Tinh tấn Ba-la-mật: bơi tiếp khi chưa thấy bờ
Ai cũng từng có lúc muốn bỏ cuộc vì không thấy kết quả. Chuyện vua Mahājanaka giữa biển khơi trả lời câu hỏi: cố gắng khi chưa thấy bờ thì có vô ích không?
Chữ viriya nghĩa là gì
Viriya có cùng gốc với vīra, “người dũng cảm”. Tinh tấn vì thế mang nghĩa can đảm: dám bắt đầu, dám tiếp tục, dám không bỏ cuộc. Phật Sử ví người có tinh tấn với sư tử, chúa của muông thú, dù ngồi, đứng hay đi vẫn không hề lơi lỏng, tâm luôn hăng hái; cũng vậy, hãy giữ tinh tấn vững chắc trong mọi kiếp sống (Bv 2, đoạn 138–139). Đoạn kệ cuối Hạnh Tạng nhắc: thấy lười biếng là đáng sợ và thấy tinh tấn là an ổn, hãy tinh tấn, đó là lời dạy của chư Phật (Cp 35, đoạn 15.1–15.4).
Chuyện vua Mahājanaka (Jātaka 539)
Theo truyện tiền thân, Bồ-tát là hoàng tử Mahājanaka của xứ Videha. Theo chú giải, vì ngai vàng bị chiếm, chàng lớn lên xa quê, khi trưởng thành thì theo thuyền buôn ra biển để gây dựng lại cơ nghiệp; thuyền bị đắm giữa biển lớn, và chàng bơi suốt bảy ngày. Phần kệ của Jātaka giữ lại cuộc đối thoại giữa chàng và một vị thiên nữ:
Chàng là ai chiến đấu anh hùng
Giữa đại dương xa hẳn đất bằng,
Bạn hữu là ai chàng tín nhiệm
Đến bên chàng giúp một tay cùng?Biết phận sự ta ở cõi trần,
Jātaka 539, kệ 1–2
Khi ta nỗ lực, hỡi Thiên thần,
Nơi đây giữa đại dương xa đất,
Ta đấng nam nhi gắng hết lòng.
Thiên nữ nói biển sâu không đo được, nỗ lực ấy là vô ích, chàng sẽ chết trước khi tới bờ. Mahājanaka đáp: người làm trọn việc của bậc trượng phu thì không mắc nợ bà con, chư thiên và cha mẹ, và về sau không phải hối tiếc (kệ 4). Chàng nói thêm: người đời làm việc vì mong kết quả, việc ấy có thể thành hoặc không; nhưng kết quả của việc làm thì thấy ngay trước mắt, những người khác đã chìm, còn ta vẫn đang bơi; vì thế, “ta sẽ cố gắng tùy sức, tùy khả năng, bơi sang bờ bên kia biển” (kệ 7–9). Thiên nữ khen ngợi sự nỗ lực đúng Pháp ấy (kệ 10); theo chú giải, nàng đưa chàng về Mithilā. Về sau chàng lên ngôi, và cuối đời từ bỏ ngai vàng để xuất gia.
Một câu kệ trong truyện thường được nhắc: “Người hãy cứ nỗ lực, bậc trí chớ nản lòng; ta thấy chính mình, đã được như điều mong” (kệ 16). Đó không phải lời hứa rằng ai cố gắng cũng thành công. Đó là lời nhắc rằng bỏ cuộc thì chắc chắn chìm, còn bơi thì còn cơ hội, và dù thế nào cũng không hối tiếc.
Bốn chánh tinh tấn
Kinh Nikāya không dùng chữ tinh tấn chung chung. Trong Kinh Phân Tích Bát Chánh Đạo, chánh tinh tấn là khởi lên ý muốn, cố gắng, phát khởi tinh tấn, nỗ lực để: điều ác chưa sinh thì không sinh; điều ác đã sinh thì được từ bỏ; điều thiện chưa sinh thì được sinh; điều thiện đã sinh thì được duy trì, không mất đi, tăng trưởng và viên mãn (SN 45.8, đoạn 8.2–8.5). Kinh Điềm Lành cũng xếp “không phóng dật trong các thiện pháp” vào hàng điềm lành cao quý nhất (Snp 2.4, kệ 8).
Mọi nỗ lực ấy khởi đầu từ một ý định; Đức Phật nói: “Ta nói tác ý là nghiệp” (AN 6.63, đoạn 33.3). Định nghĩa này giúp phân biệt tinh tấn với sự bận rộn. Một người làm việc mười bốn giờ một ngày để chạy theo tham vọng có thể rất chăm chỉ mà không tinh tấn theo nghĩa kinh. Tinh tấn luôn có hướng: hướng về điều thiện trong tâm.
Tinh tấn mà không kiệt sức
- Chọn một việc thiện nhỏ và làm đều đặn: mười phút ngồi thiền mỗi sáng bền hơn một ngày tu dồn dập rồi bỏ.
- Khi thấy mình nản, hãy nhớ Mahājanaka: câu hỏi không phải “bao giờ tới bờ” mà là “mình có đang bơi đúng hướng không”.
- Áp dụng bốn chánh tinh tấn vào một thói quen: ngăn một thói xấu chưa có, bỏ một thói xấu đang có, tập một thói tốt mới, giữ một thói tốt đang có.
- Nghỉ ngơi đúng lúc cũng là một phần của tinh tấn; sư tử trong Phật Sử vẫn ngồi nghỉ, chỉ là không lơi lỏng.
Gợi ý thực hành
Hãy viết ra một việc thiện bạn đã bỏ dở, có thể là thói quen đọc kinh, tập thể dục hay gọi điện cho cha mẹ. Bắt đầu lại hôm nay với mức nhỏ nhất có thể, và giữ nó trong bảy ngày. Đó là một sải tay giữa biển.
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Phật Sử (Buddhavaṃsa), chương 2, chuyện ẩn sĩ Sumedha, Bv 2 trên SuttaCentral.
- Hạnh Tạng, đoạn kệ kết, Cp 35 trên SuttaCentral.
- Jātaka 539, chuyện Mahājanaka, Ja 539 trên SuttaCentral.
- Tương Ưng Bộ 45.8, Kinh Phân Tích Bát Chánh Đạo, SN 45.8 trên SuttaCentral.
- Kinh Tập 2.4, Kinh Điềm Lành, Snp 2.4 trên SuttaCentral.
- Các đoạn kệ Jātaka trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của Giáo sư Trần Phương Lan (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam; bản trên BuddhaSasana, budsas.org), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Các câu dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli Mahāsaṅgīti.
- Các đoạn trích do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.