mê muội, không tinh luyện trong giáo pháp bậc Thánh. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, ba ngọn lửa ở đây không phải lửa ngoài đời mà là tên gọi cho ba trạng thái trong tâm.

Kinh nói người không biết rõ các loại lửa như vậy thì ưa thích và vui thích với có thân, rồi làm cho cảnh địa ngục, giới bàng sanh, A-tu-la và cảnh giới quỷ đói lớn mạnh tăng trưởng, và không thoát khỏi trói buộc của Ác ma. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, đoạn này cho thấy tham, sân, si không chỉ làm khổ trong hiện tại mà còn dẫn đến các cảnh tái sanh khổ mà kinh kể ra.

Phần sau của bài kệ nói người ngày đêm chú tâm và chuyên học lời giảng dạy của bậc Chánh đẳng Chánh giác thì làm lắng dịu lửa tham bằng cách luôn ý thức tánh bất tịnh của sự vật, làm lắng dịu lửa sân bằng lòng thương và từ mẫn, và dập tắt lửa si bằng trí tuệ đưa đến thể nhập chân lý. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, mỗi ngọn lửa có một cách đối trị riêng trong kinh, nên bạn có thể xem bạn đang vướng ngọn lửa nào trước khi nghĩ đến cách làm lắng dịu.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Chú Khải thấy món đồ mới rao bán thì muốn mua ngay, dù trong nhà đã có món tương tự còn dùng tốt (không phải lời kinh). Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, khi chú dừng lại và nhìn rõ món đồ sẽ cũ và hư theo thời gian thì lòng muốn mua của chú lắng xuống, và chú không mua nữa.

Kinh khép lại bằng hình ảnh bậc thận trọng sáng suốt ngày đêm làm lắng dịu các loại lửa không biết mệt mỏi, cho đến khi lắng dịu không còn dư tàn, thắng tri được sự diệt tận của sanh và không đi đến sanh rồi sanh lại. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, điểm cuối mà kinh hướng đến là sự chấm dứt sanh, chứ không phải một cảm giác dễ chịu tạm thời khi lửa vừa lắng xuống.

Tham, sân, si là ba ngọn lửa trong tâm, và kinh dạy làm lắng dịu từng ngọn bằng quán bất tịnh, từ mẫn và trí tuệ.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 93 (Aggi Sutta, Itivuttaka 93). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 93 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp