Tăng Chi Bộ 10.48 · AN 10.48

Kinh Mười Pháp Người Xuất Gia Nên Thường Quán Xét

Dasadhamma Sutta

Mười câu tự hỏi ngắn gọn Đức Phật trao cho người xuất gia, nhưng người tại gia đọc cũng thấy như một tấm gương soi lại mình mỗi tối.

Trước khi đọc kinh

Kinh Mười Pháp (Dasadhamma Sutta), trong bản Pāli Mahāsaṅgīti mang tên Pabbajitaabhiṇha Sutta, nghĩa là kinh về những điều người xuất gia nên thường quán xét, thuộc Tăng Chi Bộ, phần Mười Pháp, phẩm Mắng Nhiếc. Đức Phật nêu mười điều mà người xuất gia cần thường xuyên quán xét (đoạn 1.1). Ba điều đầu nhắc về thân phận: ta đã khoác lên một hình tướng khác với người đời; sự sống của ta nương nhờ nơi người khác; ta phải có cách cư xử khác trước (đoạn 2.1–4.1). Một vị Tỷ-kheo sống nhờ bữa cơm của thí chủ, nên mỗi bước đi, mỗi lời nói đều cần xứng đáng với tấm lòng ấy.

Hai điều tiếp theo là tự xét giới hạnh: chính mình có gì để tự trách không, và các bạn đồng phạm hạnh có trí, sau khi xem xét kỹ, có gì để chê trách không (đoạn 5.1–6.1). Rồi đến hai điều quen thuộc với người đọc Kinh Năm Điều Nên Quán Xét (AN 5.57): mọi người, mọi vật ta yêu thương rồi sẽ đổi khác, sẽ phải chia lìa; ta là chủ nhân của nghiệp, thừa hưởng nghiệp, làm nghiệp nào thiện hay ác thì sẽ thừa hưởng nghiệp ấy (đoạn 7.1–9.1). Ba điều cuối hướng về sự tu tập: ngày đêm đang trôi qua, còn ta đang là người như thế nào; ta có vui thích ở nơi thanh vắng không; và ta đã chứng được điều gì xứng đáng bậc Thánh chưa, để đến phút cuối đời, khi bạn đồng tu hỏi, ta không phải hổ thẹn (đoạn 10.1–12.1).

Bài kinh rất ngắn, không có tích truyện, chỉ là một danh sách để học thuộc và tự nhắc. Người tại gia không cần áp nguyên văn mười điều, nhưng có thể mượn vài câu làm thói quen buổi tối. Câu hỏi “ngày đêm đang trôi qua, còn ta đang là người như thế nào” (đoạn 10.1) hợp với bất cứ ai: một ngày làm việc, chăm con, lo cho cha mẹ, đã qua; hôm nay mình kiên nhẫn hơn hay nóng nảy hơn, thật thà hơn hay dễ dãi hơn với chính mình? Câu hỏi về giới (đoạn 5.1) cũng thế: không phải để tự dằn vặt, mà để sáng mai bắt đầu lại nhẹ nhàng và tỉnh táo hơn, đúng tinh thần không phóng dật mà Đức Phật luôn nhắc.

Ý chính

  • Người xuất gia nên thường nhớ: ta đã khoác một hình tướng khác với người đời (2.1).
  • Sự sống của ta nương nhờ nơi người khác, nên cách cư xử phải khác trước (3.1–4.1).
  • Tự xét mình và để bạn đồng tu có trí xét mình về giới hạnh (5.1–6.1).
  • Mọi điều thương yêu rồi sẽ đổi khác, sẽ phải chia lìa (7.1).
  • Ta là chủ nhân của nghiệp, làm thiện hay ác thì thừa hưởng nghiệp ấy (8.1–9.1).
  • Ngày đêm đang trôi qua, còn ta đang là người như thế nào? (10.1)
Thuật ngữ Pāli trong kinh
pabbajita
người xuất gia
abhiṇhaṁ
thường xuyên, luôn luôn
paccavekkhati
quán xét, soi lại
vevaṇṇiya
hình tướng khác với người đời
kammassaka
chủ nhân của nghiệp
sabrahmacārī
bạn đồng phạm hạnh
suññāgāra
nơi thanh vắng, ngôi nhà trống
uttarimanussadhamma
pháp vượt hơn pháp thường của con người

Kinh Mười Pháp Người Xuất Gia Nên Thường Quán Xét

1—Này các Tỷ-kheo, có mười pháp này, vị xuất gia phải luôn luôn quán sát. Thế nào là mười?“Dasayime, bhikkhave, dhammā pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbā. Katame dasa?“Mendicants, one who has gone forth should often review these ten things. What ten?

2–7Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Ta nay đi đến tình trạng là người không có giai cấp” (mất hết giai cấp). Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Đời sống của ta tùy thuộc vào người khác.” Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Nay cử chỉ uy nghi của ta cần phải thay đổi!” Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Không biết tự ngã có chỉ trích ta về giới hạnh không?” Vị xuất gia cần luôn luôn quán sát: “Không biết các đồng Phạm hạnh có trí, sau khi tìm hiểu, có chỉ trích ta về giới hạnh không?” Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Mọi sự vật khả ái, khả ý của ta bị đổi khác, bị biến hoại”.‘Vevaṇṇiyamhi ajjhupagato’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ. ‘Parapaṭibaddhā me jīvikā’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ. ‘Añño me ākappo karaṇīyo’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ. ‘Kacci nu kho me attā sīlato na upavadatī’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ. ‘Kacci nu kho maṁ anuvicca viññū sabrahmacārī sīlato na upavadantī’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ. ‘Sabbehi me piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.One who has gone forth should often review this: ‘I have secured freedom from class.’ ‘My livelihood is tied up with others.’ ‘My behavior should be different.’ ‘I hope there’s no reason to blame myself when it comes to ethical conduct?’ ‘I hope that, after examination, sensible spiritual companions don’t reproach any aspect of my ethics?’ ‘I must be parted and separated from all I hold dear and beloved.’

8–12Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Ta là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là thai tạng của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ quy hướng của nghiệp; phàm nghiệp gì ta sẽ làm, thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”. Vị xuất gia cần phải luôn quán sát: “Đêm ngày trôi qua bên ta và nay ta đã thành người như thế nào?” Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Ta có cố gắng hoan hỷ trong ngôi nhà trống không hay không?” Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: “Ta có chứng được pháp Thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh không, để đến những ngày cuối cùng, các đồng Phạm hạnh có hỏi, ta sẽ không có xấu hổ?”‘Kammassakomhi kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇo, yaṁ kammaṁ karissāmi kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā tassa dāyādo bhavissāmī’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ. ‘Kathaṁbhūtassa me rattindivā vītivattantī’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ. ‘Kacci nu kho ahaṁ suññāgāre abhiramāmī’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ. ‘Atthi nu kho me uttari manussadhammo alamariyañāṇadassanaviseso adhigato, yenāhaṁ pacchime kāle sabrahmacārīhi puṭṭho na maṅku bhavissāmī’ti pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ.‘I am the owner of my deeds and heir to my deeds. Deeds are my womb, my relative, and my refuge. I shall be the heir of whatever deeds I do, whether good or bad.’ ‘As the days and nights pass by, what sort of person am I becoming?’ ‘Do I love to stay in empty huts?’ ‘Do I have any superhuman distinctions in knowledge and vision worthy of the noble ones, so that when my spiritual companions question me on my deathbed I will not be embarrassed?’

13Này các Tỷ-kheo, mười pháp này, vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát.Ime kho, bhikkhave, dasa dhammā pabbajitena abhiṇhaṁ paccavekkhitabbā”ti. Aṭṭhamaṁ.One who has gone forth should often review these ten things.”

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 10.48 (Dasadhamma Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 10.48 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp