Tăng Chi Bộ 8.35 · AN 8.35

Kinh Thọ Sanh Do Bố Thí

Dānūpapatti Sutta

Kinh Thọ Sanh Do Bố Thí, AN 8.35, nói tám trường hợp thọ sanh do bố thí, từ sanh chung với nhà giàu có đến sanh chung với chư thiên các cõi, tùy theo ước nguyện mà người bố thí giữ vững trong tâm.

Trước khi đọc kinh

Tóm lại

  • Người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn và mong hưởng quả, rồi giữ vững ước nguyện trong tâm, sẽ sanh vào nơi tương ứng với ước nguyện ấy.
  • Tám thọ sanh gồm một trường hợp sanh chung với nhà giàu có, sáu trường hợp sanh chung với chư thiên các cõi và một trường hợp sanh chung với chư thiên Phạm chúng thiên.
  • Kinh nói người giữ giới thành công vì tâm hướng đến thanh tịnh, và trường hợp cuối cùng vì tâm hướng đến ly tham.

Kinh Thọ Sanh Do Bố Thí, AN 8.35, nằm trong Tăng Chi Bộ, tức bộ kinh sắp xếp các bài theo số pháp theo cách giới thiệu thông thường, và thuộc nhóm tám pháp. Bài kinh mở đầu bằng câu hỏi về tám thọ sanh do bố thí, rồi lần lượt kể tám trường hợp có cùng một khuôn mẫu.

Trong mỗi trường hợp, người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn, mong hưởng quả, giữ vững ước nguyện trong tâm, rồi sau khi thân hoại mạng chung được sanh chung với nơi người ấy hướng đến. Bảy trường hợp đầu được nói là của người giữ giới, còn trường hợp cuối cùng được nói thêm là của người đã ly tham. Người đọc vì vậy có thể theo dõi cả bài kinh bằng một mạch duy nhất, từ việc cho đến ước nguyện rồi đến nơi thọ sanh.

Thuật ngữ Pāli trong kinh
dānūpapattiyo
các thọ sanh do bố thí
sīlavato
của người giữ giới
cetopaṇidhi
ước nguyện của tâm
cātumahārājikā
chư thiên cõi Bốn Thiên vương
tāvatiṁsā
chư thiên cõi Ba mươi ba
tusitā
chư thiên cõi Đâu-xuất
brahmakāyikā
chư thiên cõi Phạm chúng
vītarāgassa
của người đã ly tham

Kinh Thọ Sanh Do Bố Thí

1.1–1.2—Này các Tỷ-kheo, có tám thọ sanh do bố thí. Thế nào là tám?“Aṭṭhimā, bhikkhave, dānūpapattiyo. Katamā aṭṭha?“Mendicants, there are these eight rebirths by giving. What eight?

1.3–1.12Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn với đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, dầu thoa, đồ nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy bố thí và mong hưởng quả. Thấy các Sát-đế-lỵ đại phú hay các Bà-la-môn đại phú, hay các gia chủ đại phú, sung túc, đầy đủ, thọ hưởng năm dục trưởng dưỡng, người ấy suy nghĩ như sau: “Mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với Sát-đế-lỵ đại phú, hay với Bà-la-môn đại phú, hay với gia chủ đại phú “. Người ấy móng tâm như vậy, trú tâm như vậy, tu tâm như vậy, tâm người ấy hướng đến hạ liệt, không tu tập hướng thượng, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với Sát-đế-lỵ đại phú, hay với Bà-la-môn đại phú, hay với gia chủ đại phú. Ta nói rằng: “Người ấy là người giữ giới, không phải là người ác giới”. Này các Tỷ-kheo, người giữ giới thành công, vì tâm hướng đến thanh tịnh.Idha, bhikkhave, ekacco dānaṁ deti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ. So yaṁ deti taṁ paccāsīsati. So passati khattiyamahāsāle vā brāhmaṇamahāsāle vā gahapatimahāsāle vā pañcahi kāmaguṇehi samappite samaṅgībhūte paricārayamāne. Tassa evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā khattiyamahāsālānaṁ vā brāhmaṇamahāsālānaṁ vā gahapatimahāsālānaṁ vā sahabyataṁ upapajjeyyan’ti. So taṁ cittaṁ dahati, taṁ cittaṁ adhiṭṭhāti, taṁ cittaṁ bhāveti. Tassa taṁ cittaṁ hīne vimuttaṁ, uttari abhāvitaṁ, tatrūpapattiyā saṁvattati. Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā khattiyamahāsālānaṁ vā brāhmaṇamahāsālānaṁ vā gahapatimahāsālānaṁ vā sahabyataṁ upapajjati. Tañca kho sīlavato vadāmi, no dussīlassa. Ijjhati, bhikkhave, sīlavato cetopaṇidhi visuddhattā.First, someone gives to ascetics or brahmins such things as food, drink, clothing, vehicles; garlands, fragrance, and makeup; and bed, house, and lighting. Whatever they give they expect back. They see a well-to-do aristocrat or brahmin or householder amusing themselves, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation. It occurs to them: ‘If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of well-to-do aristocrats or brahmins or householders!’ They settle on that thought, stabilize it, and develop it. As they’ve settled for less and not developed further, their thought leads to rebirth there. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of well-to-do aristocrats or brahmins or householders. But I say that this is only for those of ethical conduct, not for the unethical. The heart’s wish of an ethical person succeeds because of their purity.

2.1–3.15Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn với đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, dầu thoa, đồ nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy bố thí và mong hưởng quả. Nghe rằng: “Bốn Thiên vương thiên sống lâu, có dung sắc, được nhiều an lạc”, người ấy suy nghĩ như sau: “Mong rằng khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở Bốn Thiên vương … với chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba … với chư Thiên ở cõi Trời Dạ-ma … với chư Thiên ở cõi Trời Đâu-xuất … với chư Thiên ở cõi Trời Hóa lạc thiên… với chư Thiên ở cõi Trời Tha hóa Tự tại thiên … “Người ấy móng tâm như vậy, trú tâm như vậy, tu tâm như vậy, tâm người ấy hướng đến hạ liệt, không tu tập hướng thượng, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên ở cõi Bốn thiên vương … ở cõi Tha hóa Tự tại thiên, hay với Bà-la-môn đại phú, hay với gia chủ đại phú. Ta nói rằng: “Người ấy là người giữ giới, không phải là người ác giới”. Này các Tỷ-kheo, người giữ giới thành công, vì tâm hướng đến thanh tịnh.Idha pana, bhikkhave, ekacco dānaṁ deti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ. So yaṁ deti taṁ paccāsīsati. Tassa sutaṁ hoti: ‘cātumahārājikā devā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā’ti. Tassa evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā cātumahārājikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti. So taṁ cittaṁ dahati, taṁ cittaṁ adhiṭṭhāti, taṁ cittaṁ bhāveti. Tassa taṁ cittaṁ hīne vimuttaṁ, uttari abhāvitaṁ, tatrūpapattiyā saṁvattati. Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā cātumahārājikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Tañca kho sīlavato vadāmi, no dussīlassa. Ijjhati, bhikkhave, sīlavato cetopaṇidhi visuddhattā. Idha pana, bhikkhave, ekacco dānaṁ deti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ. So yaṁ deti taṁ paccāsīsati. Tassa sutaṁ hoti— tāvatiṁsā devā …pe… yāmā devā … tusitā devā … nimmānaratī devā … paranimmitavasavattī devā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulāti. Tassa evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti. So taṁ cittaṁ dahati, taṁ cittaṁ adhiṭṭhāti, taṁ cittaṁ bhāveti. Tassa taṁ cittaṁ hīne vimuttaṁ, uttari abhāvitaṁ, tatrūpapattiyā saṁvattati. Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Tañca kho sīlavato vadāmi, no dussīlassa. Ijjhati, bhikkhave, sīlavato cetopaṇidhi visuddhattā.Next, someone gives to ascetics or brahmins … Whatever they give they expect back. And they’ve heard: ‘The gods of the four great kings are long-lived, beautiful, and very happy.’ It occurs to them: ‘If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of the gods of the four great kings!’ … When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods of the four great kings. But I say that this is only for those of ethical conduct, not for the unethical. The heart’s wish of an ethical person succeeds because of their purity. Next, someone gives to ascetics or brahmins … Whatever they give they expect back. And they’ve heard: ‘The gods of the thirty-three …’ ‘The gods of Yama …’ ‘The joyful gods …’ ‘The gods who love to create …’ ‘The gods who control what is created by others are long-lived, beautiful, and very happy.’ It occurs to them: ‘If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of the gods who control what is created by others!’ They settle on that thought, stabilize it, and develop it. As they’ve settled for less and not developed further, their thought leads to rebirth there. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods who control what is created by others. But I say that this is only for those of ethical conduct, not for the unethical. The heart’s wish of an ethical person succeeds because of their purity.

4.1–4.14Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn với đồ ăn, đồ uống… Nghe rằng: “: “Chư Thiên ở Phạm chúng thiên sống lâu, có dung sắc, được nhiều an lạc”, người ấy suy nghĩ như sau: “Mong rằng..” ….hay với gia chủ đại phú. Ta nói rằng: “Người ấy là người giữ giới, không phải là người ác giới, là người ly tham, không phải là người có tham”. Này các Tỷ-kheo, người giữ giới thành công, vì tâm hướng đến thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, người giữ giới thành công, vì tâm hướng đến ly tham. Này các Tỷ-kheo, tám pháp này là tám pháp thọ sanh do bố thí.

Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24.

These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/

Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Idha pana, bhikkhave, ekacco dānaṁ deti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ. So yaṁ deti taṁ paccāsīsati. Tassa sutaṁ hoti: ‘brahmakāyikā devā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā’ti. Tassa evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmakāyikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti. So taṁ cittaṁ dahati, taṁ cittaṁ adhiṭṭhāti, taṁ cittaṁ bhāveti. Tassa taṁ cittaṁ hīne vimuttaṁ, uttari abhāvitaṁ, tatrūpapattiyā saṁvattati. Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmakāyikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Tañca kho sīlavato vadāmi, no dussīlassa; vītarāgassa, no sarāgassa. Ijjhati, bhikkhave, sīlavato cetopaṇidhi vītarāgattā. Imā kho, bhikkhave, aṭṭha dānūpapattiyo”ti. Pañcamaṁ.Next, someone gives to ascetics or brahmins such things as food, drink, clothing, vehicles; garlands, fragrance, and makeup; and bed, house, and lighting. Whatever they give they expect back. And they’ve heard: ‘The gods of the Divinity’s host are long-lived, beautiful, and very happy.’ It occurs to them: ‘If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of the gods of the Divinity’s host!’ They settle on that thought, stabilize it, and develop it. As they’ve settled for less and not developed further, their thought leads to rebirth there. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods of the Divinity’s host. But I say that this is only for those of ethical conduct, not for the unethical. And for those free of desire, not those with desire. The heart’s wish of an ethical person succeeds because of their freedom from desire. These are the eight rebirths by giving.”

Giải nghĩa ngắn

Khuôn mẫu chung của tám trường hợp là việc cho đi cùng một ước nguyện được giữ vững trong tâm. Người bố thí không chỉ cho rồi thôi mà còn hướng tâm về một nơi thọ sanh cụ thể. Kinh nói người giữ giới thành công vì tâm hướng đến thanh tịnh, và tâm ấy hướng đến hạ liệt, không tu tập hướng thượng.

Kinh nhấn mạnh người giữ giới thành công vì tâm hướng đến thanh tịnh. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, điều này cho thấy ước nguyện chỉ thành tựu khi nếp sống của người cho đã ngay thẳng, chứ không phải ước muốn suông nào cũng đưa đến quả.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chú Khải mỗi tháng trích một phần thu nhập giúp bếp ăn từ thiện và thầm mong đời sau được sống sung túc, nhưng vẫn giữ nếp sống ngay thẳng trong đời này.

Trường hợp cuối cùng khác các trường hợp trước ở chỗ người ấy đã ly tham. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, đây là chỗ bài kinh mở ra một hướng cao hơn: từ mong cầu một nơi thọ sanh tốt đẹp đến tâm không còn dính mắc vào dục.

Bảy trường hợp đầu thọ sanh tương ứng với ước nguyện hướng đến hạ liệt, tức còn mong cầu một nơi thọ sanh, và trường hợp cuối khác đi vì người ấy đã ly tham.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 8.35 (Dānūpapatti Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 8.35 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp