Phật Thuyết Như Vậy 100 · Iti 100

Kinh Pháp Tế Của Bà-la-môn

Brāhmaṇadhammayāga Sutta

Kinh Pháp Tế Của Bà-la-môn Iti 100 gọi việc chia sẻ Pháp là tế tự tối thượng. Kinh mở đầu bằng hình ảnh Đức Phật là bậc Bà-la-môn theo Pháp rồi nêu bốn cặp so sánh.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Đức Phật tự gọi là Bà-la-môn theo Pháp, và các Tỷ-kheo là con từ Pháp sanh, thừa tự Pháp.
  • Trong bốn cặp bố thí, phân phát, nhiêu ích và tế tự, phần thuộc về Pháp là tối thượng.
  • Như Lai tế tự Chánh pháp, không xan tham, có lòng từ với tất cả sinh vật và đã vượt qua dòng sanh hữu.

Kinh Pháp Tế Của Bà-la-môn thuộc Phật Thuyết Như Vậy, tức Itivuttaka, một tập kinh trong Tiểu Bộ Kinh, tức Khuddaka Nikāya, một trong năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli. Kinh mang số hiệu Iti 100 và được Đức Phật thuyết cho các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia theo Phật.

Kinh gồm phần văn xuôi ở các đoạn 1.1 đến 6.5, phần kệ ngôn ở các đoạn 7.1 đến 7.4 và phần kết ở các đoạn 8.1 đến 8.2. Phần văn xuôi nêu bốn cặp bố thí, phân phát, nhiêu ích và tế tự, phần kệ ngôn ca ngợi người tế tự Chánh pháp, và phần kết nhắc rằng ý nghĩa này đã được Thế Tôn nói đến.

Tên kinh lấy từ chữ tế tự, tức yāga, một nghi lễ dâng cúng trong truyền thống Bà-la-môn xưa, nhưng kinh chuyển nghĩa ấy sang việc chia sẻ Pháp. Đức Phật tự gọi là Bà-la-môn theo Pháp và gọi các Tỷ-kheo là con từ miệng sanh, từ Pháp sanh, thừa tự Pháp chứ không thừa tự tài vật.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
brāhmaṇa
Bà-la-môn
yāga
tế tự
dhammayāga
tế tự Pháp
āmisayāga
tế tự tài vật
dāna
bố thí
dhammadāna
bố thí Pháp
saṁvibhāga
phân phát
anuggaha
nhiêu ích
Tathāgata
Như Lai
dhammadāyāda
thừa tự Pháp

Kinh Pháp Tế Của Bà-la-môn

1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

Này các Tỷ-kheo, Ta là Bà-la-môn, người được đến yêu cầu, tay luôn luôn thanh tịnh, mang thân cuối cùng, vô thượng y sĩ chữa trị, y sĩ giải phẫu. Các Thầy thật là con của Ta từ miệng sanh, từ Pháp sanh, từ Pháp tạo thành, thừa tự Pháp, không thừa tự tài vật.

Này các Tỷ-kheo, có hai loại bố thí. Bố thí tài vật và bố thí Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là tối thượng trong hai bố thí này, tức là bố thí Pháp. Này các Tỷ-kheo, có hai loại phân phát này, phân phát tài vật và phân phát Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là tối thượng trong hai phân phát này, tức là phân phát Pháp.

Này các Tỷ-kheo, có hai nhiêu ích này, nhiêu ích tài vật và nhiêu ích Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là tối thượng trong hai nhiêu ích này, tức là nhiêu ích Pháp. Này các Tỷ-kheo, có hai loại tế tự này. Tế tự tài vật và tế tự Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là tối thượng trong hai tế tự này, tức là tế tự Pháp.

Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Ahamasmi, bhikkhave, brāhmaṇo yācayogo sadā payatapāṇi antimadehadharo anuttaro bhisakko sallakatto. Tassa me tumhe puttā orasā mukhato jātā dhammajā dhammanimmitā dhammadāyādā, no āmisadāyādā. Dvemāni, bhikkhave, dānāni— āmisadānañca dhammadānañca. Etadaggaṁ, bhikkhave, imesaṁ dvinnaṁ dānānaṁ yadidaṁ dhammadānaṁ. Dveme, bhikkhave, saṁvibhāgā— āmisasaṁvibhāgo ca dhammasaṁvibhāgo ca. Etadaggaṁ, bhikkhave, imesaṁ dvinnaṁ saṁvibhāgānaṁ yadidaṁ dhammasaṁvibhāgo. Dveme, bhikkhave, anuggahā— āmisānuggaho ca dhammānuggaho ca. Etadaggaṁ, bhikkhave, imesaṁ dvinnaṁ anuggahānaṁ yadidaṁ dhammānuggaho. Dveme, bhikkhave, yāgā— āmisayāgo ca dhammayāgo ca. Etadaggaṁ, bhikkhave, imesaṁ dvinnaṁ yāgānaṁ yadidaṁ dhammayāgo”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “I, mendicants, am a brahmin, committed to charity, always open-handed, bearing my final body, a healer, a surgeon. You are my bosom sons, born from my mouth, born of the teaching, created by the teaching, heirs in the teaching, not in things of the flesh. There are these two gifts. A gift of things of the flesh and a gift of the teaching. The better of these two gifts is the gift of the teaching. There are these two kinds of sharing. Sharing things of the flesh and sharing the teaching. The better of these two kinds of sharing is sharing the teaching. There are these two kinds of support. Support in things of the flesh and support in the teaching. The better of these two kinds of support is support in the teaching. There are these two offerings. An offering of things of the flesh and an offering of the teaching. The better of these two offerings is an offering of the teaching.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:

2Ai tế tự Chánh pháp,
Tế tự, không xan tham,
Như Lai có lòng từ,
Đối tất cả sinh vật,
Bậc tối thắng như vậy,
Giữa chư Thiên loài Người,
Chúng sanh kính đảnh lễ,
Vị đã vượt qua được,
Vượt qua dòng sanh hữu,
Đến được bờ bên kia.
“Yo dhammayāgaṁ ayajī amaccharī,
Tathāgato sabbabhūtānukampī;
Taṁ tādisaṁ devamanussaseṭṭhaṁ,
Sattā namassanti bhavassa pāragun”ti.
“The Realized One, <j>compassionate for all living creatures, unstintingly offers teaching. Sentient beings revere him, <j>first among gods and humans, who has gone beyond rebirth.”

3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Paṭhamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Đức Phật tự gọi là Bà-la-môn, người được đến yêu cầu, tay luôn thanh tịnh, mang thân cuối cùng, là y sĩ vô thượng chữa trị và giải phẫu. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, danh hiệu Bà-la-môn ở đây không chỉ dòng dõi mà chỉ người sống đúng Pháp. Các Tỷ-kheo được gọi là con của Ngài từ miệng sanh, từ Pháp sanh, từ Pháp tạo thành, thừa tự Pháp chứ không thừa tự tài vật. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, câu này đặt quan hệ thầy trò trên nền tảng Pháp chứ không phải trên tài sản hay huyết thống.

Kinh nêu bốn cặp bố thí, phân phát, nhiêu ích và tế tự, và trong mỗi cặp phần thuộc về Pháp đều là tối thượng. Bố thí tài vật cho đi vật chất, bố thí Pháp cho đi lời dạy. Phân phát và nhiêu ích cũng chia theo hai hướng ấy. Tế tự tài vật dâng cúng vật chất, tế tự Pháp dâng cúng lời dạy đúng pháp. Bốn cặp cùng một thứ bậc cho thấy Pháp được đặt lên trên trong mọi hình thức cho đi.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Chú Khải mỗi tháng đều gửi tiền cúng dường chùa, nhưng khi người bạn hỏi về cách giữ tâm an trước chuyện buồn, chú chỉ nói qua loa vì chú ít đọc kinh. Chú cho đi nhiều vật chất mà ít chia sẻ Pháp, nên phần tế tự tối thượng trong kinh vẫn còn xa với chú (không phải lời kinh).

Phần kệ ngôn nói rằng ai tế tự Chánh pháp, không xan tham, thì được chúng sanh kính lễ, vì vị Như Lai có lòng từ đối với tất cả sinh vật đã vượt qua dòng sanh hữu và đến được bờ bên kia. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, tế tự Chánh pháp ở đây là sống và chia sẻ đúng Pháp, còn không xan tham là không giữ Pháp cho riêng ai mà cho đi rộng rãi.

Tế tự cao nhất mà kinh dạy là tế tự Pháp, không xan tham và vì lợi ích của tất cả sinh vật.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 100 (Brāhmaṇadhammayāga Sutta, Itivuttaka 100). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 100 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Bốn Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp