Kinh Tỷ-kheo-ni
Bhikkhunī Sutta
Còn gọi là: Kinh Tỳ Kheo Ni
Một vị Tỷ-kheo-ni nhắn rằng mình bệnh nặng để mời Ngài A-nan đến. Ngài đến, nói một bài Pháp ngắn về thân, đồ ăn, ái và mạn, và vị ấy tự nhận lỗi.
Trước khi đọc kinh
Kinh Tỷ-kheo-ni (Bhikkhunī Sutta) thuộc phẩm Căn, phần Bốn Pháp của Tăng Chi Bộ. Ngài A-nan (Ānanda) đang trú tại tu viện Ghosita gần thành Kiều-thưởng-di (Kosambī). Một vị Tỷ-kheo-ni nhờ một người đàn ông đến báo rằng mình bệnh nặng, xin Ngài vì lòng thương mà đến thăm (đoạn 1.3–2.3). Ngài A-nan im lặng nhận lời, đắp y, cầm bát đi đến. Thấy Ngài từ xa, vị Tỷ-kheo-ni trùm kín cả đầu rồi nằm xuống giường (đoạn 2.4–3.3). Kinh không nói rõ ý định của vị ấy. Theo chú giải Tăng Chi Bộ (Manorathapūraṇī), vị Tỷ-kheo-ni đã đem lòng luyến ái Ngài A-nan; Ngài nhận ra dáng điệu ấy nên nhẹ nhàng nói một bài Pháp để vị ấy buông bỏ lòng tham.
Bài Pháp có bốn câu. Thân này do đồ ăn mà có; nương vào đồ ăn mà phải bỏ đồ ăn. Thân này do ái mà có; nương vào ái mà phải bỏ ái. Thân này do mạn mà có; nương vào mạn mà phải bỏ mạn. Thân này do dâm dục mà có; với dâm dục, Đức Thế Tôn dạy phải cắt đứt cây cầu (đoạn 4.1–4.8). Ngài A-nan giải thích: vị Tỷ-kheo ăn với sự suy xét, không để vui đùa, không để làm đẹp, chỉ để thân này tồn tại và hỗ trợ đời sống phạm hạnh; nương vào đồ ăn như vậy mà về sau bỏ được sự lệ thuộc vào đồ ăn (đoạn 5.4–5.6). Nghe tin một vị khác đã giải thoát, vị Tỷ-kheo khởi lên mong ước “bao giờ ta cũng được như vậy”; nương vào ước muốn ấy mà bỏ được ái (đoạn 6.4–6.8). Nghe như vậy, vị ấy lại nghĩ “vị ấy làm được, sao ta không làm được”; nương vào ý chí ấy mà bỏ được mạn (đoạn 7.4–7.9). Riêng với dâm dục, Ngài không nói đến việc nương vào để bỏ, mà nhắc lại lời Đức Thế Tôn dạy phải cắt đứt cây cầu (đoạn 8.1–8.2).
Nghe xong, vị Tỷ-kheo-ni ngồi dậy, cúi đầu dưới chân Ngài A-nan, nhận lỗi là ngu dại, mê muội, bất thiện; Ngài nhận lỗi ấy và nói: thấy lỗi là lỗi, sửa chữa đúng Pháp và thu thúc về sau, đó là sự tăng trưởng trong giới luật của bậc Thánh (đoạn 9.1–9.6). Hiểu đúng: bài kinh không dạy ghét bỏ thân hay ghét bỏ mọi mong muốn. Có những mong muốn, như mong được giải thoát hay ý chí “người làm được thì ta cũng làm được”, là chiếc thuyền để qua sông, dùng xong thì bỏ. Bạn cũng có thể dùng điều ấy trong đời thường: thấy một người bạn bỏ được thuốc lá hay tập thể dục đều đặn, hãy để ý chí “họ làm được, mình cũng làm được” đẩy mình đi tới, thay vì sinh lòng ganh tị. Và cách Ngài A-nan đối xử với một người phạm lỗi, không la mắng, không bêu riếu, chỉ nói Pháp rồi nhận lời xin lỗi, là bài học về lòng từ cho bất cứ ai.
Ý chính
- Thân này do đồ ăn mà có; nương vào đồ ăn mà phải bỏ đồ ăn (4.1–4.2).
- Ăn với sự suy xét: không để vui đùa, không để làm đẹp, chỉ để thân tồn tại và hỗ trợ đời sống phạm hạnh (5.5).
- Nghe người khác đã giải thoát, khởi mong ước cho mình; nương vào ái ấy mà bỏ được ái (6.4–6.8).
- Nghĩ “vị ấy làm được, sao ta không làm được”; nương vào mạn ấy mà bỏ được mạn (7.7–7.9).
- Với dâm dục, Đức Thế Tôn dạy phải cắt đứt cây cầu (4.7–4.8).
- Thấy lỗi là lỗi, sửa chữa đúng Pháp, thu thúc về sau là sự tăng trưởng trong giới luật của bậc Thánh (9.5–9.6).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- āhāra
- đồ ăn, vật thực
- taṇhā
- ái, khát ái
- māna
- mạn, sự so sánh ta với người
- methuna
- dâm dục
- setughāta
- cắt đứt cây cầu, chặt đứt tận gốc
- paṭisaṅkhā yoniso
- suy xét chân chánh, như lý
- accaya
- lỗi lầm
- āyatiṁ saṁvara
- sự thu thúc về sau
Kinh Tỷ-kheo-ni
1Một thời, Tôn giả Ananda trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Rồi một Tỷ-kheo ni gọi một người và nói:
“—Hãy đến đây, thưa Ông. Hãy đi đến Tôn giả Ananda, và nhân danh tôi, với đầu đảnh lễ chân Tôn giả Ananda và nói: “Thưa Tôn giả, Tỷ-kheo-ni tên là … bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Tỷ-kheo-ni với đầu đảnh lễ Tôn giả Ananda và nói như sau: “Thưa Tôn giả, lành thay, nếu Tôn giả đi đến trú xứ của Tỷ-kheo-ni, đi đến Tỷ-kheo-ni ấy vì lòng từ mẫn”.
“—Thưa vâng, nữ Tôn giả”. Người ấy vâng đáp Tỷ-kheo-ni ấy, đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy nói với Tôn giả Ananda:
—Thưa Tôn giả, Tỷ-kheo-ni tên này bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, với đầu đảnh lễ chân Tôn giả Ananda, và nói như sau: “Thưa Tôn giả, lành thay, nếu Tôn giả đi đến trú xứ của Tỷ-kheo-ni, đi đến Tỷ-kheo-ni ấy vì lòng từ mẫn”.Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ āyasmā ānando kosambiyaṁ viharati ghositārāme. Atha kho aññatarā bhikkhunī aññataraṁ purisaṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, ambho purisa, yenayyo ānando tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena ayyassa ānandassa pāde sirasā vanda: ‘itthannāmā, bhante, bhikkhunī ābādhikinī dukkhitā bāḷhagilānā. Sā ayyassa ānandassa pāde sirasā vandatī’ti. Evañca vadehi: ‘sādhu kira, bhante, ayyo ānando yena bhikkhunupassayo yena sā bhikkhunī tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā’”ti. “Evaṁ, ayye”ti kho so puriso tassā bhikkhuniyā paṭissutvā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so puriso āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:So I have heard. At one time Venerable Ānanda was staying near Kosambī in Ghosita’s monastery. And then a certain nun addressed a man, “Please, my friend, go to the venerable Ānanda, and in my name bow with your head to his feet. Say to him: ‘Sir, the nun named so-and-so is sick, suffering, and gravely ill. She bows with her head to your feet.’ And then say: ‘Sir, please go to the nuns’ quarters to visit that nun out of sympathy.’” “Yes, ma’am,” that man replied. He did as the nun asked.
2Tôn giả Ananda im lặng nhận lời.“Itthannāmā, bhante, bhikkhunī ābādhikinī dukkhitā bāḷhagilānā. Sā āyasmato ānandassa pāde sirasā vandati, evañca vadeti: ‘sādhu kira, bhante, āyasmā ānando yena bhikkhunupassayo yena sā bhikkhunī tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā’”ti. Adhivāsesi kho āyasmā ānando tuṇhībhāvena.Ānanda consented with silence.
3Rồi Tôn giả Ananda, đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ Tỷ-kheo-ni. Tỷ-kheo-ni ấy thấy Tôn giả Ananda từ xa đi đến, sau khi thấy, liền trùm đầu và nằm trên giường. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Tỷ-kheo-ni ấy, sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Tôn giả Ananda nói với Tỷ-kheo-ni ấy:Atha kho āyasmā ānando nivāsetvā pattacīvaramādāya yena bhikkhunupassayo yena sā bhikkhunī tenupasaṅkami. Addasā kho sā bhikkhunī āyasmantaṁ ānandaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvā sasīsaṁ pārupitvā mañcake nipajji. Atha kho āyasmā ānando yena sā bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho āyasmā ānando taṁ bhikkhuniṁ etadavoca:Then Ānanda robed up and went to the nuns’ quarters to visit that nun, taking his bowl and robe. That nun saw Ānanda coming off in the distance. She wrapped herself up from head to foot and laid down on her cot. Then Venerable Ānanda went up to her, and sat down on the seat spread out. Then Ānanda said to the nun:
4—Này chị, thân này do đồ ăn được tác thành, y cứ vào đồ ăn; đồ ăn cần phải đoạn tận. Này chị, thân này do ái được tác thành, y cứ vào ái; ái cần phải đoạn tận. Này chị, thân này do kiêu mạn được tác thành, y cứ vào kiêu mạn; kiêu mạn cần phải đoạn tận. Này chị, thân này do dâm dục được tác thành, y cứ vào dâm dục; dâm dục, sự phá đổ cây cầu được Thế Tôn nói đến.“Āhārasambhūto ayaṁ, bhagini, kāyo āhāraṁ nissāya. Āhāro pahātabbo. Taṇhāsambhūto ayaṁ, bhagini, kāyo taṇhaṁ nissāya. Taṇhā pahātabbā. Mānasambhūto ayaṁ, bhagini, kāyo mānaṁ nissāya. Māno pahātabbo. Methunasambhūto ayaṁ, bhagini, kāyo. Methune ca setughāto vutto bhagavatā.“Sister, this body is produced by food. Relying on food, you should give up food. This body is produced by craving. Relying on craving, you should give up craving. This body is produced by conceit. Relying on conceit, you should give up conceit. This body is produced by sex. The Buddha spoke of breaking off everything to do with sex.
5Này chị, thân này do đồ ăn được tác thành, y cứ vào đồ ăn; đồ ăn cần phải đoạn tận. Như vậy, được nói đến, chính do duyên này được nói đến. Này chị, ở đây, Tỷ-kheo như lý quán sát thọ dụng món ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu, và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”. Vị ấy sau một thời gian, dầu cho y cứ vào đồ ăn, vẫn không đắm trước đồ ăn.
Này chị, thân này do đồ ăn được tác thành, y cứ vào đồ ăn; đồ ăn cần phải đoạn tận. Như vậy, được nói đến, chính do duyên này được nói đến.‘Āhārasambhūto ayaṁ, bhagini, kāyo āhāraṁ nissāya. Āhāro pahātabbo’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Idha, bhagini, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso āhāraṁ āhāreti: ‘neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya vihiṁsūparatiyā brahmacariyānuggahāya. Iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṁ na uppādessāmi. Yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro cā’ti. So aparena samayena āhāraṁ nissāya āhāraṁ pajahati. ‘Āhārasambhūto ayaṁ, bhagini, kāyo āhāraṁ nissāya āhāro pahātabbo’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.‘This body is produced by food. Relying on food, you should give up food.’ This is what I said, but why did I say it? Take a mendicant who reflects rationally on the food that they eat: ‘Not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice. In this way, I shall put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and I will have the means to keep going, blamelessness, and a comfortable abiding.’ After some time, relying on food, they give up food. That’s why I said what I said.
6Này chị, thân này do ái được tác thành, y cứ vào ái; ái cần phải đoạn tận. Như vậy, được nói đến, y cứ vào gì được nói đến như vậy? Ở đây, này chị, Tỷ-kheo nghe: “Tỷ-kheo tên này do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Vị ấy suy nghĩ: “Thật vậy, ta cũng do đoạn tận các lậu hoặc … ta sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Vị ấy, sau một thời gian, dầu y cứ vào ái, đoạn tận ái.
Này chị, thân này do ái được tác thành, y cứ vào ái; ái cần phải đoạn tận. Như vậy, được nói đến, do duyên này được nói đến.‘Taṇhāsambhūto ayaṁ, bhagini, kāyo taṇhaṁ nissāya. Taṇhā pahātabbā’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Idha, bhagini, bhikkhu suṇāti: ‘itthannāmo kira bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī’ti. Tassa evaṁ hoti: ‘kudāssu nāma ahampi āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissāmī’ti. So aparena samayena taṇhaṁ nissāya taṇhaṁ pajahati. ‘Taṇhāsambhūto ayaṁ, bhagini, kāyo taṇhaṁ nissāya taṇhā pahātabbā’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.‘This body is produced by craving. Relying on craving, you should give up craving.’ This is what I said, but why did I say it? Take a mendicant who hears this: ‘They say that the mendicant named so-and-so has realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.’ They think: ‘Oh, when will I too realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom … in this very life …’ After some time, relying on craving, they give up craving. That’s why I said what I said.
7Này chị, thân này do kiêu mạn được tác thành, y cứ vào kiêu mạn; kiêu mạn cần phải đoạn tận. Như vậy, được nói đến, y cứ vào gì được nói đến như vậy? Ở đây, này chị, Tỷ-kheo nghe: “Tỷ-kheo tên này do đoạn diệt các lậu hoặc … vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Vị ấy suy nghĩ: “Vậy sao ta không như vậy?”. Vị ấy, sau một thời gian, dầu y cứ vào kiêu mạn, đoạn tận kiêu mạn.
Này chị, thân này do kiêu mạn tác thành, y cứ vào kiêu mạn; kiêu mạn cần phải đọan tận. Như vâỵ được nói đến, do duyên này được nói đến.‘Mānasambhūto ayaṁ, bhagini, kāyo mānaṁ nissāya. Māno pahātabbo’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Idha, bhagini, bhikkhu suṇāti: ‘itthannāmo kira bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī’ti. Tassa evaṁ hoti: ‘so hi nāma āyasmā āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati; kimaṅgaṁ panāhan’ti. So aparena samayena mānaṁ nissāya mānaṁ pajahati. ‘Mānasambhūto ayaṁ, bhagini, kāyo, mānaṁ nissāya māno pahātabbo’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.‘This body is produced by conceit. Relying on conceit, you should give up conceit.’ This is what I said, but why did I say it? Take a mendicant who hears this: ‘They say that the mendicant named so-and-so has realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.’ They think: ‘Well, that venerable can realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom … in this very life … Why can’t I?’ After some time, relying on conceit, they give up conceit. That’s why I said what I said.
8Này chị, thân này do dâm dục tác thành, dâm dục, sự phá đổ cây cầu được Thế Tôn nói đến.Methunasambhūto ayaṁ, bhagini, kāyo. Methune ca setughāto vutto bhagavatā”ti.‘This body is produced by sex. The Buddha spoke of breaking off everything to do with sex.’”
9Rồi Tỷ-kheo-ni ấy, từ giường đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, với đầu đảnh lễ chân Tôn giả Ananda, và thưa với Tôn giả Ananda:
—Một lỗi con đã vi phạm, thưa Tôn giả, vì ngu đần, vì si mê, vì bất thiện. Thưa Tôn giả, mong Tôn giả Ananda chấp nhận cho con tội lỗi này là một tội lỗi để con ngăn ngừa trong tương lai !
—Thật vậy, này chị, thật sự chị đã phạm tội vì ngu đần, vì si mê, vì bất thiện. Chị đã làm như vậy. Này chị, vì Chị thấy phạm tội là phạm tội, và như Pháp phát lộ, nên chúng tôi chấp nhận tội ấy cho chị. Này chị, như vậy Luật của bậc Thánh được tăng trưởng khi thấy được phạm tội là phạm tội, và như pháp phát lộ để ngăn giữ trong tương lai.Atha kho sā bhikkhunī mañcakā vuṭṭhahitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā āyasmato ānandassa pādesu sirasā nipatitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “accayo maṁ, bhante, accagamā, yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yāhaṁ evamakāsiṁ. Tassā me, bhante, ayyo ānando accayaṁ accayato paṭiggaṇhātu, āyatiṁ saṁvarāyā”ti. “Taggha taṁ, bhagini, accayo accagamā, yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yā tvaṁ evamakāsi. Yato ca kho tvaṁ, bhagini, accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikarosi, taṁ te mayaṁ paṭiggaṇhāma. Vuddhi hesā, bhagini, ariyassa vinaye yo accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikaroti āyatiṁ saṁvaraṁ āpajjatī”ti. Navamaṁ.Then that nun rose from her cot, placed her robe over one shoulder, bowed with her head to Ānanda’s feet, and said, “I made a mistake, sir. It was foolish, stupid, and unskillful of me to act in that way. Please, sir, accept my mistake for what it is, so I can restrain myself in future.” “Indeed, sister, you made a mistake. It was foolish, stupid, and unskillful of you to act in that way. But since you have recognized your mistake for what it is, and have dealt with it properly, I accept it. For it is growth in the training of the Noble One to recognize a mistake for what it is, deal with it properly, and commit to restraint in the future.”
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 4.159 (Bhikkhunī Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 4.159 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.