Kinh Sinh Kế
Jīvika Sutta
Kinh Sinh Kế nói việc đi bát khất thực là nghề nuôi sống bị chê bai trong đời, nhưng người xuất gia vì lý tưởng chấp nhận nghề ấy để tìm cách chấm dứt khổ.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Đi bát khất thực là nghề nuôi sống bị chê bai trong đời.
- Người thiện gia nam tử chấp nhận nghề ấy vì muốn tìm cách chấm dứt toàn bộ khổ uẩn.
- Người xuất gia mà còn tham ái và thất niệm thì không đạt được mục đích của đời sống xuất gia.
Kinh Sinh Kế là bài kinh số 91 trong tập Phật Thuyết Như Vậy, tức bản dịch tiếng Việt của tập kinh Itivuttaka trong kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của bộ kinh. Kinh mở đầu bằng lời kể rằng điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và người kể đã được nghe.
Kinh gồm một khối liền, mở đầu bằng việc nói về nghề đi bát khất thực và lý do người thiện gia nam tử chấp nhận nghề ấy, rồi ví người xuất gia mà còn tham ái và thất niệm như que lửa lấy từ chỗ thiêu xác, không dùng làm củi được ở làng hay ở rừng, và khép lại bằng bài kệ nhắc lại hình ảnh ấy cùng lời nhắc về kẻ hành ác giới ăn đồ ăn của quốc độ.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- <i>piṇḍolyaṁ</i>
- sự đi bát khất thực
- <i>kulaputtā</i>
- các thiện gia nam tử
- <i>gihibhogā</i>
- tài sản ở gia đình
- <i>chavālātaṁ</i>
- que lửa thiêu xác
- <i>nirayaṁ</i>
- địa ngục
- <i>dussīlo</i>
- người hành ác giới
Kinh Sinh Kế
1Này các Tỷ-kheo, nghĩa này là nghề tận cùng trong các nghề nuôi sống, tức là đi bát khất thực; Này các Tỷ-kheo, danh từ nhiếc mắng ở trong đời là nói rằng: “Ông là kẻ đi bát, với bát cầm tay, ông đi khắp mọi nơi”. Tuy vậy chính nghề nuôi sống này được các thiện gia nam tử chấp nhận, những người sống vì lý tưởng, vì duyên sống với lý tưởng, không bị thúc đẩy làm nghề ấy vì sợ vua, vì sợ ăn trộm, vì mắc nợ, vì sợ hãi, không phải vì mất nghề nuôi sống; nhưng vì nghĩ rằng: “Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị khổ tràn đầy, bị khổ chinh phục. Rất có thể, một số phương pháp chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này có thể trình bày”.
Này các Tỷ-kheo, thiện nam tử này xuất gia như vậy, tham ái trong các dục, với lòng tham sắc xảo, với tâm sân hận, ý tư duy nhiễm ác, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, với các căn hoang dại. Này các Tỷ-kheo, như một que lửa lấy từ chỗ thiêu xác, cả hai đầu đều cháy đỏ, ở giữa lại lắm phân, không hoàn thành được mục đích làm que củi ở trong làng hay ở trong rừng. Này các Tỷ-kheo, Ta nói người này như ví dụ như vậy, dầu cho bỏ tài sản gia đình nhưng không làm viên mãn mục đích Sa-môn hạnh.
Tài sản ở gia đình,
Được đoạn tận từ bỏ,
Nhưng khó dự phần được,
Mục đích Sa-môn hạnh,
Tự đưa đến tổn hại,
Và đưa đến tán loạn,
Giống que lửa thiêu xác,
Đi đến chỗ hoại vong.
Tốt hơn nuốt hòn sắt,
Chảy đỏ, một cục lửa,
Nếu kẻ hành ác giới,
Ăn đồ ăn quốc độ,
Không biết có chế ngự.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Antamidaṁ, bhikkhave, jīvikānaṁ yadidaṁ piṇḍolyaṁ. Abhisāpoyaṁ, bhikkhave, lokasmiṁ: ‘piṇḍolo vicarasi pattapāṇī’ti. Tañca kho etaṁ, bhikkhave, kulaputtā upenti atthavasikā, atthavasaṁ paṭicca; neva rājābhinītā, na corābhinītā, na iṇaṭṭā, na bhayaṭṭā, na ājīvikāpakatā. Api ca kho ‘otiṇṇamhā jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi dukkhotiṇṇā dukkhaparetā, appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti. Evaṁ pabbajito cāyaṁ, bhikkhave, kulaputto. So ca hoti abhijjhālu kāmesu tibbasārāgo, byāpannacitto paduṭṭhamanasaṅkappo, muṭṭhassati asampajāno asamāhito vibbhantacitto pākatindriyo. Seyyathāpi, bhikkhave, chavālātaṁ ubhatopadittaṁ majjhe gūthagataṁ neva gāme kaṭṭhatthaṁ pharati na araññe; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi gihibhogā parihīno sāmaññatthañca na paripūretī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati: “Gihibhogā parihīno, Sāmaññatthañca dubbhago; Paridhaṁsamāno pakireti, Chavālātaṁva nassati. Kāsāvakaṇṭhā bahavo, pāpadhammā asaññatā; Pāpā pāpehi kammehi, nirayaṁ te upapajjare. Seyyo ayoguḷo bhutto, tatto aggisikhūpamo; Yañce bhuñjeyya dussīlo, raṭṭhapiṇḍamasaññato”ti. Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Dutiyaṁ.This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “This is the last of lifestyles, mendicants, namely relying on alms. The world curses you: ‘You beggar, walking bowl in hand!’ Yet earnest gentlemen take it up for a good reason. Not to escape a summons by a king or a summons for a bandit, or because you were in debt or in fear, or in order to make a living. Rather, because they think: ‘I’m swamped by rebirth, old age, and death; by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. I’m swamped by suffering, mired in suffering. Hopefully I can make an end to this entire mass of suffering.’ That’s how this gentleman has gone forth. Yet they covet sensual pleasures; they’re infatuated, full of ill will and malicious intent. They are unmindful, lacking situational awareness and immersion, with straying minds and undisciplined faculties. Suppose there was a firebrand for lighting a funeral pyre, burning at both ends, and smeared with dung in the middle. It couldn’t be used as timber either in the village or the wilderness. I say that individual is just like this. They’ve missed out on the pleasures of the lay life, and haven’t fulfilled the goal of the ascetic life.” The Buddha spoke this matter. On this it is said: “They’ve left behind the pleasures of the lay life, and miss out on the goal of the ascetic life. Ruining it, they throw it away, and perish like a funeral firebrand. Many who wear a scrap of ocher cloth are unrestrained and wicked. Being wicked, they are reborn in hell due to their bad deeds. It’d be better for the immoral and unrestrained to eat an iron ball, scorching, like a burning flame, than to eat the nation’s alms.” This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh gọi đi bát khất thực là nghề tận cùng trong các nghề nuôi sống, và nói trong đời đó là danh từ nhiếc mắng, khi người ta nói người đi bát là kẻ cầm bát đi khắp mọi nơi. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, kinh đặt nghề bị chê bai này ở vị trí đáng chú ý để người đọc thấy giá trị của nghề không nằm ở lời khen chê của đời.
Kinh nói các thiện gia nam tử chấp nhận nghề ấy không phải vì sợ vua, sợ trộm, mắc nợ, sợ hãi hay mất nghề nuôi sống, mà vì thấy đời sống đang bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, và mong có phương pháp chấm dứt toàn bộ khổ uẩn. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, lý do xuất gia mà kinh nêu là sự thấy rõ khổ, chứ không phải hoàn cảnh ép buộc bên ngoài.
Kinh nói người xuất gia như vậy mà còn tham ái trong các dục, tâm sân hận, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh và các căn hoang dại, thì giống que lửa lấy từ chỗ thiêu xác, hai đầu cháy đỏ, ở giữa lắm phân, không dùng làm củi được ở làng hay ở rừng. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hình ảnh này cho thấy người ấy đã bỏ tài sản gia đình mà vẫn chưa đạt mục đích Sa-môn hạnh, tức mục đích của đời sống xuất gia, nên kinh nói người ấy tự đưa đến tổn hại và tán loạn.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Chú Khải bỏ việc làm ăn cũ để dành thời gian học kinh và giữ giới, nhưng chú vẫn nóng giận với người trong nhà mỗi khi trái ý (không phải lời kinh). Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, việc đổi hình thức sống bên ngoài chưa đủ nếu tâm tham và tâm sân chưa được nhìn rõ và chế ngự.
Phần kệ cuối kinh nhắc lại người đã bỏ tài sản gia đình mà không dự phần được mục đích Sa-môn hạnh thì đi đến hoại vong, và nói thà nuốt hòn sắt cháy đỏ còn hơn kẻ hành ác giới ăn đồ ăn của quốc độ mà không biết chế ngự. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, lời nhắc mạnh này đặt trọng tâm vào giới hạnh của người thọ nhận, chứ không đặt trọng tâm vào vật thực được cúng dường.
Nghề khất thực chỉ có ý nghĩa khi người xuất gia sống đúng mục đích đoạn trừ khổ mà người ấy đã chọn.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 91 (Jīvika Sutta, Itivuttaka 91). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 91 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.