Kinh Tam Minh
Tevijja Sutta
Kinh Tam Minh Iti 99 định nghĩa lại danh hiệu Bà-la-môn theo ba minh chứng đạt. Kinh nói rõ ba minh ấy là gì và vì sao chỉ lời nói suông không làm nên danh hiệu ấy.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Minh thứ nhất là nhớ rõ nhiều đời sống quá khứ cùng các nét đại cương và chi tiết.
- Minh thứ hai là thấy rõ sự sống và chết của chúng sanh theo hạnh nghiệp của chúng.
- Minh thứ ba là diệt tận các lậu hoặc và an trú trong tâm giải thoát cùng tuệ giải thoát.
Kinh Tam Minh thuộc Phật Thuyết Như Vậy, tức Itivuttaka, một tập kinh trong Tiểu Bộ Kinh, tức Khuddaka Nikāya, một trong năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli. Kinh mang số hiệu Iti 99 và được Đức Phật thuyết cho các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia theo Phật.
Kinh gồm phần văn xuôi ở các đoạn 1.1 đến 5.5 nêu ba minh, phần kệ ngôn ở các đoạn 6.1 đến 7.4 nhắc lại ba minh bằng lời kệ, và phần kết ở các đoạn 8.1 đến 8.2. Sau mỗi minh, kinh nhắc rằng vô minh diệt, minh sanh, tối tăm diệt, ánh sáng sanh, do vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm và tinh cần.
Điểm chính của kinh là danh hiệu Bà-la-môn, tức bậc đáng kính trong truyền thống Ấn Độ xưa, được định nghĩa lại theo sự chứng đạt chứ không theo dòng dõi hay lời nói. Kinh nói rõ rằng chỉ bập bẹ nói lên thì không làm nên bậc có ba minh.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- tevijja
- ba minh
- brāhmaṇa
- Bà-la-môn
- vijjā
- minh, sự thấy biết
- avijjā
- vô minh
- pubbenivāsa
- đời sống quá khứ
- dibba-cakkhu
- Thiên nhãn
- āsava
- lậu hoặc
- cetovimutti
- tâm giải thoát
- paññāvimutti
- tuệ giải thoát
- muni
- bậc ẩn sĩ
Kinh Tam Minh
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng: “Một Bà-la-môn có được ba minh, một cách đúng pháp, không phải người nào khác được gọi vậy chỉ vì người này bập bẹ nói lên”. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Ta tuyên bố rằng một Bà-la-môn có được ba minh một cách đúng pháp, không phải người nào khác được gọi vậy chỉ vì người này bập bẹ nói lên?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo nhớ đến người đời quá khứ, ví như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều thành kiếp, nhiều hoại kiếp, nhiều thành hoại kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, Tỷ-kheo nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Đây là minh thứ nhất, vị ấy chứng đạt; vô minh diệt, minh sanh; tối tăm diệt, ánh sáng sanh, do vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng. Các vị chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, về lời, về ý, phỉ báng các bậc Thánh theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đoạ xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, về lời, về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng. Đây là minh thứ hai vị ấy chứng đạt; vô minh diệt, minh sanh; tối tăm diệt, ánh sáng sanh, do vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do diệt tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Đây là minh thứ ba, vị ấy chứng đạt, vô minh diệt, minh sanh; tối tăm diệt, ánh sáng sanh, do vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng một Bà-la-môn có được ba minh một cách đúng pháp, không phải người nào khác được gọi vậy chỉ vì người này bập bẹ nói lên.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Dhammenāhaṁ, bhikkhave, tevijjaṁ brāhmaṇaṁ paññāpemi, nāññaṁ lapitalāpanamattena. Kathañcāhaṁ, bhikkhave, dhammena tevijjaṁ brāhmaṇaṁ paññāpemi, nāññaṁ lapitalāpanamattena? Idha, bhikkhave, bhikkhu anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe: ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto. So tato cuto amutra udapādiṁ. Tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto. So tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Ayamassa paṭhamā vijjā adhigatā hoti, avijjā vihatā, vijjā uppannā, tamo vihato, āloko uppanno, yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato. Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā. Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā. Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti. Ayamassa dutiyā vijjā adhigatā hoti, avijjā vihatā, vijjā uppannā, tamo vihato, āloko uppanno, yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato. Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Ayamassa tatiyā vijjā adhigatā hoti, avijjā vihatā, vijjā uppannā, tamo vihato, āloko uppanno, yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato. Evaṁ kho ahaṁ, bhikkhave, dhammena tevijjaṁ brāhmaṇaṁ paññāpemi, nāññaṁ lapitalāpanamattenā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, I define a brahmin in terms of the teaching as one who is master of the three knowledges, not the other who merely repeats what they are told. How so? It’s when a mendicant recollects many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. They remember: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so they recollect their many kinds of past lives, with features and details. This is the first knowledge they achieved. Ignorance was banished and knowledge arose; darkness was banished and light arose, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute. Furthermore, with clairvoyance that is purified and superhuman, a mendicant sees sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds: ‘These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body broke up, after death, they were reborn in a good place, a heavenly realm.’ And so, with clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds. This is the second knowledge they achieved. Ignorance was banished and knowledge arose; darkness was banished and light arose, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute. Furthermore, a mendicant realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements. This is the third knowledge which they achieved. Ignorance was banished and knowledge arose; darkness was banished and light arose, as happens for a meditator who is diligent, keen, and resolute. That’s how I define a brahmin in terms of the teaching as one who is master of the three knowledges, not the other who merely repeats what they are told.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Ai biết được đời trước,
Với Thiên giới đọa xứ,
Người ấy, Ta tuyên bố,
Là vị Bà-la-môn,
Chớ không phải ai khác,
Chỉ mở miệng bập bẹ.
Ai biết được đời trước,
Thấy Thiên giới, đọa xứ,
Vị ấy đạt sanh diệt,
Thật là bậc ẩn sĩ,
Đã thành tựu thắng trí.
Ba minh này thành tựu,
Là Phạm chí ba minh,
Ta gọi vị như vậy,
Chính là bậc Ba minh,
Chớ không phải ai khác,
Do nói lời bập bẹ.“Pubbenivāsaṁ yoveti,
saggāpāyañca passati;
Atho jātikkhayaṁ patto,
abhiññāvosito muni.
Etāhi tīhi vijjāhi,
tevijjo hoti brāhmaṇo;
Tamahaṁ vadāmi tevijjaṁ,
nāññaṁ lapitalāpanan”ti.“One who knows their past lives, sees heaven and places of loss, and has attained the end of rebirth, is a sage of perfect insight. Because of these three knowledges a brahmin is a master of the three knowledges. That’s who I call a three-knowledge master, and not the other <j>who repeats what they are told.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.
#### C4Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Dasamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Minh thứ nhất là nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, từ một đời đến nhiều thành kiếp và hoại kiếp, kèm tên, dòng họ, giai cấp, khổ lạc và tuổi thọ ở từng đời. Kinh mô tả vị ấy nhớ rõ từng đời một cách cụ thể, không chung chung. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, trí nhớ này cho thấy đời sống không bắt đầu ở kiếp này và cũng không chấm dứt ở cái chết.
Minh thứ hai là thấy rõ sự sống và chết của chúng sanh bằng Thiên nhãn, tức con mắt thanh tịnh vượt khỏi mắt thường, và biết rằng chúng sanh đi về cõi dữ hay cõi lành đều do hạnh nghiệp của chúng. Người làm ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng bậc Thánh và theo tà kiến thì sanh vào cõi dữ, còn người làm thiện hạnh, không phỉ báng bậc Thánh và theo chánh kiến thì sanh lên thiện thú. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, minh này đặt đời sống của mỗi người vào tay chính hạnh nghiệp của người ấy.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Chú Khải thuộc lòng tên nhiều pháp môn và hay nhắc lại lời giảng cho người khác nghe, nhưng mỗi khi gặp chuyện trái ý, chú vẫn nóng giận và nói lời nặng nề. Chú biết tên gọi nhưng chưa sống theo điều đã học, nên lời nói của chú chưa phải là sự chứng đạt (không phải lời kinh).
Minh thứ ba là diệt tận các lậu hoặc, tức những phiền não rỉ chảy trong tâm, và an trú trong tâm giải thoát cùng tuệ giải thoát ngay trong hiện tại. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, minh thứ ba là minh rốt ráo vì nó đoạn tận gốc rễ của khổ, trong khi hai minh trước thấy rõ dòng sanh tử mà chưa đoạn tận nó. Kinh nhắc lại sau mỗi minh rằng vô minh diệt và minh sanh khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm và tinh cần.
Bậc Bà-la-môn thật là người chứng đạt ba minh, không phải người chỉ nói lên danh hiệu ấy.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 99 (Tevijja Sutta, Itivuttaka 99). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 99 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.