Phật Thuyết Như Vậy 96 · Iti 96

Kinh Dục Ách

Kāmayoga Sutta

Kinh Dục Ách nói dục và hữu là hai trói buộc giữ chúng sanh trong saṁsāra, tức luân hồi, và kinh nói người đã chế ngự cả hai trói buộc là bậc A-la-hán, đã đoạn tận lậu hoặc.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Người còn bị dục và hữu trói buộc thì còn đi đến sanh tử trong luân hồi.
  • Người đoạn tận dục nhưng chưa đoạn tận lậu hoặc thì không trở lại cõi này.
  • Người chặt đứt nghi hoặc và kiêu mạn, đoạn tận tái sanh thì đến bờ kia.

Kinh Dục Ách thuộc Phật Thuyết Như Vậy, tức tập kinh nhỏ trong kinh Nikāya, năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ cổ ghi lại lời Phật. Kinh này mang số hiệu Iti 96, thuộc Chương Ba Pháp của Phật Thuyết Như Vậy.

Kinh nói về hai trói buộc là dục và hữu. Dựa vào hai trói buộc ấy, kinh nêu lần lượt người còn trở lại, bậc Bất lai và bậc A-la-hán, tức bậc đã đoạn tận lậu hoặc. Toàn kinh ngắn, gồm phần lời dạy bằng văn xuôi và phần kệ nhắc lại ý chính.

Kinh nói với các vị Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia, về con đường tu tập. Bạn đọc tại gia có thể đọc kinh để hiểu rõ hơn về dục và hữu, hai sợi dây mà kinh nói giữ chúng sanh trong luân hồi.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
kāma
dục
bhava
hữu
yoga
trói buộc
saṁsāra
luân hồi
anāgāmī
bậc Bất lai, không trở lại
arahā
bậc A-la-hán
āsava
lậu hoặc
saṁsaya
nghi hoặc
māna
kiêu mạn
punabbhava
tái sanh

Kinh Dục Ách

1Này các Tỷ-kheo, những ai bị trói buộc bởi trói buộc của dục, những ai bị trói buộc bởi trói buộc của hữu là những bậc đến lại, đi đến lại có mặt ở đây. Những ai chế ngự được sự trói buộc của dục, này các Tỷ-kheo, nhưng còn bị trói buộc bởi trói buộc của hữu, những vị ấy là hạng Bất lai, không trở lui lại có mặt ở đây. Những ai chế ngự được sự trói buộc của dục, chế ngự được sự trói buộc của hữu, những vị ấy là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc.

Những ai bị nhiếp phục,
Bởi trói buộc của dục,
Bởi trói buộc của hữu,
Bởi trói buộc cả hai,
Chúng sanh ấy đi đến,
Luân chuyển trong luân hồi,
Họ đi đến sanh tử.
Những ai đoạn tận dục,
Nhưng chưa đạt thành được,
Sự diệt tận lậu hoặc,
Họ còn bị nhiếp phục,
Bởi trói buộc của hữu,
Họ được gọi Bất lai.
Những ai chặt đứt được,
Mọi nghi hoặc phân vân,
Đoạn tận được kiêu mạn,
Đoạn tận được tái sanh,
Chắc chắn trong đời này,
Họ đi đến bờ kia,
Vì họ đã đạt tới,
Sự đoạn diệt lậu hoặc.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Kāmayogayutto, bhikkhave, bhavayogayutto āgāmī hoti āgantā itthattaṁ. Kāmayogavisaṁyutto, bhikkhave, bhavayogayutto anāgāmī hoti anāgantā itthattaṁ. Kāmayogavisaṁyutto, bhikkhave, bhavayogavisaṁyutto arahā hoti, khīṇāsavo”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati: “Kāmayogena saṁyuttā, bhavayogena cūbhayaṁ; Sattā gacchanti saṁsāraṁ, jātimaraṇagāmino. Ye ca kāme pahantvāna, appattā āsavakkhayaṁ; Bhavayogena saṁyuttā, anāgāmīti vuccare. Ye ca kho chinnasaṁsayā, khīṇamānapunabbhavā; Te ve pāraṅgatā loke, ye pattā āsavakkhayan”ti. Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Sattamaṁ. Tatiyabhāṇavāraṁ.This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, one yoked to both sensual pleasures and rebirth is a returner, who comes back to this place. One unyoked from sensual pleasures but still yoked to rebirth is a non-returner, who comes not back to this place. One unyoked from both sensual pleasures and rebirth is a perfected one, who has ended defilements.” The Buddha spoke this matter. On this it is said: “Yoked to both sensual pleasures and the desire to be reborn in a future life; sentient beings continue to transmigrate, with ongoing birth and death. Those who’ve given up sensual pleasures without attaining the end of defilements, and are still yoked to being reborn, are said to be non-returners. Those who have cut off doubt, and ended conceit and future lives, they’re the ones in this world <j>who’ve truly crossed over, having reached the ending of defilements.” This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh mở đầu bằng cách nêu lần lượt người còn trở lại, bậc Bất lai và bậc A-la-hán. Người còn bị dục trói buộc và hữu trói buộc thì còn trở lại, còn đi đến sanh tử trong luân hồi. Người đoạn tận dục nhưng còn bị hữu trói buộc thì không trở lại cõi này. Người đoạn tận cả hai trói buộc thì là bậc A-la-hán, đã đoạn tận lậu hoặc. Theo cách đọc của người viết, 'hữu' là trói buộc vào sự hiện hữu, còn 'lậu hoặc' là các ô nhiễm trong tâm.

Bậc Bất lai là người đã đoạn tận dục nhưng còn bị hữu trói buộc. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, điểm then chốt của bậc này nằm ở chỗ dục đã đoạn tận mà hữu vẫn còn, nên vị ấy không trở lại cõi này nhưng vẫn chưa đoạn tận lậu hoặc. Kinh không nói thêm về nơi vị ấy đi đến.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: giả sử có một người thợ sửa xe từng mua thêm nhiều món đồ nghề dù trong nhà đã có đủ. Người ấy nhận ra thói quen mua sắm ấy như một sợi dây trói chặt, nên tập dừng lại trước mỗi lần mua và tự hỏi có thật sự cần món đồ ấy không. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, câu chuyện nhỏ này giúp bạn hình dung trói buộc của dục giữ người ta lại như thế nào trong đời thường.

Bậc A-la-hán là người đã chế ngự được trói buộc của dục và chế ngự được trói buộc của hữu, đã đoạn tận các lậu hoặc. Phần kệ cuối kinh nói thêm rằng vị ấy chặt đứt được nghi hoặc, đoạn tận kiêu mạn và đoạn tận tái sanh, nên chắc chắn đi đến bờ kia trong đời này.

Phần kệ cuối kinh nhắc lại các trường hợp trên theo cùng một thứ tự. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, bài kệ giúp người đọc nhớ lại lời dạy bằng văn xuôi và tự soi xem bản thân còn bị trói buộc nào giữ lại.

Chặt đứt dục và hữu thì không còn trở lại sanh tử, đó là điều Kinh Dục Ách nói với người tu.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 96 (Kāmayoga Sutta, Itivuttaka 96). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 96 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp