Phật Thuyết Như Vậy 103 · Iti 103

Kinh Sa-môn Bà-la-môn

Samaṇabrāhmaṇa Sutta

Kinh Sa-môn Bà-la-môn nói rằng người không như thật biết bốn sự thật về khổ thì không được xem là Sa-môn hay Bà-la-môn, dù mang danh ấy.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Người không như thật biết bốn sự thật về khổ thì không được xem là Sa-môn hay Bà-la-môn.
  • Người như thật biết bốn sự thật ấy thì được xem là Sa-môn hay Bà-la-môn và chứng đạt mục đích Sa-môn hạnh ngay trong hiện tại.
  • Người không biết thì không có tâm giải thoát và tuệ giải thoát, phải đi đến sanh già; người biết thì chấm dứt được sanh già.

Kinh Sa-môn Bà-la-môn, Iti 103, thuộc bộ kinh Phật Thuyết Như Vậy, tức tập kinh nhỏ trong kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli. Kinh ghi lời dạy của đức Thế Tôn cho các vị Tỷ-kheo, tức các vị tu sĩ đã xuất gia theo Phật, về điều làm nên một vị Sa-môn, tức người xuất gia tu hành, hay một vị Bà-la-môn, tức người sống đời phạm hạnh. Toàn bài kinh là một khối liền, gồm phần lời dạy bằng văn xuôi và phần kệ đối chiếu hai hạng người ở cuối. Kinh đặt hai trường hợp cạnh nhau: người không như thật biết bốn sự thật về khổ và người như thật biết bốn sự thật ấy. Phần kệ nhắc lại rằng người không biết thì thiếu tâm giải thoát và tuệ giải thoát, còn người biết thì thành tựu cả hai và có thể chấm dứt sanh già.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
samaṇa
Sa-môn, người xuất gia tu hành
brāhmaṇa
Bà-la-môn, người sống đời phạm hạnh
dukkha
khổ
dukkhasamudaya
khổ tập, nguyên nhân sanh khổ
dukkhanirodha
khổ diệt, sự đoạn tận khổ
dukkhanirodhagāminī paṭipadā
con đường đưa đến khổ diệt
cetovimutti
tâm giải thoát
paññāvimutti
tuệ giải thoát
jātijarā
sanh già
yathābhūta
như thật, đúng như sự thật

Kinh Sa-môn Bà-la-môn

1Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật quán tri: “Đây là Khổ”, không như thật quán tri: “Đây là Khổ tập”, không như thật quán tri: “Đây là Khổ diệt”, không như thật quán tri: “Đây là Con đường đưa đến khổ diệt”. Những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, không được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay là Bà-la-môn trong các Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại cũng không tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh hay mục đích Bà-la-môn hạnh.

Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật quán tri: “Đây là Khổ”, như thật quán tri: “Đây là Khổ tập”, như thật quán tri: “Đây là Khổ diệt”, như thật quán tri: “Đây là Con đường đưa đến khổ diệt”, thời này các Tỷ-kheo, các Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được Ta chấp nhận là Sa-môn trong các hàng Sa-môn, hay Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các vị Tôn giả ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh hay mục đích Bà-la-môn hạnh.

Những ai không quán tri,
Khổ và khổ hiện hữu,
Ở đấy, khổ hoàn toàn,
Được đoạn tận, không dư,
Và không biết đường ấy,
Đưa đến chỉ tịnh khổ,
Những vị ấy không có
Tâm và tuệ giải thoát,
Họ không thể chấm dứt,
Phải đi đến sanh già.

Những vị nào quán tri,
Khổ và khổ tập khởi,
Ở đấy, khổ hoàn toàn,
Được đoạn tận, không dư;
Rõ biết con đường ấy,
Đưa đến chỉ tịnh khổ,
Tâm giải thoát thành tựu,
Và cả tuệ giải thoát,
Họ có thể chấm dứt,
Không đi đến sanh già.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ nappajānanti; ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ nappajānanti; ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ nappajānanti; ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ nappajānanti— na me te, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā, na ca panete āyasmanto sāmaññatthaṁ vā brahmaññatthaṁ vā diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti. Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānanti; ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānanti; ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānanti; ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānanti— te kho me, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu ceva samaṇasammatā brāhmaṇesu ca brāhmaṇasammatā, te ca panāyasmanto sāmaññatthañca brahmaññatthañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati: “Ye dukkhaṁ nappajānanti, atho dukkhassa sambhavaṁ; Yattha ca sabbaso dukkhaṁ, asesaṁ uparujjhati; Tañca maggaṁ na jānanti, dukkhūpasamagāminaṁ. Cetovimuttihīnā te, Atho paññāvimuttiyā; Abhabbā te antakiriyāya, Te ve jātijarūpagā. Ye ca dukkhaṁ pajānanti, atho dukkhassa sambhavaṁ; Yattha ca sabbaso dukkhaṁ, asesaṁ uparujjhati; Tañca maggaṁ pajānanti, dukkhūpasamagāminaṁ. Cetovimuttisampannā, atho paññāvimuttiyā; Bhabbā te antakiriyāya, na te jātijarūpagā”ti. Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Catutthaṁ.This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, there are ascetics and brahmins who don’t truly understand about suffering, its origin, its cessation, and the path. I don’t deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and don’t live having realized it with their own insight in this very life. There are ascetics and brahmins who truly understand about suffering, its origin, its cessation, and the path. I regard them as true ascetics and brahmins. Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight.” The Buddha spoke this matter. On this it is said: “There are those who don’t understand suffering and suffering’s cause, and where all suffering cease with no residue left behind. And they do not know the path that leads to the stilling of suffering. They lack the heart’s release, as well as the release by wisdom. Unable to make an end, they continue to be reborn and grow old. But there are those who understand suffering and suffering’s cause, and where all suffering cease with no residue left behind. And they understand the path that leads to the stilling of suffering. They’re endowed with the heart’s release, as well as the release by wisdom. Able to make an end, they don’t continue to be reborn and grow old.” This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh dùng danh xưng Sa-môn và Bà-la-môn không theo dòng dõi hay hình thức bên ngoài mà theo sự biết rõ bốn sự thật về khổ. Người không như thật biết bốn sự thật ấy thì không được đức Thế Tôn chấp nhận là Sa-môn hay Bà-la-môn, dù người ấy mang danh ấy. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, tiêu chuẩn ở đây nằm ở trí thấy đúng sự thật, không nằm ở danh xưng người khác gán cho.

Người như thật biết bốn sự thật thì được chấp nhận là Sa-môn hay Bà-la-môn, và ngay trong hiện tại chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh hay Bà-la-môn hạnh. Điều này cho thấy mục đích của đời tu không nằm ở đời sau xa vời mà có thể thành tựu ngay trong đời này, khi trí thấy rõ. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, chữ ngay trong hiện tại nhắc người đọc rằng việc tu tập có kết quả thiết thực, không phải chỉ là lời hứa về sau.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Chú Khải hay nói với hàng xóm rằng chú ăn chay trường đã nhiều năm, nhưng mỗi khi ai góp ý trái tai là chú nổi giận và nặng lời. Một người bạn nhắc chú rằng việc ăn chay là tốt, nhưng cơn giận chưa được thấy rõ thì vẫn còn đó, và danh xưng người tu không làm cơn giận tự mất đi (không phải lời kinh).

Phần kệ đối chiếu hai hạng người: người không biết thì thiếu tâm giải thoát và tuệ giải thoát, không thể chấm dứt khổ, phải đi đến sanh già; người biết thì thành tựu cả hai và có thể chấm dứt, không đi đến sanh già. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, hai chữ tâm giải thoát và tuệ giải thoát đi cùng nhau cho thấy giải thoát cần cả tâm được buông xả và trí thấy rõ, thiếu một trong hai thì chưa đủ.

Chỉ người như thật biết bốn sự thật về khổ mới xứng danh Sa-môn hay Bà-la-môn và thành tựu tâm giải thoát cùng tuệ giải thoát.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 103 (Samaṇabrāhmaṇa Sutta, Itivuttaka 103). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 103 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Bốn Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp