Kinh Căn Bản Của Bố Thí
Dānavatthusutta
Kinh này liệt kê tám căn bản đưa đến việc bố thí, từ những động cơ bất thiện đến mong muốn làm đẹp cho tâm, để bạn nhìn rõ tâm bạn khi cho đi.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Kinh liệt kê tám căn bản của bố thí, gồm cho vì lòng dục, vì sân hận, vì ngu si và vì sợ hãi.
- Các căn bản còn lại là cho để giữ truyền thống tổ tiên, để được sanh lên thiện thú, để tâm được tịnh tín, và để trang nghiêm tâm.
- Kinh kết lại bằng cách nhắc lại rằng đó là tám căn bản để bố thí.
Bài kinh này thuộc Tăng Chi Bộ, tức bộ kinh gom các bài giảng theo số pháp được nêu trong mỗi bài. Kinh Căn Bản Của Bố Thí nằm trong nhóm bài giảng nêu tám pháp, và toàn bộ nội dung chỉ trả lời một câu hỏi là có những căn bản nào đưa đến việc bố thí.
Bản kinh gốc được giữ bằng tiếng Pāli, tức ngôn ngữ cổ của tạng kinh. Về cấu trúc, bài kinh mở đầu bằng cách nêu con số tám, phần giữa liệt kê từng căn bản, và phần cuối nhắc lại con số tám để khép bài kinh.
Danh sách này bao quát cả những căn bản xuất phát từ cảm xúc trước mắt lẫn những căn bản hướng đến việc làm đẹp cho tâm.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- <i>dāna</i>
- bố thí
- <i>chanda</i>
- lòng dục, sự mong muốn
- <i>dosa</i>
- sân hận
- <i>moha</i>
- ngu si
- <i>bhaya</i>
- sợ hãi
- <i>citta</i>
- tâm
- <i>sagga</i>
- cõi trời, Thiên giới
Kinh Căn Bản Của Bố Thí
1.1–1.2—Này các Tỷ-kheo, có tám căn bản để bố thí. Thế nào là tám?“Aṭṭhimāni, bhikkhave, dānavatthūni. Katamāni aṭṭha?“Mendicants, there are these eight grounds for giving. What eight?
1.3Vì lòng dục nên bố thí; vì sân hận nên bố thí; vì ngu si nên bố thí; vì sợ hãi nên bố thí; vì nghĩ rằng: “Trước tổ tiên đã bố thí, trước đã làm. Ta không xứng đáng là người để truyền thống này bị bỏ phế” nên bố thí; vì nghĩ rằng: “Sau khi cho bố thí này, khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này” nên bố thí; vì nghĩ rằng: “Khi ta bố thí này, tâm được tịnh tín, do hân hoan, hỷ được sanh” nên bố thí; để trang nghiêm tâm, trang bị tâm, nên bố thí.Chandā dānaṁ deti, dosā dānaṁ deti, mohā dānaṁ deti, bhayā dānaṁ deti, ‘dinnapubbaṁ katapubbaṁ pitupitāmahehi, nārahāmi porāṇaṁ kulavaṁsaṁ hāpetun’ti dānaṁ deti, ‘imāhaṁ dānaṁ datvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissāmī’ti dānaṁ deti, ‘imaṁ me dānaṁ dadato cittaṁ pasīdati, attamanatā somanassaṁ upajāyatī’ti dānaṁ deti, cittālaṅkāracittaparikkhāratthaṁ dānaṁ deti.Someone might give a gift out of favoritism or hostility or stupidity or cowardice. Or they give thinking, ‘Giving was practiced by my father and my father’s father. It would not be right for me to abandon this traditional family custom.’ Or they give thinking, ‘After I’ve given this gift, when my body breaks up, after death, I’ll be reborn in a good place, a heavenly realm.’ Or they give thinking, ‘When giving this gift my mind becomes clear, and I become happy and joyful.’ Or they give a gift thinking, ‘This is an adornment and requisite for the mind.’
1.4–1.5Này các Tỷ-kheo, có tám căn bản để bố thí này.
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24.
These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/
Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.Imāni kho, bhikkhave, aṭṭha dānavatthūnī”ti. Tatiyaṁ.These are the eight grounds for giving.”
Giải nghĩa ngắn
Danh sách mở đầu bằng ba căn bản là lòng dục, sân hận và ngu si, rồi đến sợ hãi. Theo cách đọc của người viết, cách mở đầu này cho thấy việc cho đi có thể bắt nguồn từ những trạng thái tâm chưa lành mạnh, chứ không phải lúc nào cũng xuất phát từ lòng tốt.
Những căn bản tiếp theo gần với đời sống hơn, như giữ truyền thống tổ tiên đã từng cho, mong đời sau tốt đẹp, và mong tâm bạn vui vẻ khi cho. Theo cách đọc của người viết, kinh nêu cả những động cơ này mà không khen hay chê, để người nghe tự nhận diện tâm của bản thân.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: một người con tiếp tục gửi quà biếu họ hàng mỗi dịp lễ chỉ vì cha mẹ trước đây vẫn làm như vậy, rồi nhận ra bản thân làm theo thói quen nhiều hơn là vì lòng muốn cho (không phải lời kinh).
Động cơ cuối cùng là trang nghiêm tâm và trang bị tâm, được đặt sau cùng trong danh sách. Theo cách đọc của người viết, vị trí cuối cùng này gợi ý một hướng nhìn khác cho việc cho đi, khi tâm được đặt làm trọng tâm thay vì kết quả mong đợi.
Nhìn rõ căn bản nào đang thúc đẩy bản thân giúp việc bố thí trở nên sáng rõ hơn.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 8.33 (Dānavatthusutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 8.33 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.