Kinh Tinh Cần
Padhāna Sutta
Còn gọi là: Kinh Tinh Tấn, Kinh Tập 3.2
Bên bờ sông Ni-liên-thiền, thân gầy chỉ còn da bọc xương, Bồ-tát nghe một giọng nói như thương xót: hãy sống đi, sống thì còn làm phước. Đó là Ma vương, và câu trả lời của Ngài là một trong những bài kệ hùng tráng nhất của kinh điển.
Trước khi đọc kinh
Kinh Tinh Cần (Padhāna Sutta) là bài kinh thứ hai trong phẩm Lớn (Mahāvagga) của Kinh Tập. Theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), khi Ngài A-nan (Ānanda) vừa kể xong Kinh Xuất Gia với câu “tôi sẽ đi để tinh cần”, Đức Phật nghĩ đến sáu năm tu khổ hạnh của mình và tự kể lại cho chư Tỷ-kheo. Ngài kể: khi Ta dốc lòng tinh cần bên bờ sông Ni-liên-thiền (Nerañjarā), tu thiền để đạt sự an ổn khỏi các ách buộc, Namuci đến, nói những lời như thương xót: ông gầy gò, tiều tụy, cái chết đã chiếm một ngàn phần, sự sống chỉ còn một phần; hãy sống đi, sống thì còn làm được phước, sống phạm hạnh và dâng lửa cúng tế thì phước tích được nhiều, tinh cần làm gì (kệ 1.1–5.2). Theo chú giải, Namuci là tên của Ma vương (Māra), nghĩa là “kẻ không buông tha”, vì Ma vương không để ai thoát khỏi vùng cai quản của mình; Ma vương đến vì lúc ấy Bồ-tát dứt dần ăn uống, và nó sợ Ngài vượt khỏi tầm tay của nó. Chú giải giải chữ “tu thiền” ở kệ 1.3 là lối thiền nín thở mà Bồ-tát thực hành trong thời khổ hạnh.
Đức Phật đáp: Ta không cần đến chút phước nào; ai còn cần phước thì Ma vương hãy đi mà nói với họ (kệ 7.1–7.4). Theo chú giải, phước ở đây là thứ phước Ma vương nói đến, thứ phước còn đưa đi trong vòng luân hồi. Ngài có lòng tin, tinh tấn và trí tuệ (kệ 8.1–8.2); máu, mật, đàm khô dần, thịt hao mòn mà tâm càng trong sáng, niệm, tuệ và định càng vững (kệ 10.1–10.6). Rồi Ngài gọi tên đạo quân của Ma vương: các dục là đạo quân thứ nhất, kế đến là lòng chán chường, đói khát, tham ái, hôn trầm và buồn ngủ, sợ hãi, hoài nghi, thói chê bai đức tốt người khác và tính ngoan cố, rồi lợi lộc, tiếng khen, danh vọng có được do sai trái, thói tự đề cao mình mà khinh chê người (kệ 12.1–14.4). Chú giải đếm thành mười đạo quân và giải vì sao chúng đến theo thứ tự ấy: người tại gia trước hết bị các dục làm mê; xuất gia rồi thì chán chỗ vắng; sống nhờ người khác nên đói khát; đói khát sinh lòng mong cầu; tâm mỏi mệt thì hôn trầm; chưa chứng được gì mà ở rừng sâu thì sợ hãi; sợ lâu thì sinh nghi con đường; chứng được chút ít lại sinh kiêu mạn, thói chê bai người khác và tính ngoan cố; chứng hơn nữa thì lợi lộc, danh tiếng kéo đến, rồi tự đề cao mình. Ngài nói: Ta đã buộc cỏ muñja (kệ 16.1); theo chú giải, đó là dấu hiệu của chiến binh quyết không lui bước. Thà chết nơi chiến trận còn hơn sống mà chịu thua; Ta sẽ dùng trí tuệ phá tan đạo quân ấy như dùng đá đập vỡ bình đất chưa nung (kệ 16.3–19.4). Chú giải đặt các kệ 18 đến 21 vào đêm thành đạo dưới cội Bồ-đề, khi Ma vương cưỡi voi Girimekhala kéo quân đến.
Phần cuối là lời Ma vương: suốt bảy năm theo sát Đức Thế Tôn mà không tìm được kẽ hở, như con quạ mổ quanh hòn đá tưởng là cục mỡ, rồi chán nản bỏ đi; cây đàn tuột khỏi nách, Ma vương ủ rũ biến mất (kệ 22.1–25.4). Theo chú giải, bảy năm là sáu năm trước khi thành đạo và một năm sau đó. Hiểu đúng: bài kinh không khuyến khích hành xác. Chú giải kể rằng khổ hạnh không đem lại chứng ngộ, Bồ-tát nghĩ có thể có một con đường khác, nên ăn uống trở lại cho có sức rồi mới ngồi dưới cội Bồ-đề. Điều bài kinh để lại là tinh thần không lui bước, tức Ba-la-mật tinh tấn, và cái nhìn tỉnh táo về những đạo quân rất gần với đời thường: chán chường, buồn ngủ, nghi ngờ, và nhất là lợi lộc, tiếng khen, thói tự đề cao mình, như tám pháp thế gian (AN 8.6) cũng nhắc. Khi thấy mình nản lòng giữa chừng một việc tốt, bạn thử gọi đúng tên nó như Đức Phật đã làm: đây là chán chường, đây là buồn ngủ, đây là nghi ngờ. Gọi đúng tên rồi, nó bớt đi sức nặng.
Ý chính
- Ma vương khuyên Bồ-tát gầy yếu hãy sống để làm phước, vì con đường tinh cần khó đi (2.1–5.2).
- Ta không cần chút phước nào; Ta có lòng tin, tinh tấn và trí tuệ (7.1–8.4).
- Thân hao mòn mà tâm càng trong sáng, niệm, tuệ và định càng vững (10.1–10.6).
- Đạo quân của Ma vương: dục, chán chường, đói khát, tham ái, hôn trầm, sợ hãi, hoài nghi, ngoan cố, danh lợi và tự cao (12.1–14.4).
- Thà chết nơi chiến trận còn hơn sống mà chịu thua; trí tuệ phá tan đạo quân ấy (16.3–19.4).
- Bảy năm theo sát, Ma vương không tìm được kẽ hở nào nơi bậc Chánh Giác (22.1–22.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- padhāna
- sự tinh cần, nỗ lực hết sức
- Namuci
- tên của Ma vương; theo chú giải nghĩa là kẻ không buông tha
- yogakkhema
- sự an ổn khỏi các ách buộc; theo chú giải là Niết-bàn
- puñña
- phước
- senā
- đạo quân
- arati
- lòng chán chường, không ưa thích
- makkha / thambha
- thói chê bai, làm lu mờ đức tốt người khác / tính ngoan cố
- muñja
- cỏ muñja; theo chú giải, chiến binh buộc cỏ này để tỏ ý quyết không lui
Kinh Tinh Cần
1Thế Tôn:
Bên sông Ni-liên-thuyền,
Ta tinh cần tinh tấn,
Cố gắng, Ta thiền định,
Đạt an ổn khổ ách.“Taṁ maṁ padhānapahitattaṁ, nadiṁ nerañjaraṁ pati; Viparakkamma jhāyantaṁ, yogakkhemassa pattiyā.“During my time of resolute striving back on the bank of the Nerañjara River, I was meditating very hard for the sake of sanctuary from the yoke.
2Ác ma đến gần Ta,
Nói lên lời từ mẫn,
Ông ốm không dung sắc,
Ông đã gần chết rồi.Namucī karuṇaṁ vācaṁ, bhāsamāno upāgami; ‘Kiso tvamasi dubbaṇṇo, santike maraṇaṁ tava.Namucī approached, speaking words of kindness: ‘You’re thin, discolored, on the verge of death.
3Cả ngàn phần, Ông chết,
Chỉ một phần còn sống,
Hãy sống, sống tốt hơn,
Sẽ làm các công đức.Sahassabhāgo maraṇassa, ekaṁso tava jīvitaṁ; Jīva bho jīvitaṁ seyyo, jīvaṁ puññāni kāhasi.Death has a thousand parts of you, one fraction is left to life. Live, worthy sir! Life is better! Living, you can make merits.
4Như Ông sống Phạm hạnh,
Hãy đốt lửa tế tự,
Hãy chất chứa công đức,
Ông tinh tấn làm gì?Carato ca te brahmacariyaṁ, Aggihuttañca jūhato; Pahūtaṁ cīyate puññaṁ, Kiṁ padhānena kāhasi.While leading the spiritual life and serving the sacred flame, you can pile up abundant merit— so what will striving do for you?
5Khó thay, đường tinh tấn,
Khó làm, khó đạt được.
Ác ma đứng gần Phật,
Nói lên những kệ này.Duggo maggo padhānāya, dukkaro durabhisambhavo’”; Imā gāthā bhaṇaṁ māro, aṭṭhā buddhassa santike.Hard to walk is the path of striving, hard to do, a hard challenge to win.’” These are the verses Māra spoke as he stood beside the Buddha.
6Thế Tôn đã đáp lại
Lời Ác ma như sau:
Bà con ác phóng dật,
Ngươi đến đây làm gì?Taṁ tathāvādinaṁ māraṁ, bhagavā etadabravi; “Pamattabandhu pāpima, yenatthena idhāgato.When Māra had spoken in this way, the Buddha said this: “O Wicked One, kinsman of the negligent, you’re here for your own purpose.
7Với công đức nhỏ bé,
Ta đâu có cần đến?
Với ai cần công đức,
Ác ma đáng nói chúng.Aṇumattopi puññena, Attho mayhaṁ na vijjati; Yesañca attho puññena, Te māro vattumarahati.I have no need for the slightest bit of merit. Those with need for merit are fit for Māra to address.
8Đây có tín, tinh tấn,
Và Ta có trí tuệ,
Như vậy, Ta tinh tấn,
Sao Ngươi hỏi Ta sống?Atthi saddhā tathā viriyaṁ, paññā ca mama vijjati; Evaṁ maṁ pahitattampi, kiṁ jīvamanupucchasi.I have faith and energy too, and wisdom is found in me. When I am so resolute, why do you beg me to live?
9Gió này làm khô cạn,
Cho đến các dòng sông,
Làm sao khô cạn máu,
Khi Ta sống tinh tấn?Nadīnamapi sotāni, ayaṁ vāto visosaye; Kiñca me pahitattassa, lohitaṁ nupasussaye.The rivers and streams might be dried by the wind, so why, when I am resolute, should it not dry up my blood?
10Dầu máu có khô cạn,
Mật, đàm Ta khô cạn,
Dầu thịt có hủy hoại,
Tâm Ta càng tịnh tín,
Ta lại càng vững trú,
Niệm, tuệ và thiền định.Lohite sussamānamhi, Pittaṁ semhañca sussati; Maṁsesu khīyamānesu, Bhiyyo cittaṁ pasīdati; Bhiyyo sati ca paññā ca, Samādhi mama tiṭṭhati.And while the blood is drying up, the bile and phlegm dry too. And as my muscles waste away, my mind grows more serene. And all the stronger grow mindfulness and wisdom and immersion.
11Do Ta sống như vậy,
Đạt được thọ tối thượng,
Tâm không cầu các dục,
Nhìn chúng sanh thanh tịnh.Tassa mevaṁ viharato, Pattassuttamavedanaṁ; Kāmesu nāpekkhate cittaṁ, Passa sattassa suddhataṁ.As I meditate like this, having attained the supreme feeling, my mind has no interest in sensual pleasures: behold a being’s purity!
12Dục, đội quân thứ nhất.
Thứ hai, gọi bất lạc,
Thứ ba, đói và khát,
Thứ tư, gọi tham ái.Kāmā te paṭhamā senā, Dutiyā arati vuccati; Tatiyā khuppipāsā te, Catutthī taṇhā pavuccati.Sensual pleasures are your first army, the second is called discontent, hunger and thirst are the third, and the fourth is said to be craving.
13Năm, hôn trầm thụy miên,
Thứ sáu, gọi sợ hãi,
Thứ bảy, gọi nghi ngờ,
Tám, dèm pha ngoan cố.Pañcamaṁ thinamiddhaṁ te, Chaṭṭhā bhīrū pavuccati; Sattamī vicikicchā te, Makkho thambho te aṭṭhamo.Your fifth is dullness and drowsiness, the sixth is said to be cowardice, your seventh is doubt, contempt and obstinacy are your eighth.
14Lợi, danh và cung kính,
Danh vọng được tà vạy,
Ai tự đề cao mình,
Hủy báng các người khác.Lābho siloko sakkāro, Micchāladdho ca yo yaso; Yo cattānaṁ samukkaṁse, Pare ca avajānati.Profit, praise, and honor, and misbegotten fame; the extolling of oneself while scorning others.
15Ôi, này Na-mu-ci,
Đây là quân đội Ngươi,
Đây quân đội chiến trận,
Của dòng họ Kanhà,
Kẻ nhát, không thắng Ngươi,
Ai thắng Ngươi, được lạc.Esā namuci te senā, Kaṇhassābhippahārinī; Na naṁ asūro jināti, Jetvā ca labhate sukhaṁ.This is your army, Namucī, the strike force of the Dark One. Only a hero can defeat it, but in victory there lies bliss.
16Ta mang cỏ munja,
Vững thay, đây đời sống,
Thà Ta chết chiến trận,
Tốt hơn, sống thất bại.Esa muñjaṁ parihare, Dhiratthu mama jīvitaṁ; Saṅgāme me mataṁ seyyo, Yañce jīve parājito.Let me gird myself— curse my life! I’d rather die in battle than live on in defeat.
17Bị thấy đắm ở đây,
Số Sa-môn, Phạm chí,
Không biết được con đường,
Bậc giới đức thường đi.Pagāḷhettha na dissanti, Eke samaṇabrāhmaṇā; Tañca maggaṁ na jānanti, Yena gacchanti subbatā.Here some ascetics and brahmins are swallowed up, not to be seen again. And they do not know the path traveled by those true to their vows.
18Thấy khắp quân đội dàn,
Ác ma trên lưng voi,
Ta bước vào chiến trận,
Không để ai chiếm đoạt.Samantā dhajiniṁ disvā, Yuttaṁ māraṁ savāhanaṁ; Yuddhāya paccuggacchāmi, Mā maṁ ṭhānā acāvayi.Seeing Māra ready with his legions, surrounded by his bannered forces, I shall meet them in battle— they’ll never make me retreat!
19Đội ngũ quân nhà Ngươi,
Đời này và chư Thiên,
Không một ai thắng nổi,
Ta đến Ngươi với tuệ,
Như hòn đá dập nát,
Chiếc bát chưa nung chín.Yaṁ te taṁ nappasahati, Senaṁ loko sadevako; Taṁ te paññāya bhecchāmi, Āmaṁ pattaṁva asmanā.That army of yours has never been beaten by the world with all its gods. Yet I shall smash it with wisdom, like an unfired pot with a stone.
20Nhiếp phục được tâm tư,
Khéo an trú chánh niệm,
Ta sẽ đi bộ hành,
Nước này qua nước khác,
Để huấn luyện rộng rãi,
Cho những người đệ tử.Vasīkaritvā saṅkappaṁ, Satiñca sūpatiṭṭhitaṁ; Raṭṭhā raṭṭhaṁ vicarissaṁ, Sāvake vinayaṁ puthū.Having brought my thoughts under control, and established mindfulness well, I shall wander from nation to nation, guiding many disciples.
21Không phóng dật, tinh cần,
Họ hành lời Ta dạy,
Dầu Ngươi không muốn vậy,
Họ vẫn sẽ đi tới,
Chỗ nào họ đi tới,
Chỗ ấy không sầu muộn.Te appamattā pahitattā, Mama sāsanakārakā; Akāmassa te gamissanti, Yattha gantvā na socare”.Diligent and resolute, following my instructions, they will proceed despite your will, to where there is no sorrow.”
22Ác-ma:
Bảy năm, ta bước theo,
Chân theo chân Thế Tôn,
Không tìm được lỗi lầm,
Nơi Thế Tôn chánh niệm.“Satta vassāni bhagavantaṁ, Anubandhiṁ padāpadaṁ; Otāraṁ nādhigacchissaṁ, Sambuddhassa satīmato.“For seven years I followed step by step behind the Blessed One. I found no vulnerability in the mindful Awakened One.
23Như quạ bay xung quanh,
Hòn đá như đống mỡ,
Có thể có gì mềm?
Có thể có gì ngọt?Medavaṇṇaṁva pāsāṇaṁ, Vāyaso anupariyagā; Apettha muduṁ vindema, Api assādanā siyā.A crow once circled a stone that looked like a lump of fat. ‘Perhaps I’ll find something tender,’ it thought, ‘perhaps there’s something tasty.’
24Không tìm được gì ngọt,
Quạ từ đó bay đi,
Như quạ mổ hòn đá,
Ta bỏ Gotama.Aladdhā tattha assādaṁ, Vāyasetto apakkami; Kākova selamāsajja, Nibbijjāpema gotamaṁ”.But finding nothing tasty, the crow left that place. Like the crow that pecked the stone, I leave Gotama disappointed.”
25Bị sầu muộn chi phối,
Cây đàn rơi khỏi nách,
Kẻ Dạ-xoa ác ý,
Tại đấy liền biến mất.Tassa sokaparetassa, Vīṇā kacchā abhassatha; Tato so dummano yakkho, Tatthevantaradhāyathāti. Padhānasuttaṁ dutiyaṁ.So stricken with sorrow that his harp dropped from his armpit, that spirit, downcast, vanished right there.
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Kinh Tập 3.2 (Padhāna Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 3.2 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.