Phật Thuyết Như Vậy 94 · Iti 94

Kinh Quán Xét

Upaparikkha Sutta

Kinh Quán Xét dạy cách quán sát để thức đối với ngoại trần không tán loạn, tâm không trú trước nội trần, không chấp thủ và không bị khủng bố.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Vị xuất gia quán sát sao cho thức đối với ngoại trần không tán loạn và không tản rộng.
  • Tâm không trú trước nội trần, không chấp thủ và không bị khủng bố thì khổ về sanh, già, chết không sanh khởi trong tương lai.
  • Vị xuất gia đoạn tận bảy loại trói buộc và chấm dứt sợi dây sanh tử thì không tái sanh.

Kinh Quán Xét là bài kinh số 94 trong tập Phật Thuyết Như Vậy, tức bản dịch tiếng Việt của tập kinh Itivuttaka trong kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của bộ kinh. Kinh mở đầu bằng lời kể rằng điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và người kể đã được nghe.

Kinh gồm một khối liền và là một bài kinh ngắn, mở đầu bằng câu hỏi về cách quán sát để thức không tán loạn và tâm không chấp thủ. Lời đáp nói về thức đối với ngoại trần và tâm đối với nội trần, rồi bài kệ cuối kinh nói về vị Tỷ-kheo đã đoạn tận bảy loại trói buộc và không tái sanh. Kinh không kể tên từng trói buộc, mà chỉ nêu kết quả là vòng sanh tử luân chuyển đã chấm dứt.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
<i>upaparikkheyya</i>
cần phải quán sát
<i>viññāṇaṁ</i>
thức
<i>bahiddhā</i>
phía ngoại trần
<i>ajjhattaṁ</i>
phía nội trần
<i>anupādāya</i>
không chấp thủ
<i>punabbhavo</i>
sự tái sanh

Kinh Quán Xét

1Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải quán sát một cách như thế nào, như thế nào, do quán sát như vậy, thức của vị ấy đối với ngoại trần không có tán loạn, không có tản rộng, tâm không trú trước nội trần, không chấp thủ, không bị khủng bố, sẽ không có sự sanh khởi, sự tập khởi của khổ về sanh gìa, chết, trong tương lai.

Tỷ-kheo đã đoạn tận,
Cả bảy loại trói buộc,
Đã chấm dứt sợi dây,
Vòng sanh tử luân chuyển,
Đã đoạn tận chặn đứng,
Vị ấy không tái sanh.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Tathā tathā, bhikkhave, bhikkhu upaparikkheyya yathā yathāssa upaparikkhato bahiddhā cassa viññāṇaṁ avikkhittaṁ avisaṭaṁ ajjhattaṁ asaṇṭhitaṁ anupādāya na paritasseyya. Bahiddhā, bhikkhave, viññāṇe avikkhitte avisaṭe sati ajjhattaṁ asaṇṭhite anupādāya aparitassato āyatiṁ jātijarāmaraṇadukkhasamudayasambhavo na hotī”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati: “Sattasaṅgappahīnassa, netticchinnassa bhikkhuno; Vikkhīṇo jātisaṁsāro, natthi tassa punabbhavo”ti. Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Pañcamaṁ.This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “A mendicant should examine in whatever way such that, while examining, consciousness would neither be scattered nor diffused externally, nor stuck internally, and they would not be anxious because of grasping. When consciousness is neither scattered nor diffused externally, nor stuck internally, and they are not anxious because of grasping, there is no coming to be of the origin of suffering—of rebirth, old age, and death in the future.” The Buddha spoke this matter. On this it is said: “For one who has given up seven chains, a mendicant who has cut the cord, transmigration through births is finished, there’ll be no more future lives for them.” This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.

Giải nghĩa ngắn

Kinh mở đầu bằng câu hỏi về cách quán sát, rằng vị Tỷ-kheo, tức vị xuất gia nam trong Tăng đoàn, cần quán sát như thế nào để thức đối với ngoại trần không tán loạn và không tản rộng, tâm không trú trước nội trần, không chấp thủ và không bị khủng bố. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, câu hỏi này đặt quán sát làm điều kiện để khổ về sanh, già, chết không sanh khởi trong tương lai.

Kinh phân biệt hai phía của tâm là thức đối với ngoại trần và tâm đối với nội trần, và nói khi thức bên ngoài không tán loạn và tâm bên trong không trú trước thì vị ấy không chấp thủ và không bị khủng bố. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, sự phân biệt này giúp bạn thấy quán sát không chỉ là nhìn ra ngoài mà còn là nhìn lại chỗ tâm đang dừng lại bên trong.

Bài kệ cuối kinh nói về vị Tỷ-kheo đã đoạn tận bảy loại trói buộc, đã chấm dứt sợi dây và vòng sanh tử luân chuyển, đã đoạn tận và chặn đứng, nên vị ấy không tái sanh. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, kinh không kể tên từng trói buộc trong bài này, nên người viết chỉ nêu đúng điều kinh nói là bảy loại trói buộc đã được đoạn tận.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Chị Lan đang làm việc thì điện thoại báo tin liên tục, chị thấy tâm chạy theo từng tin nhắn và khó quay lại việc đang làm (không phải lời kinh). Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, khi chị đặt điện thoại sang một bên và thở chậm vài hơi trước khi làm tiếp thì tâm chị bớt tán loạn, và chị làm xong việc mà không bị cuốn theo tin nhắn.

Điểm cuối của kinh là sự không sanh khởi của khổ về sanh, già, chết trong tương lai, gắn với tâm không chấp thủ và không bị khủng bố. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, bạn có thể đọc kinh này như một hướng dẫn thực hành ngắn, bắt đầu từ việc xem tâm bạn đang tán loạn ở đâu, thay vì tìm một phương pháp ngoài đời sống hằng ngày.

Quán sát đúng cách làm thức không tán loạn, tâm không chấp thủ, và khổ về sanh, già, chết không còn sanh khởi.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Phật Thuyết Như Vậy 94 (Upaparikkha Sutta, Itivuttaka 94). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 94 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  4. Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.

Đọc tiếp