Kinh Người Nhiệt Tâm
Ātāpī Sutta
Kinh Người Nhiệt Tâm nói về hai phẩm chất quyết định việc một vị Tỷ-kheo có thể chứng được giác ngộ hay không: nhiệt tình và biết sợ hãi điều xấu.
Trước khi đọc kinh
Tóm lại
- Tỷ-kheo không có nhiệt tình, không có sợ hãi thì không thể chứng được Chánh giác, không chứng được Niết-bàn, không chứng được vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
- Tỷ-kheo có nhiệt tình, có sợ hãi thì có thể chứng được giác ngộ, chứng được Niết-bàn, chứng được vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
- Người giữ chánh niệm, tu thiền định, nhiệt tình, biết sợ hãi và không phóng dật thì sau khi chặt đứt kiết sử sanh và già, ngay ở đây có thể đạt Chánh Đẳng Giác vô thượng.
Kinh Người Nhiệt Tâm thuộc Phật Thuyết Như Vậy, một tập kinh ngắn trong Tiểu Bộ của kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của kinh. Kinh nói với các Tỷ-kheo, tức các vị xuất gia theo Phật, và nêu một cặp phẩm chất đối lập nhau một cách trực tiếp. Kinh mở đầu bằng lời kể lại điều Thế Tôn đã nói, rồi nêu hai trường hợp đối lập, và kết bằng bài kệ mô tả hai hạng Tỷ-kheo.
Cấu trúc của kinh đi từ văn xuôi sang kệ. Phần văn xuôi ở đoạn 1.1 đến 2.4 nêu hai trường hợp: không nhiệt tình và không sợ hãi thì không chứng được, còn có nhiệt tình và có sợ hãi thì chứng được. Phần kệ ở đoạn 3.1 đến 4.4 mô tả hạng Tỷ-kheo biếng nhác, nhiều hôn trầm thụy miên, không biết xấu hổ và không có lòng tôn kính, rồi mô tả hạng Tỷ-kheo giữ chánh niệm, tu thiền định và không phóng dật.
Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, cặp nhiệt tình và sợ hãi ở đây không phải là sự nôn nóng hay nỗi lo sợ thông thường mà là sự tinh cần bền bỉ đi cùng với sự dè dặt trước điều xấu.
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- ātāpī
- nhiệt tâm, nhiệt tình, tinh cần
- ottāpī
- biết sợ hãi điều xấu, biết dè dặt
- kusīta
- biếng nhác
- thinamiddha
- hôn trầm thụy miên, buồn ngủ và nặng nề
- saṁyojana
- kiết sử, sự trói buộc
- sambodhi
- Chánh giác, giác ngộ
- nibbāna
- Niết-bàn, sự dập tắt khổ
- sati
- chánh niệm, sự ghi nhớ tỉnh táo
- jhāyī
- người tu thiền định
- yogakkhema
- an ổn khỏi khổ ách
Kinh Người Nhiệt Tâm
1Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có nhiệt tình, không có sợ hãi, không có thể chứng được Chánh giác, không có thể chứng được Niết-bàn, không có thể chứng được vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có nhiệt tình, có sợ hãi, có thể chứng được giác ngộ, có thể chứng được Niết-bàn, có thể chứng được vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ: “Anātāpī, bhikkhave, bhikkhu anottāpī abhabbo sambodhāya, abhabbo nibbānāya, abhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya. Ātāpī ca kho, bhikkhave, bhikkhu ottāpī bhabbo sambodhāya, bhabbo nibbānāya, bhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāyā”ti. Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard. “Mendicants, without being keen and prudent a mendicant can’t achieve awakening, extinguishment, and the supreme sanctuary from the yoke. But if a mendicant is keen and prudent they can achieve awakening, extinguishment, and the supreme sanctuary from the yoke.” The Buddha spoke this matter. On this it is said:
2Người không có nhiệt tình,
Không có biết sợ hãi,
Biếng nhác, không tinh cần,
Nhiều hôn trầm thụy miên,
Không biết đến xấu hổ,
Không có lòng tôn kính,
Vị Tỷ-kheo như vậy,
Không có thể đạt tới,
Tối thượng Chánh-Đẳng-Giác.
Ai giữ được chánh niệm,
Thông minh, tu thiền định,
Nhiệt tình, biết sợ hãi,
Và không có phóng dật,
Sau khi chặt đứt được
Kiết sử sanh và già,
Ở đây có thể đạt,
Chánh Đẳng Giác vô thượng.“Anātāpī anottāpī,
kusīto hīnavīriyo;
Yo thinamiddhabahulo,
ahirīko anādaro;
Abhabbo tādiso bhikkhu,
phuṭṭhuṁ sambodhimuttamaṁ.
Yo ca satimā nipako jhāyī,
Ātāpī ottāpī ca appamatto;
Saṁyojanaṁ jātijarāya chetvā,
Idheva sambodhimanuttaraṁ phuse”ti.“Neither keen nor prudent, lazy, lacking energy, full of dullness and drowsiness, unconscientious, lacking regard for others, such a mendicant is incapable of experiencing the highest awakening. One who is mindful, alert, meditative, keen, prudent, and diligent, having cut the fetter of birth and old age, would experience supreme awakening <j>in this very life.”
3Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti. Sattamaṁ.This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Giải nghĩa ngắn
Kinh nêu hai trường hợp đối lập nhau hoàn toàn. Trường hợp thứ nhất là Tỷ-kheo không có nhiệt tình và không có sợ hãi thì không thể chứng được Chánh giác, không chứng được Niết-bàn và không chứng được vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Trường hợp thứ hai là Tỷ-kheo có nhiệt tình và có sợ hãi thì có thể chứng được cả ba điều ấy.
Bài kệ mô tả hạng Tỷ-kheo thứ nhất bằng nhiều nét: biếng nhác, không tinh cần, nhiều hôn trầm thụy miên, không biết xấu hổ và không có lòng tôn kính. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, các nét này đi chung với nhau vì một tâm lười biếng thì khó giữ được sự dè dặt, và một tâm không dè dặt thì càng dễ buông thả.
Bài kệ mô tả hạng Tỷ-kheo thứ hai bằng những nét đối lập: giữ chánh niệm, thông minh, tu thiền định, nhiệt tình, biết sợ hãi và không phóng dật. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, chánh niệm và thiền định ở đây là nền tảng giữ cho nhiệt tình không trở thành nôn nóng, và sự sợ hãi giữ cho tinh cần không trở thành liều lĩnh.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh (không phải lời kinh): chị Lan học một kỹ năng mới, những tuần đầu chị tập đều đặn mỗi ngày và dè dặt không nhận việc vượt sức, nhờ vậy chị tiến bộ chậm mà chắc, khác hẳn những lần trước chị hăng hái vài hôm rồi bỏ dở.
Bài kệ kết bằng hình ảnh người chặt đứt kiết sử sanh và già rồi ngay ở đây đạt Chánh Đẳng Giác vô thượng. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, chữ ngay ở đây nhắc rằng quả của sự tinh cần không phải là chuyện chỉ thuộc về đời sau xa xôi mà bắt đầu từ chính đời sống hiện tại.
Có nhiệt tình và biết sợ hãi điều xấu thì con đường chứng ngộ mới mở ra, còn thiếu hai phẩm chất ấy thì con đường ấy đóng lại.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Phật Thuyết Như Vậy 34 (Ātāpī Sutta, Itivuttaka 34). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Iti 34 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Hai Pháp; bản trên phatphapungdung.com, lấy ngày 24/10/2026). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Tên kinh tiếng Việt do Hoan Hỉ đặt theo tên Pāli; bản dịch của HT. Thích Minh Châu không đặt tên riêng cho từng kinh trong Phật Thuyết Như Vậy.