Tăng Chi Bộ 4.57 · AN 4.57

Kinh Suppavāsā

Suppavāsā Sutta

Kinh Suppavāsā kể việc Suppavāsā tự tay mời Đức Phật dùng bữa, rồi dạy rằng khi Thánh nữ đệ tử bố thí đồ ăn là bố thí bốn sự cho người nhận.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Suppavāsā tự tay mời Đức Phật dùng các món ăn loại cứng và loại mềm cho đến thỏa mãn.
  • Khi Thánh nữ đệ tử bố thí đồ ăn là bố thí bốn sự cho người nhận.
  • Bốn sự ấy là thọ mạng, dung sắc, an lạc và sức mạnh, thuộc cõi Trời hay cõi Người.

Kinh Suppavāsā thuộc Tăng Chi Bộ và mang số hiệu 4.57. Bài kinh mở đầu bằng bối cảnh tại thị trấn Sajjanela của dân chúng Koli (bản Pāli ghi Pajjanika), nơi Suppavāsā mời Đức Phật dùng bữa, tiếp theo là lời dạy về bốn sự khi bố thí đồ ăn, và kết bằng phần kệ tán thán việc cúng dường như vậy. Bài kinh gồm các đoạn từ 1.1 đến 4.5. Chữ bhojanaṁ, đồ ăn, và chữ ariyasāvikā, Thánh nữ đệ tử, cho thấy người cho trong bài kinh là nữ đệ tử.

Bốn sự được nói theo cặp cho và nhận: cho thọ mạng thì người cho được chia phần thọ mạng, và tương tự với dung sắc, an lạc và sức mạnh, thuộc cõi Trời hay cõi Người. Phần kệ nhắc đến đồ ăn khéo làm, sạch, thù diệu và vị ngon, cùng việc bố thí cho vị chánh trực sống chánh hạnh.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
bhojanaṁ
đồ ăn
ariyasāvikā
Thánh nữ đệ tử
āyuṁ
thọ mạng
vaṇṇaṁ
dung sắc
sukhaṁ
an lạc
balaṁ
sức mạnh
paṭiggāhakānaṁ
những người nhận
susaṅkhataṁ
khéo làm
suciṁ
sạch
paṇītaṁ
thù diệu

Kinh Suppavāsā

1.1–1.5Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Koli tại thị trấn của dân chúng Koli tên là Sajjanela. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y cầm y bát, đi đến trú xứ của Suppavàsà, người dân Koli, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Suppavàsà người dân Koli, sau khi tự tay mời Thế Tôn dùng cho đến thỏa mãn các món ăn loại cứng và loại mềm, rồi Suppavàsà, thuộc dân tộc Koli, sau khi Thế Tôn ăn đã xong, tay đã rời khỏi bát, liền ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Suppavàsà, người dân Koli, đang ngồi một bên:Ekaṁ samayaṁ bhagavā koliyesu viharati pajjanikaṁ nāma koliyānaṁ nigamo. Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena suppavāsāya koliyadhītuyā nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho suppavāsā koliyadhītā bhagavantaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi. Atha kho suppavāsā koliyadhītā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho suppavāsaṁ koliyadhītaraṁ bhagavā etadavoca:At one time the Buddha was staying in the land of the Koliyans, where they have a town named Pajjanika. Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of Suppavāsā the Koliyan, where he sat down on the seat spread out. Then Suppavāsā served and satisfied the Buddha with her own hands with delicious fresh and cooked foods. When the Buddha had eaten and washed his hand and bowl, she sat down to one side. The Buddha said to her:

2.1–2.2—Các Thánh nữ đệ tử khi bố thí đồ ăn, này Suppavàsà, bố thí bốn sự cho những người nhận. Thế nào là bốn?“Bhojanaṁ, suppavāse, dentī ariyasāvikā paṭiggāhakānaṁ cattāri ṭhānāni deti. Katamāni cattāri?“Suppavāsā, when a noble disciple gives food, she gives the recipients four things. What four?

2.3–2.8Cho thọ mạng, cho dung sắc, cho an lạc, cho sức mạnh. Sau khi cho thọ mạng, người cho được chia phần thọ mạng, thuộc cõi Trời hay cõi Người. Sau khi cho dung sắc, người cho được chia phần dung sắc, thuộc cõi Trời hay cõi Người. Sau khi cho an lạc, người cho được chia phần an lạc, hoặc thuộc cõi Trời, hoặc thuộc cõi Người. Sau khi cho sức mạnh, người cho được chia phần sức mạnh, thuộc cõi Trời, hay cõi Người. Này Suppavàsà, khi Thánh nữ đệ tử bố thí đồ ăn, bố thí bốn sự này cho những người nhận.Āyuṁ deti, vaṇṇaṁ deti, sukhaṁ deti, balaṁ deti. Āyuṁ kho pana datvā āyussa bhāginī hoti dibbassa vā mānusassa vā. Vaṇṇaṁ datvā vaṇṇassa bhāginī hoti dibbassa vā mānusassa vā. Sukhaṁ datvā sukhassa bhāginī hoti dibbassa vā mānusassa vā. Balaṁ datvā balassa bhāginī hoti dibbassa vā mānusassa vā. Bhojanaṁ, suppavāse, dentī ariyasāvikā paṭiggāhakānaṁ imāni cattāri ṭhānāni detīti.Long life, beauty, happiness, and strength. Giving long life, she has long life as a god or human. Giving beauty, she has beauty as a god or human. Giving happiness, she has happiness as a god or human. Giving strength, she has strength as a god or human. When a noble disciple gives food, she gives the recipients these four things.

3.1–4.5Cho đồ ăn khéo làm, Sạch, thù diệu, vị ngon, Nàng với sự cúng dường, Bố thí vị chánh trực, Những vị sống chánh hạnh, Là những bậc đại hành, Với đức gặt công đức, Lại được quả to lớn, Bậc hiểu biết thế gian, Có lời tán thán nàng, Ức niệm tế đàn vậy, Họ dạo quanh thế giới, Với tâm tư hoan hỷ Nhiếp phục gốc xan tham, Không bị ai chỉ trích, Chứng đạt được cõi Trời.

Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24.

These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/

Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Susaṅkhataṁ bhojanaṁ yā dadāti, Suciṁ paṇītaṁ rasasā upetaṁ; Sā dakkhiṇā ujjugatesu dinnā, Caraṇūpapannesu mahaggatesu; Puññena puññaṁ saṁsandamānā, Mahapphalā lokavidūna vaṇṇitā. Etādisaṁ yaññamanussarantā, Ye vedajātā vicaranti loke; Vineyya maccheramalaṁ samūlaṁ, Aninditā saggamupenti ṭhānan”ti. Sattamaṁ.When she gives well-prepared food, pure, fine, and full of flavor, that offering—given to the sincere, who have good conduct, and are big-hearted— joins merit to merit. It’s very fruitful, and is praised by those who know the world. Those who recall such sacrifices, live in the world full of inspiration. They’ve driven out the stain of stinginess, <j>root and all, blameless, they go to a heavenly place.”

Giải nghĩa ngắn

Kinh gắn việc cho đồ ăn với đời sống trực tiếp của người nhận. Theo cách đọc của người viết, đồ ăn nuôi thọ mạng, giữ dung sắc, mang lại an lạc và tăng sức mạnh, nên việc cho đồ ăn không phải là việc nhỏ hay phụ thêm. Theo cách đọc của người viết, đây là cách nói cụ thể về việc cho cái đang nuôi sống con người, chứ không phải lời hứa trừu tượng về một kết quả xa vời.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chị Lan nấu thêm một phần cơm canh nóng và mang sang cho người hàng xóm mới ốm dậy, vì chị biết người ấy chưa đủ sức tự nấu bữa ăn đầy đủ. Hình ảnh ấy chỉ giúp bạn hình dung cách một bữa ăn đúng lúc nuôi dưỡng người nhận; ví dụ này của người viết, không phải lời kinh.

Người cho được chia phần tương ứng với điều đã cho cũng là điểm đáng chú ý. Theo cách đọc của người viết, kinh không nói người cho lấy lại đúng món đã cho, mà nói quả tương ứng với điều đã cho đi, thuộc cõi Trời hay cõi Người, nên việc cho đồ ăn được nhìn như một sự trao đổi lành mạnh giữa đời sống của người cho và người nhận.

Phần kệ nhấn mạnh đồ ăn khéo làm, sạch, thù diệu và vị ngon, cùng người nhận là vị chánh trực sống chánh hạnh. Theo cách đọc của người viết, sự cẩn trọng khi chuẩn bị và sự xứng đáng của người nhận cùng làm nên cúng dường có quả lớn, chứ quả ấy không chỉ nằm ở số lượng món ăn được dọn ra.

Bố thí đồ ăn là bố thí thọ mạng, dung sắc, an lạc và sức mạnh, và người cho được chia phần tương ứng.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 4.57 (Suppavāsā Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 4.57 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp