Kinh Tầm
Vitakka Sutta
Kinh Tầm nêu ba tầm tư bất thiện gồm tầm tư tự đề cao, tầm tư về lợi dưỡng cung kính danh vọng và tầm tư lo lắng cho người khác, rồi nói về người từ bỏ để hướng đến giác ngộ tối thượng.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Ba tầm tư bất thiện là tự đề cao, lợi dưỡng danh vọng và lo lắng cho người khác.
- Người vướng vào các tầm tư ấy và thích kết bạn hữu đứng xa việc diệt tận trói buộc.
- Người từ bỏ con cái, loài vật, lễ cưới và cất chứa tài sản có thể chứng ngộ tối thượng.
Kinh Tầm thuộc tập Phật Thuyết Như Vậy và mang số hiệu 80. Bài kinh gồm ba phần: phần xuôi nêu ba tầm tư bất thiện, phần kệ đối chiếu người còn vướng tầm tư với người từ bỏ, phần kết xác nhận ý nghĩa vừa được nói. Bài kinh gồm các đoạn từ 1.1 đến 5.2. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, chữ vitakko, tầm tư, cho thấy đối tượng của bài kinh là dòng suy nghĩ khởi lên trong tâm, chứ không phải hành động đã thành hình bên ngoài.
Trong phần xuôi, ba tầm tư được nêu gọn và rõ. Trong phần kệ, người còn liên hệ đến tự đề cao và lợi dưỡng, lại thích làm thân và làm bạn hữu, được nói là đứng xa việc diệt tận trói buộc, trong khi người từ bỏ con cái, loài vật, lễ cưới và cất chứa tài sản được nói là có thể chứng ngộ tối thượng.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- vitakko
- tầm tư
- akusalavitakkā
- các tầm tư bất thiện
- anavaññattipaṭisaṁyutto
- liên hệ đến tự đề cao bản thân
- lābhasakkārasilokapaṭisaṁyutto
- liên hệ đến lợi dưỡng, cung kính, danh vọng
- parānuddayatāpaṭisaṁyutto
- liên hệ đến lo lắng cho người khác
- saṁyojanakkhayā
- diệt tận các trói buộc
- sambodhimuttaman
- giác ngộ tối thượng
Kinh Tầm
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, có ba tầm tư bất thiện này. Thế nào là ba? Tầm tư liên hệ đến tự đề cao mình; tầm tư liên hệ đến lợi dưỡng, cung kính, danh vọng; tầm tư liên hệ đến lo lắng cho người khác. Này các Tỷ-kheo, có ba tầm tư bất thiện này.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tayome, bhikkhave, akusalavitakkā. Katame tayo? Anavaññattipaṭisaṁyutto vitakko, lābhasakkārasilokapaṭisaṁyutto vitakko, parānuddayatāpaṭisaṁyutto vitakko. Ime kho, bhikkhave, tayo akusalavitakkā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, there are these three unskillful thoughts. What three? The thought of status; of getting material things, honor, and popularity; and of fondness for others. These are the three unskillful thoughts.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Ai có sự liên hệ,
Tự đề cao chính mình,
Liên hệ đến lợi dưỡng
Cung kính và tôn trọng,
Ai ưa thích, vui thích,
Làm thân, làm bạn hữu,
Những vị ấy đứng xa
Diệt tận các kiết sử.
Ai từ bỏ con cái,
Từ bỏ các loài vật,
Từ bỏ các lễ cưới
Bỏ cất chứa tài sản
Tỷ-kheo ấy có thể,
Chứng Bồ-đề vô thượng.“Anavaññattisaṁyutto,
lābhasakkāragāravo;
Sahanandī amaccehi,
ārā saṁyojanakkhayā.
Yo ca puttapasuṁ hitvā,
Vivāhe saṁharāni ca;
Bhabbo so tādiso bhikkhu,
Phuṭṭhuṁ sambodhimuttaman”ti.“One concerned with being looked up to, with possessions, honor, and respect, with sharing joys with friends, is far from the ending of fetters. But one who gives up children and herds, marriage and acquisitions— such a mendicant is capable of experiencing the highest awakening.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Paṭhamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, tầm tư trong bài kinh không phải là một ý nghĩ thoáng qua rồi mất. Khi một tầm tư được nuôi dưỡng, nó trở thành hướng đi của tâm và kéo theo lời nói cùng việc làm. Vì vậy, việc nhận ra tầm tư từ lúc nó mới khởi lên có giá trị thực hành rõ ràng, dù kinh không dạy thêm một kỹ thuật nào khác ngoài sự nhận ra ấy.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: anh Tuấn làm việc tốt trong một nhóm thiện nguyện, nhưng tâm anh thường quay về việc bản thân có được khen hay không và có được mời vào vị trí quan trọng hay không. Hình ảnh ấy chỉ giúp bạn hình dung cách tầm tư về danh vọng len vào một việc làm vốn tốt đẹp, theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh.
Tầm tư lo lắng cho người khác cũng được xếp cùng nhóm với tự đề cao và ham danh vọng. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, điểm đáng chú ý là sự lo lắng ấy được nói như một tầm tư bám víu vào quan hệ với người khác, vì nó cũng kéo tâm ra khỏi việc tu tập và hướng về sự gắn bó, chứ kinh không nói rằng lòng thương là xấu.
Phần kệ về sự từ bỏ cần được đọc trong bối cảnh của người xuất gia mà kinh đang hướng đến. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hình ảnh từ bỏ con cái, loài vật, lễ cưới và cất chứa tài sản nói về người buông các ràng buộc đời sống thế tục để tu tập trọn vẹn, chứ không phải mệnh lệnh chung buộc mọi người đọc đều phải làm như vậy.
Kinh nêu ba tầm tư bất thiện và đối chiếu người còn vướng với người từ bỏ, hướng đến việc diệt tận trói buộc và chứng ngộ tối thượng.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 80 (Vitakka Sutta, Itivuttaka 80). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 80 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.