Kinh Hãy Đứng Dậy
Uṭṭhāna Sutta
Còn gọi là: Kinh Đứng Dậy, Kinh Tinh Cần, Kinh Tập 2.10
Bốn bài kệ ngắn như một hồi chuông: hãy đứng dậy, ngồi xuống tu thiền. Người đang bị mũi tên đâm không ngủ được, và người còn khổ đau chớ để thời khắc của mình trôi qua.
Trước khi đọc kinh
Kinh Hãy Đứng Dậy (Uṭṭhāna Sutta) là bài kinh thứ mười trong phẩm Tiểu (Cūḷavagga) của Kinh Tập, gồm bốn bài kệ. Mở đầu: hãy đứng dậy, ngồi xuống tu thiền, các vị ngủ thì được lợi ích gì; kẻ đang đau ốm, bị mũi tên đâm, làm sao ngủ cho yên (kệ 1.1–1.4)? Theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), “đứng dậy” là gắng sức, chớ lười biếng; “ngồi xuống” là ngồi kiết già để chuyên tâm vào đề mục thiền. Chú giải nói người chỉ đau ở một chỗ nhỏ trên thân, hay bị một mũi nhọn đâm sâu chừng một hai lóng tay, còn không ngủ được, huống chi khi cả thân tâm đang mang bệnh phiền não, bị năm mũi tên như tham và các phiền não khác đâm sâu vào lòng.
Chú giải kể duyên khởi. Đức Phật có lệ khi đêm nghỉ ở Kỳ Viên (Jetavana) thì ngày nghỉ ở Lộc Mẫu giảng đường (Migāramātupāsāda) do bà Tỳ-xá-khư (Visākhā) dâng cúng, và ngược lại, để làm lợi ích cho cả hai gia đình thí chủ. Hôm ấy Ngài nghỉ ở tầng trên; ở tầng dưới, năm trăm vị Tỷ-kheo mới xuất gia, ngủ trưa dậy, ngồi bàn ồn ào về những món ăn được dâng ở nhà vua Kosala hay nhà ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika). Đức Phật bảo Ngài Mục-kiền-liên (Mahāmoggallāna) làm cho các vị ấy giật mình tỉnh lại; Ngài dùng thần thông làm rung chuyển cả tòa giảng đường, các vị Tỷ-kheo hoảng sợ chạy ra, và Đức Phật nói bài kinh này. Kệ thứ hai: hãy học tập kiên quyết để đạt sự an tịnh, chớ để vua Tử thần biết các vị đang phóng dật mà bắt theo quyền mình (kệ 2.1–2.4); theo chú giải, an tịnh ở đây là Niết-bàn, và vua Tử thần là một tên gọi của Ma vương. Kệ thứ ba: hãy vượt qua lòng ái nhiễm vướng víu, chớ để thời khắc trôi qua, vì ai để lỡ thời khắc sẽ sầu muộn (kệ 3.3–3.6). Chú giải nói đó là thời khắc để làm việc của người tu, khi bậc Đạo Sư đang ở ngay trước mặt. Theo chú giải, nghe xong, năm trăm vị ấy phát tâm tu tập và đều chứng quả A-la-hán.
Kệ cuối là lời nhắc cho mọi lứa tuổi: phóng dật là bụi bặm, bụi bặm chồng lên theo sau phóng dật; nhờ không phóng dật và nhờ minh, hãy nhổ mũi tên ra khỏi chính mình (kệ 4.1–4.4). Chú giải giải phóng dật là sự vắng mặt của chánh niệm, và cho một ví dụ rất đời thường: bụi trong nhà một hai ngày vẫn chỉ là bụi, để lâu năm thành đống rác; vậy chớ nghĩ “mình còn trẻ, để sau hãy lo”. Bài kinh không bảo ta phải thức trắng, mà nhắc đừng để đời mình trôi trong mơ màng. Cùng tinh thần ấy có Pháp Cú phẩm Không Phóng Dật và Kinh Niệm Chết (AN 6.19); hình ảnh mũi tên cũng có trong Kinh Mũi Tên (SN 36.6). Sáng mai, khi chuông báo thức reo, bạn thử ngồi dậy ngay, ngồi yên vài hơi thở, và tự nhắc mình: chớ phóng dật.
Ý chính
- Hãy đứng dậy, ngồi xuống tu thiền; người bị mũi tên đâm làm sao ngủ cho yên (1.1–1.4).
- Hãy học tập kiên quyết để đạt sự an tịnh (2.1–2.2).
- Chớ để vua Tử thần thấy mình phóng dật mà bắt theo quyền mình (2.3–2.4).
- Hãy vượt qua lòng ái nhiễm vướng víu mà chư thiên và loài người đang bám vào (3.1–3.3).
- Chớ để thời khắc trôi qua; ai để lỡ thời khắc sẽ sầu muộn (3.4–3.6).
- Phóng dật là bụi bặm; nhờ không phóng dật và nhờ minh, hãy nhổ mũi tên ra khỏi mình (4.1–4.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- uṭṭhāna
- sự đứng dậy, sự gắng sức
- salla
- mũi tên; theo chú giải là các phiền não đâm vào lòng
- santi
- sự an tịnh; theo chú giải ở đây là Niết-bàn
- maccurājā
- vua Tử thần, một tên gọi của Ma vương
- visattikā
- lòng ái nhiễm vướng víu, bám vào khắp nơi
- khaṇa
- thời khắc, cơ hội
- appamāda
- không phóng dật: không buông lung, luôn tỉnh táo; theo chú giải là không xa rời chánh niệm
- vijjā
- minh; theo chú giải ở đây là trí biết các lậu hoặc đã cạn
Kinh Hãy Đứng Dậy
1–2Hãy đứng dậy, ngồi dậy,
Với người mộng ích gì?
Kẻ bệnh ngủ làm gì?
Khi mũi tên phiền lụy.
Hãy đứng dậy, ngồi dậy,
Hãy kiên trì học tập,
Đạt cho được an tịnh,
Đừng để cho thần chết,
Biết Ông là phóng dật,
Mê hoặc, chinh phục Ông.Uṭṭhahatha nisīdatha, ko attho supitena vo; Āturānañhi kā niddā, sallaviddhāna ruppataṁ. Uṭṭhahatha nisīdatha, Daḷhaṁ sikkhatha santiyā; Mā vo pamatte viññāya, Maccurājā amohayittha vasānuge.Get up and meditate! What’s the point in your sleeping? How can the afflicted slumber when inflicted by an arrow strike? Get up and meditate! Train hard for peace! The King of Death has caught you heedless— don’t let him fool you under his sway.
3Chư Thiên và loài Người,
Sống y chỉ tầm cầu,
Hãy vượt ái dục này,
Chớ để thời khắc qua,
Khi thời khắc đã qua,
Bị sầu khổ địa ngụ.Yāya devā manussā ca, sitā tiṭṭhanti atthikā; Tarathetaṁ visattikaṁ, khaṇo vo mā upaccagā; Khaṇātītā hi socanti, nirayamhi samappitā.Needy gods and humans are held back by clinging: get over it. Don’t let the moment pass you by. For if you miss your moment you’ll grieve when sent to hell.
4Phóng dật là bụi nhơ,
Bụi do phóng dật khởi,
Với minh, không phóng dật,
Tự mình rút mũi tênPamādo rajo pamādo, Pamādānupatito rajo; Appamādena vijjāya, Abbahe sallamattanoti. Uṭṭhānasuttaṁ dasamaṁ.Negligence is always dust; dust follows right behind negligence. Through diligence and knowledge, pluck out the dart from yourself.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Kinh Tập 2.10 (Uṭṭhāna Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 2.10 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.