Phật Thuyết Như Vậy 60 · Iti 60

Kinh Việc Làm Phước

Puññakiriyavatthu Sutta

Kinh Việc Làm Phước nêu ba phước nghiệp sự là bố thí, giới và tu tập, rồi khuyên học tập làm công đức để hướng đến tương lai và đem lại căn an lạc.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Kinh Việc Làm Phước nêu ba phước nghiệp sự là bố thí, giới và tu tập.
  • Bài kệ khuyên học tập làm công đức để hướng đến tương lai và đem lại căn an lạc.
  • Người tu tập bố thí, sở hành an tịnh và từ tâm thì bậc Hiền trí được sanh tại thế giới an lạc.

Kinh Việc Làm Phước nằm trong bộ Phật Thuyết Như Vậy, một tập hợp các bài kinh ngắn thuộc kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli. Bài kinh mang số hiệu Iti 60 và mở đầu bằng lời dạy gửi đến các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia trong Tăng đoàn, về ba phước nghiệp sự. Phần văn xuôi nằm ở đoạn 1.1 đến 2.6, bài kệ nằm ở đoạn 3.1 đến 4.4, và lời kết nằm ở đoạn 5.1 đến 5.2.

Chữ puññakiriyavatthu, phước nghiệp sự, là tên gọi chung cho ba việc mà kinh nêu, gồm phước do bố thí tác thành, phước do giới tác thành và phước do tu tập tác thành. Kinh không kể một câu chuyện dài và không nêu tên một người nào, mà đi thẳng vào ba phước nghiệp sự rồi mở rộng bằng bài kệ. Cấu trúc ngắn gọn này giúp bạn nắm được ý chính ngay từ lần đọc đầu.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
puññakiriyavatthu
phước nghiệp sự
dānamayaṁ
do bố thí tác thành
sīlamayaṁ
do giới tác thành
bhāvanāmayaṁ
do tu tập tác thành
samacariyañca
sở hành an tịnh
mettacittañca
tâm từ
paṇḍito
bậc Hiền trí

Kinh Việc Làm Phước

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, có ba phước nghiệp sự này. Thế nào là ba? Phước nghiệp sự do bố thí tác thành, phước nghiệp sự do giới tác thành, và phước nghiệp do sự tu tập tác thành. Này các Tỷ-kheo, có ba phước nghiệp sự này.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tīṇimāni, bhikkhave, puññakiriyavatthūni. Katamāni tīṇi? Dānamayaṁ puññakiriyavatthu, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthu— imāni kho, bhikkhave, tīṇi puññakiriyavatthūnī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, there are these three grounds for making merit. What three? Giving, ethical conduct, and meditation are all grounds for making merit. These are the three grounds for making merit.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Hãy để cho người ấy,
Học tập làm công đức,
Hướng dẫn đến tương lai
Đem lại căn an lạc.
Hãy tu tập bố thí,
Tập sở hành an tịnh,
Và tu tập từ tâm,
Tu xong ba pháp ấy,
Những pháp khởi lạc thọ.
Bậc Hiền trí được sanh,
Tại thế giới an lạc,
Không phiền não hận thù.
“Puññameva so sikkheyya,
āyataggaṁ sukhudrayaṁ;
Dānañca samacariyañca,
mettacittañca bhāvaye.
Ete dhamme bhāvayitvā,
tayo sukhasamuddaye;
Abyābajjhaṁ sukhaṁ lokaṁ,
paṇḍito upapajjatī”ti.
“One should practice only good deeds, whose happy outcome stretches ahead. Giving and moral conduct, developing a mind of love: having developed these three things yielding happiness, that astute one is reborn in a happy, pleasing world.”

3Ý nghĩa này đã được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Paṭhamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh đặt bố thí, giới và tu tập cạnh nhau như ba phước nghiệp sự, và bài kệ mở rộng bằng lời khuyên học tập làm công đức. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, học tập ở đây nhấn mạnh việc làm phước là việc cần rèn luyện thường xuyên, không phải là một việc làm một lần rồi thôi.

Bài kệ nêu bố thí, sở hành an tịnh và từ tâm, rồi nói người tu xong ba pháp ấy thì bậc Hiền trí được sanh tại thế giới an lạc, không phiền não hận thù. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, thế giới an lạc ở đây là kết quả mà bài kệ đặt ở cuối con đường tu tập, còn không phiền não hận thù là trạng thái đi kèm với kết quả ấy.

Ví dụ của người viết (không phải lời kinh): một người mỗi tuần dành một buổi phụ giúp hàng xóm lớn tuổi dọn dẹp nhà cửa, giữ lời nói nhẹ nhàng khi hàng xóm khó tính, và không giữ giận khi bị hiểu lầm, thì việc giúp đỡ ấy trở thành một thói quen yên ổn chứ không còn là một việc gắng gượng.

Kinh không hứa một kết quả đổi chác tức thời và bài này cũng không thêm điều ấy. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, làm phước theo kinh là gieo một hướng sống gồm bố thí, giới và tu tập, còn quả an lạc là điều bài kệ đặt ở tương lai chứ không đặt ở ngay trong lúc làm.

Bố thí, giới và tu tập là ba phước nghiệp sự mà kinh khuyên học tập để hướng đến tương lai an lạc.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 60 (Puññakiriyavatthu Sutta, Itivuttaka 60). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 60 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp