Kinh Sumanā
Sumanā Sutta
Còn gọi là: Kinh Sumana
Hai người ngang nhau về đức tin, giới và trí tuệ, chỉ khác một điều: một người hay cho, một người không. Công chúa Sumanā hỏi: rồi họ có khác nhau không?
Trước khi đọc kinh
Kinh Sumanā (Sumanā Sutta) là bài kinh mở đầu phẩm Sumanā, phần Năm Pháp của Tăng Chi Bộ. Khi Đức Thế Tôn trú tại Kỳ Viên (Jetavana) gần thành Xá-vệ (Sāvatthī), công chúa Sumanā đến yết kiến Ngài, có năm trăm cỗ xe và năm trăm công nữ theo hầu (đoạn 1.1–1.2). Theo chú giải Tăng Chi Bộ (Manorathapūraṇī), công chúa là con gái của vua nước Kiều-tát-la (Kosala), do chánh hậu sinh ra; năm bảy tuổi, khi Đức Phật mới đến Xá-vệ, công chúa được nghe Pháp và chứng quả Nhập lưu. Câu hỏi của công chúa rất cụ thể: giả sử có hai người đệ tử ngang nhau về đức tin, giới và trí tuệ, một người hay bố thí, một người không; cả hai được sinh lên cõi trời, thì họ có khác nhau không (đoạn 2.1–2.4)?
Đức Phật đáp: có. Ở cõi trời, người hay bố thí hơn hẳn người kia ở năm điều: tuổi thọ, dung sắc, an lạc, danh tiếng và quyền lực (đoạn 3.2–3.3). Trở lại làm người, cũng hơn ở năm điều ấy (đoạn 4.3–4.4). Nếu cả hai xuất gia, người từng hay bố thí phần nhiều dùng y, đồ ăn, chỗ ở, thuốc men do được thỉnh mời, và được các vị đồng tu đối xử dễ chịu bằng thân, lời và ý (đoạn 5.3–5.5). Nhưng khi cả hai đều chứng quả A-la-hán, Đức Phật nói không có sự khác nhau nào giữa sự giải thoát này với sự giải thoát kia (đoạn 6.1–6.2). Công chúa thốt lên rằng chừng ấy thôi cũng đủ lý do để bố thí, để làm phước, và Đức Phật xác nhận (đoạn 7.1–7.6). Bài kệ cuối ví người có giới, có đức tin, sống rộng rãi như vầng trăng vượt hẳn các vì sao, như mây mưa làm đầy cả gò lẫn trũng (đoạn 9.1–11.4).
Bài kinh trả lời một thắc mắc nhiều người vẫn có: nếu đã giữ giới, có đức tin, có hiểu biết, thì bố thí thêm có ích gì? Câu trả lời là có, và ích lợi ấy theo người suốt các đời, kể cả khi đã xuất gia. Nhưng kinh cũng giữ đúng thứ bậc: trước sự giải thoát, mọi hơn kém đều không còn nghĩa lý. Trong đời thường, bạn không cần chờ có nhiều tiền mới cho. Một bữa cơm mời người hàng xóm neo đơn, một phần quà gửi các Sư trong ngày khất thực, đều là việc làm phước mà theo lời kinh “giúp ích cho người đã thành chư thiên, đã làm người, đã xuất gia” (đoạn 7.6).
Ý chính
- Hai người ngang nhau về đức tin, giới, trí tuệ, chỉ khác ở chỗ một người hay bố thí (2.1–2.2).
- Ở cõi trời, người hay bố thí hơn ở năm điều: tuổi thọ, dung sắc, an lạc, danh tiếng, quyền lực (3.2–3.3).
- Trở lại làm người, người hay bố thí cũng hơn ở năm điều ấy (4.3–4.4).
- Khi xuất gia, người từng hay bố thí phần nhiều được thỉnh mời dâng cúng và được đồng tu đối xử dễ chịu (5.4–5.5).
- Khi cả hai đã chứng quả A-la-hán, không có sự khác nhau nào giữa giải thoát này và giải thoát kia (6.2).
- Thật đủ lý do để bố thí, để làm phước, vì phước giúp ích ở mọi cảnh giới (7.5–7.6).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- dāyaka / adāyaka
- người hay bố thí / người không bố thí
- dāna
- bố thí
- puñña
- phước
- ādhipateyya
- quyền lực, uy thế
- yācita
- được thỉnh mời (dâng cúng)
- sabrahmacārī
- vị đồng phạm hạnh, bạn đồng tu
- vimutti
- sự giải thoát
- macchariya
- sự keo kiệt, bỏn xẻn
Kinh Sumanā
1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn của Anàthapindika. Rồi Sumanà, con gái vua, với năm trăm thiếu nữ hộ tống trên năm trăm cỗ xe, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Sumanà, con gái vua bạch Thế Tôn:Ekaṁ samayaṁ …pe… anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho sumanā rājakumārī pañcahi rathasatehi pañcahi rājakumārisatehi parivutā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho sumanā rājakumārī bhagavantaṁ etadavoca:At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Then Princess Sumanā, escorted by five hundred chariots and five hundred royal maidens, went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
2—Ở đây, bạch Thế Tôn, có hai đệ tử của Thế Tôn đồng đẳng về tín, đồng đẳng về giới, đồng đẳng về tuệ, một có bố thí, một không bố thí. Sau khi thân hoại mạng chung, cả hai được sanh lên cõi lành Thiên giới. Giữa hai vị thiên ấy, có sự đặc thù gì, có sự sai khác gì?“Idhassu, bhante, bhagavato dve sāvakā samasaddhā samasīlā samapaññā— eko dāyako, eko adāyako. Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyyuṁ. Devabhūtānaṁ pana nesaṁ, bhante, siyā viseso, siyā nānākaraṇan”ti?“Sir, suppose there were two disciples equal in faith, ethics, and wisdom. One is a giver, one is not. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a good place, a heavenly realm. When they have become gods, would there be any distinction or difference between them?”
3Thế Tôn đáp:
—Có sự sai biệt, này Sumanà.
Người có bố thí, khi được làm vị Thiên, vượt qua vị Thiên không có bố thí trên năm phương diện. Về thiên thọ mạng, về thiên sắc, về thiên lạc, về thiên danh xưng, về thiên tăng thượng. Người có bố thí, này Sumanà, khi được làm vị Thiên, vượt qua vị Thiên không bố thí trên năm phương diện này.“Siyā, sumane”ti bhagavā avoca: “yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ devabhūto samāno pañcahi ṭhānehi adhigaṇhāti— dibbena āyunā, dibbena vaṇṇena, dibbena sukhena, dibbena yasena, dibbena ādhipateyyena. Yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ devabhūto samāno imehi pañcahi ṭhānehi adhigaṇhāti”.“There would be, Sumanā,” said the Buddha. “As a god, the one who was a giver surpasses the other in five respects: heavenly lifespan, beauty, happiness, glory, and sovereignty. As a god, the one who was a giver surpasses the other in these five respects.”
4—Bạch Thế Tôn, nếu họ từ đây mạng chung, trở lại trạng thái này, khi họ trở lại làm người, bạch Thế Tôn, có sự đặc thù gì, có sự sai khác gì?
Thế Tôn đáp:
—Có sự sai biệt, này Sumanà.
Người có bố thí, khi được làm người, vượt qua vị làm người không bố thí trên năm phương diện: Về nhân thọ mạng, về nhân sắc, về nhân lạc, về nhân danh xưng, về nhân tăng thượng. Người có bố thí, này Sumanà, khi được làm người, vượt qua vị làm người không bố thí trên năm phương diện này“Sace pana te, bhante, tato cutā itthattaṁ āgacchanti, manussabhūtānaṁ pana nesaṁ, bhante, siyā viseso, siyā nānākaraṇan”ti? “Siyā, sumane”ti bhagavā avoca: “yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ manussabhūto samāno pañcahi ṭhānehi adhigaṇhāti— mānusakena āyunā, mānusakena vaṇṇena, mānusakena sukhena, mānusakena yasena, mānusakena ādhipateyyena. Yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ manussabhūto samāno imehi pañcahi ṭhānehi adhigaṇhāti”.“But sir, if they pass away from there and come back to this place as human beings, would there still be any distinction or difference between them?” “There would be, Sumanā,” said the Buddha. “As a human being, the one who was a giver surpasses the other in five respects: human lifespan, beauty, happiness, glory, and sovereignty. As a human being, the one who was a giver surpasses the other in these five respects.”
5—Bạch Thế Tôn, nếu cả hai đều xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Giữa hai người xuất gia ấy, bạch Thế Tôn có thể có những đặc thù gì, những sai khác gì?
Thế Tôn đáp:
—Có sự sai biệt, này Sumanà.
Người có bố thí, khi được xuất gia, vượt qua vị xuất gia không có bố thí trên năm phương diện: Thường hay được yêu cầu nhận y, ít khi không được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận đồ ăn khất thực, ít khi không được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận sàng tọa, ít khi không được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận dược phẩm trị bệnh, ít khi không được yêu cầu. Vị ấy sống với những vị đồng Phạm hạnh nào, các vị này đối với vị ấy, xử sự với nhiều thân nghiệp khả ái, với ít thân nghiệp không khả ái, với nhiều khẩu nghiệp khả ái, với ít khẩu nghiệp không khả ái, với nhiều ý nghiệp khả ái, với ít ý nghiệp không khả ái, giúp đỡ với nhiều giúp đỡ khả ái, với ít giúp đỡ không khả ái. Này Sumanà, người có bố thí khi được xuất gia, vượt qua người không có bố thí trên năm phương diện này.“Sace pana te, bhante, ubho agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, pabbajitānaṁ pana nesaṁ, bhante, siyā viseso, siyā nānākaraṇan”ti? “Siyā, sumane”ti bhagavā avoca: “yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ pabbajito samāno pañcahi ṭhānehi adhigaṇhāti— yācitova bahulaṁ cīvaraṁ paribhuñjati appaṁ ayācito, yācitova bahulaṁ piṇḍapātaṁ paribhuñjati appaṁ ayācito, yācitova bahulaṁ senāsanaṁ paribhuñjati appaṁ ayācito, yācitova bahulaṁ gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṁ paribhuñjati appaṁ ayācito. Yehi kho pana sabrahmacārīhi saddhiṁ viharati tyassa manāpeneva bahulaṁ kāyakammena samudācaranti appaṁ amanāpena, manāpeneva bahulaṁ vacīkammena samudācaranti appaṁ amanāpena, manāpeneva bahulaṁ manokammena samudācaranti appaṁ amanāpena, manāpaṁyeva bahulaṁ upahāraṁ upaharanti appaṁ amanāpaṁ. Yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ pabbajito samāno imehi pañcahi ṭhānehi adhigaṇhātī”ti.“But sir, if they both go forth from the lay life to homelessness, would there still be any distinction or difference between them?” “There would be, Sumanā,” said the Buddha. “As a renunciate, the one who was a giver surpasses the other in five respects. They usually use only what they’ve been invited to accept—robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick—rarely using them without invitation. When living with other spiritual practitioners, they usually find themselves treated agreeably by them by way of body, speech, and mind, and rarely disagreeably. And they are usually presented with agreeable things by them, rarely with disagreeable ones. As a renunciate, the one who was a giver surpasses the other in these five respects.”
6—Nhưng bạch Thế Tôn, nếu cả hai đều chứng quả A-la-hán. Với hai vị chứng đạt A-la-hán ấy, bạch Thế Tôn có sự đặc thù nào, có sự sai khác nào?
—Ở đây, này Sumanà, Ta nói không có sự sai khác nào, tức là so sánh giải thoát với giải thoát.“Sace pana te, bhante, ubho arahattaṁ pāpuṇanti, arahattappattānaṁ pana nesaṁ, bhante, siyā viseso, siyā nānākaraṇan”ti? “Ettha kho panesāhaṁ, sumane, na kiñci nānākaraṇaṁ vadāmi, yadidaṁ vimuttiyā vimuttin”ti.“But sir, if they both attain perfection, as perfected ones would there still be any distinction or difference between them?” “In that case, I say there is no difference between the freedom of one and the freedom of the other.”
7—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Xa cho đến như vậy là vừa đủ để bố thí, là vừa đủ để làm cho các công đức. Vì rằng chúng là những giúp đỡ, những công đức cho chư Thiên, chúng là những giúp đỡ, những công đức cho loài Người, chúng là những giúp đỡ, những công đức cho các người xuất gia.
—Sự việc là như vậy, này Sumanà, là vừa đủ, này Sumanà, để bố thí, là vừa đủ để làm các công đức. Chúng là những giúp ích, những công đức cho chư Thiên. Chúng là những giúp ích, những công đức cho loài Người. Chúng là những giúp ích, những công đức cho những người xuất gia.“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Yāvañcidaṁ, bhante, alameva dānāni dātuṁ alaṁ puññāni kātuṁ; yatra hi nāma devabhūtassāpi upakārāni puññāni, manussabhūtassāpi upakārāni puññāni, pabbajitassāpi upakārāni puññānī”ti. “Evametaṁ, sumane. Alañhi, sumane, dānāni dātuṁ alaṁ puññāni kātuṁ. Devabhūtassāpi upakārāni puññāni, manussabhūtassāpi upakārāni puññāni, pabbajitassāpi upakārāni puññānī”ti.“It’s incredible, sir, it’s amazing! This is quite enough to justify giving gifts and making merit. For merit is helpful for those who have become gods, human beings, and renunciates.” “That’s so true, Sumanā. It’s quite enough to justify giving gifts and making merit. For merit is helpful for those who have become gods, human beings, and renunciates.”
8Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Đạo Sư lại nói thêm:Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
9–13Như mặt trăng không uế,
Đi giữa hư không giới,
Với ánh sáng bừng chói,
Giữa quần sao ở đời.
Cũng vậy, người đủ giới,
Hạng người có lòng tin,
Với bố thí, bừng chói,
Giữa xan tham ở đời.
Như mây mưa sấm sét,
Vòng hoa chóp trăm đầu,
Tràn đầy cả thung lũng,
Lan tràn cả đất bằng.
Cũng vậy, đầy tri kiến,
Đệ tử bậc Chánh Giác,
Bậc trí vượt xan tham,
Trên cả năm phương diện,
Thọ mạng và danh xưng,
Dung sắc và an lạc,
Với tài sản sung mãn,
Chết hưởng hỷ lạc thiên.“Yathāpi cando vimalo, gacchaṁ ākāsadhātuyā; Sabbe tārāgaṇe loke, ābhāya atirocati. Tatheva sīlasampanno, saddho purisapuggalo; Sabbe maccharino loke, cāgena atirocati. Yathāpi megho thanayaṁ, vijjumālī satakkaku; Thalaṁ ninnañca pūreti, abhivassaṁ vasundharaṁ. Evaṁ dassanasampanno, sammāsambuddhasāvako; Macchariṁ adhigaṇhāti, pañcaṭhānehi paṇḍito. Āyunā yasasā ceva, vaṇṇena ca sukhena ca; Sa ve bhogaparibyūḷho, pecca sagge pamodatī”ti. Paṭhamaṁ.“The moon so immaculate, journeying across the dimension of space; outshines with its radiance all the world’s stars. So too, a faithful individual, perfect in ethics, outshines with their generosity all the world’s stingy people. The thundering rain cloud, its hundred peaks wreathed in lightning, pours down over the rich earth, soaking the uplands and valleys. Even so, an astute person accomplished in vision, a disciple of the fully awakened Buddha, surpasses a stingy person in five respects: long life and fame, beauty and happiness. Lavished with riches, they depart to rejoice in heaven.”
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 5.31 (Sumanā Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 5.31 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.