Tăng Chi Bộ 4.61 · AN 4.61

Kinh Việc Làm Xứng Đáng

Pattakamma Sutta

Còn gọi là: Kinh Việc Nên Làm

Có của rồi thì dùng vào đâu? Đức Phật dạy ông Cấp Cô Độc bốn việc xứng đáng, để khi nhìn lại, người tại gia có thể nói: việc ta làm không có gì phải hối tiếc.

Trước khi đọc kinh

Kinh Việc Làm Xứng Đáng (Pattakamma Sutta), còn gọi là Kinh Việc Nên Làm, là bài kinh mở đầu phẩm Việc Làm Xứng Đáng, phần Bốn Pháp của Tăng Chi Bộ. Đức Phật nói với gia chủ Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) về bốn điều đáng ưa, đáng thích, đáng mến mà khó có được ở đời: mong của cải đến với mình một cách hợp pháp; có của rồi, mong có danh tiếng cùng với bà con và bạn bè thân thiết; mong sống lâu; và sau khi chết được sinh về cõi trời (đoạn 2.3–5.1). Theo chú giải Tăng Chi Bộ (Manorathapūraṇī), “hợp pháp” nghĩa là của cải đến cùng với Pháp, không phải do làm tổn hại đến Pháp. Chữ được dịch là “bạn bè thân thiết” vốn là upajjhāya, thường chỉ vị thầy tế độ; nhưng ở đây chú giải giải thích là những người quen biết, thân cận, mình trông vào lúc vui cũng như lúc khổ.

Bốn điều đưa đến những mong ước ấy là đầy đủ lòng tin, giới, bố thí và trí tuệ (đoạn 6.3). Trí tuệ ở đây được giảng rất đời: người để tâm bị tham lam bất chính, sân hận, hôn trầm, trạo cử hay hoài nghi chế ngự thì làm điều không nên làm, bỏ bê điều nên làm, và đánh mất cả danh tiếng lẫn an vui; người biết đó là cấu uế của tâm mà từ bỏ thì gọi là người có trí tuệ (đoạn 10.2–12.6). Rồi Đức Phật dạy bốn việc xứng đáng làm với của cải “do siêng năng nỗ lực làm ra, do sức đôi tay gây dựng, do mồ hôi đổ xuống, hợp pháp” (đoạn 13.1): làm cho chính mình, cha mẹ, vợ con, người làm công, bạn bè được an vui (đoạn 13.3–13.6); phòng ngừa tai họa do lửa, nước, vua quan, trộm cướp (đoạn 14.1–14.2); làm năm việc cúng hiến cho bà con, khách, người đã khuất, nhà vua và chư thiên (đoạn 15.1–15.2), mà theo chú giải là tên gọi chung cho sự cho đi đúng mức với từng nơi; và dâng cúng các vị Sa-môn, Bà-la-môn sống nhẫn nại, hiền hòa, tự điều phục mình (đoạn 16.1). Của cải tiêu vào việc khác ngoài bốn việc này là dùng không đúng chỗ (đoạn 17.2).

Bài kinh này giống như một bảng ngân sách theo lời Phật dạy. Điều đáng chú ý là việc làm cho chính mình an vui đứng ngay đầu, trước cả cha mẹ: Đức Phật không dạy người tại gia phải bỏ đói bản thân để làm phước. Phần phòng ngừa tai họa nay có thể là quỹ dự phòng, bảo hiểm. Phần cúng hiến cho người đã khuất là chỗ cho lòng hiếu kính với ông bà. Phần cúng dường giữ cho đời sống có hướng lên cao. Cuối tháng, bạn có thể ngồi lại xem tiền mình đã đi về đâu, xếp vào bốn ô ấy, và nhận ra khoản nào đang “dùng không đúng chỗ”. Bài kệ kết hứa với người sống như vậy một niềm vui giản dị: nhìn lại mà không hối tiếc, đời này được ngợi khen, đời sau vui ở cõi trời (kệ 19.3–20.4). Xem thêm cách làm ra của cải trong Kinh Dīghajāṇu (AN 8.54).

Ý chính

  • Bốn điều đáng ưa mà khó có: của cải hợp pháp, danh tiếng, sống lâu, sinh về cõi trời (2.3–5.1).
  • Bốn điều đưa đến những mong ước ấy: đầy đủ lòng tin, giới, bố thí, trí tuệ (6.3).
  • Tâm bị tham lam bất chính hay sân hận chế ngự thì làm điều không nên làm, bỏ bê điều nên làm (10.2–10.5).
  • Với của cải làm ra chân chính, làm cho mình, cha mẹ, vợ con, người làm, bạn bè được an vui (13.3–13.6).
  • Phòng ngừa tai họa, làm năm việc cúng hiến, và dâng cúng các vị Sa-môn, Bà-la-môn sống điều phục (14.1–16.1).
  • Người dùng của đúng bốn việc ấy nhìn lại thì không hối tiếc, đời này được khen, đời sau vui ở cõi trời (19.3–20.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
pattakamma
việc làm xứng đáng, việc nên làm
sahadhammena
một cách hợp pháp; theo chú giải là cùng với Pháp, không làm tổn hại Pháp
upajjhāya
ở kinh này không chỉ thầy tế độ; theo chú giải là bạn bè quen thân, người mình trông vào lúc vui lúc khổ
abhijjhāvisamalobha
tham lam bất chính
cittassa upakkilesa
cấu uế của tâm
pañcabali
năm việc cúng hiến: cho bà con, khách, người đã khuất, nhà vua, chư thiên
pubbapeta
người đã khuất, ông bà tổ tiên
ananutāpiya
không phải hối tiếc

Kinh Việc Làm Xứng Đáng

1Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:Then the householder Anāthapiṇḍika went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:

2–3—Có bốn pháp này, này Gia chủ, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó được ở đời. Thế nào là bốn?

“Mong rằng tài sản khởi lên cho ta đúng pháp”. Đây là pháp thứ nhất, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó được ở đời. “Tài sản đã được đúng pháp, mong rằng tiếng tốt được đồn về ta, cùng với bà con, và các bậc Thầy”. Đây là pháp thứ hai, khả lạc… khó được ở đời. “Tài sản đã được đúng pháp, tiếng tốt đã được đồn về ta, cùng với bà con, và các bậc Thầy, mong rằng ta sống lâu, hộ trì thọ mạng kéo dài”.
“Cattārome, gahapati, dhammā iṭṭhā kantā manāpā dullabhā lokasmiṁ. Katame cattāro? Bhogā me uppajjantu sahadhammenāti, ayaṁ paṭhamo dhammo iṭṭho kanto manāpo dullabho lokasmiṁ. Bhoge laddhā sahadhammena yaso me āgacchatu saha ñātīhi saha upajjhāyehīti, ayaṁ dutiyo dhammo iṭṭho kanto manāpo dullabho lokasmiṁ.“Householder, these four things, which are likable, desirable, and agreeable are hard to get in the world. What four? The first thing is the wish: ‘May wealth come to me by legitimate means!’ The second thing, having got wealth by legitimate means, is the wish: ‘May fame come to me, together with my family and mentors.’

4–5Đây là pháp thứ ba, khả lạc… khó được ở đời. “Tài sản đã được đúng pháp, tiếng tốt đã được đồn về ta, cùng với bà con, và các bậc Thầy, sau khi được sống lâu, hộ trì thọ mạng kéo dài, mong rằng khi thân hoại mạng chung, ta sanh lên cõi thiện, cõi Trời, cõi đời này”. Đây là pháp thứ tư, khả lạc… khó được ở đời.

Bốn pháp này, này Gia chủ, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó tìm được ở đời.

Này Gia chủ, đối với bốn pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó được ở đời này, có bốn pháp đưa đến chứng được những pháp ấy. Thế nào là bốn?
Bhoge laddhā sahadhammena yasaṁ laddhā saha ñātīhi saha upajjhāyehi ciraṁ jīvāmi dīghamāyuṁ pālemīti, ayaṁ tatiyo dhammo iṭṭho kanto manāpo dullabho lokasmiṁ. Bhoge laddhā sahadhammena yasaṁ laddhā saha ñātīhi saha upajjhāyehi ciraṁ jīvitvā dīghamāyuṁ pāletvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjāmīti, ayaṁ catuttho dhammo iṭṭho kanto manāpo dullabho lokasmiṁ. Ime kho, gahapati, cattāro dhammā iṭṭhā kantā manāpā dullabhā lokasmiṁ.The third thing, having got wealth and fame, is the wish: ‘May I live long, keeping alive for a long time!’ The fourth thing, having got wealth, fame, and long life, is the wish: ‘When my body breaks up, after death, may I be reborn in a good place, a heavenly realm!’ These are the four things, which are likable, desirable, and agreeable, but hard to get in the world.

6Đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ.Imesaṁ kho, gahapati, catunnaṁ dhammānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ dullabhānaṁ lokasmiṁ cattāro dhammā paṭilābhāya saṁvattanti. Katame cattāro? Saddhāsampadā, sīlasampadā, cāgasampadā, paññāsampadā.These next four things lead to the getting of those four things. What four? Accomplishment in faith, ethics, generosity, and wisdom.

7Và này Gia chủ, thế nào là đầy đủ lòng tin? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: Vị này là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Này Gia chủ, đây gọi là đầy đủ lòng tin.Katamā ca, gahapati, saddhāsampadā? Idha, gahapati, ariyasāvako saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṁ: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi, satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti. Ayaṁ vuccati, gahapati, saddhāsampadā.And what is accomplishment in faith? It’s when a noble disciple has faith in the Realized One’s awakening: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ This is called accomplishment in faith.

8Và này Gia chủ, thế nào là đầy đủ giới? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử từ bỏ sát sanh… từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Này Gia chủ, đây gọi là đầy đủ giới.Katamā ca, gahapati, sīlasampadā? Idha, gahapati, ariyasāvako pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato hoti. Ayaṁ vuccati, gahapati, sīlasampadā.And what is accomplishment in ethics? It’s when a noble disciple doesn’t kill living creatures, steal, commit sexual misconduct, lie, or consume intoxicants of beer, wine, and liquor. This is called accomplishment in ethics.

9Và này Gia chủ, thế nào là đầy đủ bố thí? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử sống ở gia đình, tâm không bị cấu uế xan tham chi phối, bố thí rộng rãi, với bàn tay rộng mở, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, vui thích san sẻ vật bố thí. Này Gia chủ, đây gọi là đầy đủ bố thí.Katamā ca, gahapati, cāgasampadā? Idha, gahapati, ariyasāvako vigatamalamaccherena cetasā agāraṁ ajjhāvasati muttacāgo payatapāṇi vosaggarato yācayogo dānasaṁvibhāgarato. Ayaṁ vuccati, gahapati, cāgasampadā.And what is accomplishment in generosity? It’s when a noble disciple lives at home with heart rid of the stain of stinginess, freely generous, open-handed, loving to let go, committed to charity, loving to give and to share. This is called accomplishment in generosity.

10Và này Gia chủ, thế nào là đầy đủ trí tuệ? Này Gia chủ, sống với tâm bị dục tham chinh phục, làm việc không nên làm, không làm việc nên làm. Do làm việc không nên làm, không làm việc nên làm, vị ấy rời khỏi danh tiếng và an lạc. Này Gia chủ, sống với tâm vị sân hận chinh phục… sống với tâm bị hôn trầm thụy miên chinh phục… sống với tâm bị trạo hối chinh phục… sống với tâm bị nghi chinh phục, làm việc không nên làm, không làm việc nên làm; do làm việc không nên làm, không làm việc nên làm, vị ấy rời khỏi danh tiếng và an lạc.Katamā ca, gahapati, paññāsampadā? Abhijjhāvisamalobhābhibhūtena, gahapati, cetasā viharanto akiccaṁ karoti, kiccaṁ aparādheti. Akiccaṁ karonto kiccaṁ aparādhento yasā ca sukhā ca dhaṁsati. Byāpādābhibhūtena, gahapati, cetasā viharanto akiccaṁ karoti, kiccaṁ aparādheti. Akiccaṁ karonto kiccaṁ aparādhento yasā ca sukhā ca dhaṁsati. Thinamiddhābhibhūtena, gahapati, cetasā viharanto akiccaṁ karoti kiccaṁ aparādheti. Akiccaṁ karonto kiccaṁ aparādhento yasā ca sukhā ca dhaṁsati. Uddhaccakukkuccābhibhūtena, gahapati, cetasā viharanto akiccaṁ karoti, kiccaṁ aparādheti. Akiccaṁ karonto kiccaṁ aparādhento yasā ca sukhā ca dhaṁsati. Vicikicchābhibhūtena, gahapati, cetasā viharanto akiccaṁ karoti, kiccaṁ aparādheti. Akiccaṁ karonto kiccaṁ aparādhento yasā ca sukhā ca dhaṁsati.And what is accomplishment in wisdom? When your heart is mastered by covetousness and immoral greed, you do what you shouldn’t, and fail to do what you should. Your fame and happiness fall to dust. When your heart is mastered by ill will … dullness and drowsiness … restlessness and remorse … doubt, you do what you shouldn’t, and fail to do what you should. Your fame and happiness fall to dust.

11–12Này Gia chủ, Thánh đệ tử ấy, sau khi biết được dục tham là uế nhiễm của tâm, từ bỏ dục tham, uế nhiễm của tâm; sau khi biết được sân hận là uế nhiễm của tâm, từ bỏ sân hận, uế nhiễm của tâm; sau khi biết được hôn trầm thụy miên là uế nhiễm của tâm, từ bỏ hôn trầm thụy miên, uế nhiễm của tâm; sau khi biết được trạo hối là uế nhiễm của tâm, từ bỏ trạo hối, uế nhiễm của tâm; sau khi biết được nghi là uế nhiễm của tâm, từ bỏ nghi, uế nhiễm của tâm; này Gia chủ, đây gọi là vị Thánh đệ tử có đại trí tuệ, có trí tuệ rộng lớn, bước vào giới vức minh kiến, đầy đủ trí tuệ. Đây gọi là đầy đủ trí tuệ.

Này Gia chủ, đối với bốn pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó được ở đời này, có bốn pháp này đưa đến chứng được những pháp ấy.

Vị Thánh đệ tử ấy, này Gia chủ, với tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra, đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, là người đã làm bốn hành động. Thế nào là bốn?
Sa kho so, gahapati, ariyasāvako abhijjhāvisamalobho cittassa upakkilesoti, iti viditvā abhijjhāvisamalobhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati. Byāpādo cittassa upakkilesoti, iti viditvā byāpādaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati. Thinamiddhaṁ cittassa upakkilesoti, iti viditvā thinamiddhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati. Uddhaccakukkuccaṁ cittassa upakkilesoti, iti viditvā uddhaccakukkuccaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati. Vicikicchā cittassa upakkilesoti, iti viditvā vicikicchaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati. Yato ca kho, gahapati, ariyasāvakassa abhijjhāvisamalobho cittassa upakkilesoti, iti viditvā abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso pahīno hoti. Byāpādo cittassa upakkilesoti, iti viditvā byāpādo cittassa upakkileso pahīno hoti. Thinamiddhaṁ cittassa upakkilesoti, iti viditvā thinamiddhaṁ cittassa upakkileso pahīno hoti. Uddhaccakukkuccaṁ cittassa upakkilesoti, iti viditvā uddhaccakukkuccaṁ cittassa upakkileso pahīno hoti. Vicikicchā cittassa upakkilesoti, iti viditvā vicikicchā cittassa upakkileso pahīno hoti. Ayaṁ vuccati, gahapati, ariyasāvako mahāpañño puthupañño āpātadaso paññāsampanno. Ayaṁ vuccati, gahapati, paññāsampadā. Imesaṁ kho, gahapati, catunnaṁ dhammānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ dullabhānaṁ lokasmiṁ ime cattāro dhammā paṭilābhāya saṁvattanti.Knowing that ‘covetousness and immoral greed are corruptions of the mind’, that noble disciple gives them up. Knowing that ‘ill will …’ … ‘dullness and drowsiness …’ … ‘restlessness and remorse …’ … ‘doubt is a corruption of the mind’, that noble disciple gives it up. When a noble disciple has given up these things, they’re called ‘a noble disciple of great wisdom, of widespread wisdom, who sees what matters, and is accomplished in wisdom’. This is called accomplishment in wisdom. These are the four things that lead to the getting of the four things, which are likable, desirable, and agreeable, but hard to get in the world.

13Ở đây, này Gia chủ, Thánh đệ tử, với tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, tự làm mình an lạc, hoan hỷ, chơn chánh đem lại an lạc; giúp cha mẹ được an lạc hoan hỷ, chơn chánh đem lại an lạc; giúp vợ con, người phục vụ, người làm công được an lạc, hoan hỷ, chơn chánh đem lại an lạc; giúp bạn bè thân hữu được an lạc hoan hỷ, là người chơn chánh đem lại an lạc. Này Gia chủ, đây là trường hợp thứ nhất, vị ấy đi đến được, đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ.Sa kho so, gahapati, ariyasāvako uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi cattāri pattakammāni kattā hoti. Katamāni cattāri? Idha, gahapati, ariyasāvako uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi attānaṁ sukheti pīṇeti sammā sukhaṁ pariharati. Mātāpitaro sukheti pīṇeti sammā sukhaṁ pariharati. Puttadāradāsakammakaraporise sukheti pīṇeti sammā sukhaṁ pariharati. Mittāmacce sukheti pīṇeti sammā sukhaṁ pariharati. Idamassa paṭhamaṁ ṭhānagataṁ hoti pattagataṁ āyatanaso paribhuttaṁ.There are four fitting deeds that a noble disciple does with the legitimate wealth he has earned by his efforts and initiative, built up with his own hands, gathered by the sweat of the brow. What four? To start with, with his legitimate wealth he makes himself happy and pleased, keeping himself properly happy. He makes his mother and father happy … He makes his children, partners, bondservants, workers, and staff happy … He makes his friends and colleagues happy … This is his first usage within means on a deserved and fitting cause.

14–15Lại nữa, này Gia chủ, Thánh đệ tử, với tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, với tài sản ấy, tự làm cho mình được an toàn, chống lại những tai họa từ lửa đến, từ nước đến, từ vua đến, từ ăn trộm đến, từ các thừa tự thù nghịch đến. Này Gia chủ, đây là trường hợp thứ hai vị ấy đi đến được, đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ.

Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử với tài sản… thâu hoạch đúng pháp. Với tài sản ấy, vị ấy tổ chức năm loại lễ hiến cúng; hiến cúng cho bà con, hiến cúng cho khách, hiến cúng cho các vong linh quá khứ, hiến cúng cho vua, hiến cúng cho chư Thiên. Này Gia chủ, đây là trường hợp thứ ba vị ấy đi đến được, đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ.
Puna caparaṁ, gahapati, ariyasāvako uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi yā tā honti āpadā aggito vā udakato vā rājato vā corato vā appiyato vā dāyādato, tathārūpāsu āpadāsu pariyodhāya saṁvattati. Sotthiṁ attānaṁ karoti. Idamassa dutiyaṁ ṭhānagataṁ hoti pattagataṁ āyatanaso paribhuttaṁ. Puna caparaṁ, gahapati, ariyasāvako uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi pañcabaliṁ kattā hoti— ñātibaliṁ, atithibaliṁ, pubbapetabaliṁ, rājabaliṁ, devatābaliṁ. Idamassa tatiyaṁ ṭhānagataṁ hoti pattagataṁ āyatanaso paribhuttaṁ.Furthermore, with his legitimate wealth he defends himself against threats from such things as fire, flood, rulers, bandits, or unloved heirs. He keeps himself safe. This is his second usage within means on a deserved and fitting cause. Furthermore, with his legitimate wealth he makes five spirit-offerings: to relatives, guests, ancestors, king, and deities. This is his third expenditure in an appropriate sphere on a deserved and fitting cause.

16Lại nữa, này Gia chủ, Thánh đệ tử với tài sản… thâu hoạch đúng pháp, đối với những vị Sa-môn, Bà-la-môn sống từ bỏ kiêu mạn, phóng dật, an trú trên nhẫn nhục, nhu hòa, an tịnh tự mình, nhiếp phục tự mình, làm lắng dịu tự mình; đối với những Sa-môn, Bà-la-môn như vậy, vị ấy tổ chức sự cúng dường tối thượng, thuộc về cõi Trời, đem đến quả lạc dị thục, đưa đến Thiên giới. Này Gia chủ, đây là trường hợp thứ tư vị ấy đi đến được, đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ.Puna caparaṁ, gahapati, ariyasāvako uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi ye te samaṇabrāhmaṇā madappamādā paṭiviratā khantisoracce niviṭṭhā ekamattānaṁ damenti, ekamattānaṁ samenti, ekamattānaṁ parinibbāpenti, tathārūpesu samaṇabrāhmaṇesu uddhaggikaṁ dakkhiṇaṁ patiṭṭhāpeti sovaggikaṁ sukhavipākaṁ saggasaṁvattanikaṁ. Idamassa catutthaṁ ṭhānagataṁ hoti pattagataṁ āyatanaso paribhuttaṁ.Furthermore, with his legitimate wealth he establishes an uplifting religious donation for ascetics and brahmins—those who refrain from intoxication and negligence, are settled in patience and gentleness, and who tame, calm, and extinguish themselves—that’s conducive to heaven, ripens in happiness, and leads to heaven. This is his fourth usage within means on a deserved and fitting cause.

17–20Vị Thánh đệ tử ấy, này Gia chủ, với tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp; với tài sản ấy, vị ấy là người đã làm được bốn hành động này. Nếu tài sản của ai, này Gia chủ, được tiêu dùng không đúng với bốn hành động này, những tài sản này được gọi là tài sản đi đến không lợi ích, đi đến không thành đạt, đạt được sự hưởng thọ không đúng phương xứ. Nếu những tài sản của ai, này Gia chủ, được tiêu dùng với bốn hành động này, những tài sản này được gọi là những tài sản đi đến lợi ích, đi đến thành đạt, đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ.

Tài sản ta thọ hưởng,
Gia nhân được nuôi dưỡng,
Chính nhờ các tài sản,
Do ta tránh tai họa,
Ta cúng dường tối thượng,
Làm năm loại hiến vật,
Hộ trì bậc trì giới,
Bậc tự điều, Phạm hạnh,
Mục đích gì bậc trí,
Trú nhà, cầu tài sản,
Mục đích ấy Ta đạt,
Được làm không hối hận.
Người nào nhớ nghĩ vậy,
An trú trên Thánh pháp,
Đời này được tán thán,
Đời sau được hoan hỷ,
Trên cảnh giới chư Thiên.
Sa kho so, gahapati, ariyasāvako uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi imāni cattāri pattakammāni kattā hoti. Yassa kassaci, gahapati, aññatra imehi catūhi pattakammehi bhogā parikkhayaṁ gacchanti, ime vuccanti, gahapati, bhogā aṭṭhānagatā apattagatā anāyatanaso paribhuttā. Yassa kassaci, gahapati, imehi catūhi pattakammehi bhogā parikkhayaṁ gacchanti, ime vuccanti, gahapati, bhogā ṭhānagatā pattagatā āyatanaso paribhuttāti. Bhuttā bhogā bhatā bhaccā, Vitiṇṇā āpadāsu me; Uddhaggā dakkhiṇā dinnā, Atho pañcabalī katā; Upaṭṭhitā sīlavanto, Saññatā brahmacārayo. Yadatthaṁ bhogaṁ iccheyya, paṇḍito gharamāvasaṁ; So me attho anuppatto, kataṁ ananutāpiyaṁ. Etaṁ anussaraṁ macco, ariyadhamme ṭhito naro; Idheva naṁ pasaṁsanti, pecca sagge pamodatī”ti. Paṭhamaṁ.These are the four fitting deeds that a noble disciple does with the legitimate wealth he has earned by his efforts and initiative, built up with his own hands, gathered by the sweat of the brow. Whatever wealth is spent on something other than these four fitting deeds is said to not be usage within means on a deserved and fitting cause. But whatever wealth is spent on these four fitting deeds is said to be usage within means on a deserved and fitting cause. ‘I’ve enjoyed my wealth, supporting those who depend on me; I’ve overcome losses; I’ve given uplifting religious donations; and made the five spirit-offerings. I have served the ethical and disciplined spiritual practitioners. I’ve achieved the goal for which an astute layperson wishes to gain wealth. I don’t regret what I’ve done.’ A mortal man who recollects this stands firm in the teaching of the noble ones. They’re praised in this life, and they depart to rejoice in heaven.”

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 4.61 (Pattakamma Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, AN 4.61 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp