Chú giải Pháp Cú · Kệ 146 · Dhp 146

Tích Bạn Bà Thiện Chi Say

Visākhāya sahāyikānaṃ vatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 146 Kinh Pháp Cú, phẩm Già, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 146) “Ko nu hāso kimānando, “Cười gì, hân hoan gì, Niccaṃ pajjalite sati; Khi đời mãi bị thiêu? Andhakārena onaddhā, Bị tối tăm bao trùm, Padīpaṃ na gavesatha.” Sao không tìm ngọn đèn?”.

Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết khi ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến những người bạn của bà Visākhā (Thiện Chi).

Tương truyền rằng: Có năm trăm thanh niên con nhà lễ giáo, mỗi người tự giao vợ mình đến nhờ bà Visākhā bảo hộ, mong rằng các cô vì thế mà trở nên người có nết hạnh không dể duôi. Nếu các cô đi công viên, hoặc đi chùa thì phải cùng đi với bà, chớ không được đi một mình.”.

Một thời gian nọ, các cô rủ nhau bày tiệc rượu suốt bảy ngày. Giữa cuộc lễ tưng bừng huyên náo, mỗi cô tự làm chiêu đãi, hầu rượu chồng mình. Các thanh niên vui chơi cuộc lễ rượu suốt bảy ngày. Đến ngày thứ tám, họ phải xuất hành, ra đi làm công kia việc nọ, tùy theo nghề nghiệp. Các phụ nữ ở nhà rủ nhau: “Trước mặt chồng, chúng ta không được uống rượu. Số rượu còn dư đây chúng ta sẽ uống lén, đừng cho các ổng biết!”.

Các cô cũng đến yêu cầu bà Visākhā:

- Thưa bà, chúng con muốn đi ngoạn cảnh công viên.

- Lành thay! Vậy các cô hãy lo sắp xếp mọi việc, rồi khởi hành!

Nghe vậy, các cô vầy đoàn cùng đi, lén cho người mang rượu theo đến công viên, uống cho say rồi đi lang thang.

Nàng Visākhā suy nghĩ: “Việc các cô nầy đã làm thật không thích đáng! Rồi đây hàng phụ nữ sẽ chê trách rằng: “Bây giờ các Nữ Thinh văn, đệ tử của Sa môn Gotama đã uống rượu và đi lang thang!”.

Nghĩ rồi, bà kêu các cô mà bảo rằng:

- Nầy các cô! Việc các cô đã làm thật không thích đáng! Chính ta cũng bị mang tiếng xấu lây. Chồng các cô sẽ nổi giận. Bây giờ, các cô liệu sao đây?

- Thưa cô! Chúng con sẽ giả đò làm như mình có bịnh vậy!

- Nếu vậy, các cô hãy ý thức rõ rệt cái nghiệp tự các cô làm nhé!

Những phụ nữ ấy về nhà, giả đò có bịnh. Các ông chồng của họ thấy vắng vợ, hỏi thăm người khác, nghe nói vợ mình bịnh, suy nghĩ rồi liền nghi: “Chắc chắn mấy cô nầy đã uống số rượu còn dư.”. Sau khi đánh đập vợ, các thanh niên cảm thấy buồn khổ vì mình bất hạnh.

Thế nhưng, một thời gian sau, các cô lại tổ chức lễ tiệc như trước, để rồi lại thèm uống rượu, họ rủ nhau đến yêu cầu bà Visākhā:

- Thưa bà, xin bà dắt chúng con đi dạo công viên!

Bà Visākhā từ chối, nói:

- Lần trước, các cô đã làm ta mang tiếng xấu lây. Thôi các cô hãy đi, ta không dắt các cô đâu!

Các phụ nữ đấu dịu rằng:

- Bây giờ, chúng con không làm vậy nữa đâu. – Và họ theo năn nỉ rằng:

- Thưa bà! Chúng con có ý muốn cúng dường đến Đức Phật, xin bà hoan hỷ dắt chúng con đến chùa!

- Bây giờ các cô hãy sắp xếp chuẩn bị rồi đi nhé!

Các phụ nữ cho người mang theo lễ vật, nhất là hương và tràng hoa đựng trong những cái tráp, còn mình thì máng những nhạo rượu đầy lên vai, bên ngoài mặc y rộng che khuất, đồng đi đến bà Visākhā để cùng đi với bà vào chùa, ngồi yên chỗ rồi mới lấy nhạo rượu ra uống, uống xong ném bỏ cái nhạo rồi mới vào giảng đường, ngồi ngay Đức Bổn Sư. Bà Visākhā bèn mở lời:

- Bạch Thế Tôn! Xin Ngài hoan hỷ thuyết pháp cho các cô đây nghe!

Các phụ nữ đã thấm say, thân hình lắc lư, khởi tâm muốn nhảy múa và ca hát. Nhân đó Chư Thiên Ma Vương nghĩ rằng: “Bây giờ chúng ta sẽ nhập xác các cô nầy và sẽ biểu diễn những trò lố lăng trước mặt Sa môn Gotama!”.

Nghĩ rồi, Chư Thiên Ma nhập vào xác các phụ nữ say rượu. Một số các cô đứng ngay trước Đức Bổn Sư vỗ tay rồi cười. Một số nữa thì nhảy múa như khiêu vũ.

Đức Bổn Sư tự hỏi: “Cái chi đây?”. Khi quán biết rõ lý do, Ngài tự nói: “Bây giờ, ta sẽ không để cho Chư Thiên Ma Vương được phép xuống đây làm nhăng. Quả thật, suốt thời gian Ta bổ túc pháp Thập Độ Ba La Mật, Chư Thiên Ma Vương chưa hề có dịp xuống đây làm nhăng.”. Thế rồi, Đức Bổn Sư từ những lông chân mày (Uṇṇo – Bạch hào mi), phóng một tia sáng để làm cho Chư Thiên kinh cảm. Ngay lúc ấy, trời đất bỗng trở nên tối đen như mực.

Các phụ nữ hoảng hốt, đâm ra sợ chết. Do đó, chất rượu trong bụng các cô tiêu tán.

Bậc Đạo Sư biến mất từ trên bảo tọa, hiện ra đứng trên đảnh núi Tu Di, phóng ra một hào quang từ chùm lông trắng giữa hai chân mày. Ngay lúc ấy, trời đất sáng rực dường như được hàng ngàn mặt trăng chiếu rọi vậy.

Bấy giờ, Bậc Đạo Sư mới gọi những phụ nữ ấy mà dạy rằng:

- Các cô khi đến với Ta, đã đến với tâm dể duôi. Đúng ra, các cô không nên dể duôi như vậy! Vì một khi Chư Thiên Ma Vương có dịp nhập xác các cô rồi, họ đã khiến các cô cười ở chỗ không đáng cưới, vỗ tay ở chỗ không đáng vỗ tay v.v… Giờ đây, các cô phải rán tinh tấn, lo dập tắt các ngọn lửa, nhất là lửa tham ái…

Nói rồi, Đức Bổn Sư ngâm kệ rằng:
“Ko nu hāso kimānando,
Niccaṃ pajjalite sati;
Andhakārena onaddhā,
Padīpaṃ na gavesatha.”

Làm sao vui cười, có gì thích thú, khi ở trong cõi đời luôn luôn bị thiêu đốt? Ở trong chỗ tối tăm, bưng bít, sao không tìm ánh sáng quang minh?

(Bản dịch của T.K. Trí Đức)

CHÚ GIẢI:

Ý nghĩa của Kệ ngôn nầy là:
Ānando = Tuṭṭhi: vui thích (khánh hỉ).

Như Đức Phật đã thuyết, nơi thế gian mà chúng sanh chung sống có mười một thứ lửa1, nhất là lửa tham ái hằng thiêu đốt. Có chi mà các ngươi cười hoặc vui thích? Đừng nên hành động như thể há chẳng tốt hơn sao? Cõi đời quả thật đang bị sự tối tăm vô minh bao trùm, các ngươi đáng lẽ phải lo phá hủy sự tối tăm. Tại sao không đi tìm ngọn đèn Trí tuệ?

Cuối thời Pháp, năm trăm phụ nữ ấy chứng quả Dự Lưu. Khi biết các phụ nữ ấy an trú trong đức tin bất động, Bậc Đạo Sư từ đỉnh núi Tu Di biến mất, hiện lên ngự tọa trên Phật Bảo tọa.

Khi ấy, bà Visākhā thưa rằng:

- Bạch Thế Tôn! Chất rượu quả thật là ác hại. Nó đã khiến phụ nữ nầy đang ngồi ngay trước mặt một vị Phật Như Ngài mà không thể kềm giữ được oai nghi tế hạnh, đã phải đứng dậy vỗ tay cười cợt, ca hát, nhảy múa lố lăng như thế!...

- Đức Bổn Sư xác nhận:

- Phải đó! Nầy Visākhā, các chất say có tên là rượu đó, đều ác hại như thế cả. Vì chúng mà người ghiền phải sa đọa, sống đời sống bất hạnh hằng trăm, ngàn kiếp.

- Nghe đến đây bà Visākhā vội hỏi:

- Bạch Ngài, những người ấy thọ sanh vào thời nào? Mười một thứ lửa là: lửa tình, sân, si, sanh, già, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não.*

Nghe hỏi, Đức Thế Tôn đã đem câu chuyện quá khứ kể lại để giảng rộng cái hại của sự uống rượu, như đã có ghi trong Bổn sanh Cái bình nước (Kumbha).

Mượn cớ đi chùa, uống rượu say,
Bị Ma nhập xác, múa chân tay,
Năm trăm phụ nữ đang cười cợt,
Bị tối bao trùm, tỉnh rượu ngay!
Phật hiện ngồi trên núi Tu Di,
Phóng quang thuyết pháp, phá hoài nghi,
Chỉ rành tai hại của men rượu,
Độ hết các bà bạn Thiện Chi.

DỨT TÍCH BẠN BÀ THIỆN CHI SAY

Visākhāya sahāyikānaṃ vatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Ko nu hāso kimānandoti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto visākhāya sahāyikāyo ārabbha kathesi.

Sāvatthiyaṃ kira pañcasatā kulaputtā “evaṃ imā appamādavihāriniyo bhavissantī”ti attano attano bhariyāyo visākhaṃ mahāupāsikaṃ sampaṭicchāpesuṃ. Tā uyyānaṃ vā vihāraṃ vā gacchantiyo tāya saddhiṃyeva gacchanti. Tā ekasmiṃ kāle “sattāhaṃ surāchaṇo bhavissatī”ti chaṇe saṅghuṭṭhe attano attano sāmikānaṃ suraṃ paṭiyādesuṃ. Te sattāhaṃ surāchaṇaṃ kīḷitvā aṭṭhame divase kammantabheriyā nikkhantāya kammante agamaṃsu. Tāpi itthiyo “mayaṃ sāmikānaṃ sammukhā suraṃ pātuṃ na labhimhā, avasesā surā ca atthi, idaṃ yathā te na jānanti, tathā pivissāmā”ti visākhāya santikaṃ gantvā “icchāma, ayye, uyyānaṃ daṭṭhu”nti vatvā “sādhu, ammā, tena hi kattabbakiccāni katvā nikkhamathā”ti vutte tāya saddhiṃ gantvā paṭicchannākārena suraṃ nīharāpetvā uyyāne pivitvā mattā vicariṃsu. Visākhāpi “ayuttaṃ imāhi kataṃ, idāni maṃ ‘samaṇassa gotamassa sāvikā visākhā suraṃ pivitvā vicaratī’ti titthiyāpi garahissantī”ti cintetvā tā itthiyo āha – “ammā ayuttaṃ vo kataṃ, mamapi ayaso uppādito, sāmikāpi vo kujjhissanti, idāni kiṃ karissathā”ti. Gilānālayaṃ dassayissāma, ayyeti. Tena hi paññāyissatha sakena kammenāti. Tā gehaṃ gantvā gilānālayaṃ kariṃsu. Atha tāsaṃ sāmikā “itthannāmā ca itthannāmā ca kaha”nti pucchitvā “gilānā”ti sutvā “addhā etāhi avasesasurā pītā bhavissantī”ti sallakkhetvā tā pothetvā anayabyasanaṃ pāpesuṃ. Tā aparasmimpi chaṇavāre tatheva suraṃ pivitukāmā visākhaṃ upasaṅkamitvā, “ayye, uyyānaṃ no nehī”ti vatvā “pubbepi me tumhehi ayaso uppādito, gacchatha, na vo ahaṃ nessāmī”ti tāya paṭikkhittā “idāni evaṃ na karissāmā”ti sammantayitvā puna taṃ upasaṅkamitvā āhaṃsu, “ayye, buddhapūjaṃ kātukāmāmhā, vihāraṃ no nehī”ti. Idāni ammā yujjati, gacchatha, parivacchaṃ karothāti. Tā caṅkoṭakehi gandhamālādīni gāhāpetvā surāpuṇṇe muṭṭhivārake hatthehi olambetvā mahāpaṭe pārupitvā visākhaṃ upasaṅkamitvā tāya saddhiṃ vihāraṃ pavisamānā ekamantaṃ gantvā muṭṭhivārakeheva suraṃ pivitvā vārake chaḍḍetvā dhammasabhāyaṃ satthu purato nisīdiṃsu.

Visākhā “imāsaṃ, bhante, dhammaṃ kathethā”ti āha. Tāpi madavegena kampamānasarīrā “iccāma, gāyāmā”ti cittaṃ uppādesuṃ. Athekā mārakāyikā devatā “imāsaṃ sarīre adhimuccitvā samaṇassa gotamassa purato vippakāraṃ dassessāmī”ti cintetvā tāsaṃ sarīre adhimucci. Tāsu ekaccā satthu purato pāṇiṃ paharitvā hasituṃ, ekaccā naccituṃ ārabhiṃsu. Satthā “kiṃ ida”nti āvajjento taṃ kāraṇaṃ ñatvā “na idāni mārakāyikānaṃ otāraṃ labhituṃ dassāmi. Na hi mayā ettakaṃ kālaṃ pāramiyo pūrentena mārakāyikānaṃ otāralābhatthāya pūritā”ti tā saṃvejetuṃ bhamukalomato rasmiyo vissajjesi, tāvadeva andhakāratimisā ahosi. Tā bhītā ahesuṃ maraṇabhayatajjitā. Tena tāsaṃ kucchiyaṃ surā jīri. Satthā nisinnapallaṅke antarahito sinerumuddhani ṭhatvā uṇṇālomato rasmiṃ vissajjesi, taṅkhaṇaṃyeva candasahassuggamanaṃ viya ahosi. Atha satthā tā itthiyo āmantetvā “tumhehi mama santikaṃ āgacchamānāhi pamattāhi āgantuṃ na vaṭṭati. Tumhākañhi pamādeneva mārakāyikā devatā otāraṃ labhitvā tumhe hasādīnaṃ akaraṇaṭṭhāne hasādīni kārāpesi, idāni tumhehi rāgādīnaṃ aggīnaṃ nibbāpanatthāya ussāhaṃ kātuṃ vaṭṭatī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Ko nu hāso kimānando, niccaṃ pajjalite sati;
Andhakārena onaddhā, padīpaṃ na gavesathā”ti.

Tattha ānandoti tuṭṭhi. Idaṃ vuttaṃ hoti – imasmiṃ lokasannivāse rāgādīhi ekādasahi aggīhi niccaṃ pajjalite sati ko nu tumhākaṃ hāso vā tuṭṭhi vā? Nanu esa akattabbarūpoyeva. Aṭṭhavatthukena hi avijjāndhakārena onaddhā tumhe tasseva andhakārassa vidhamanatthāya kiṃ kāraṇā ñāṇappadīpaṃ na gavesatha na karothāti.

Desanāvasāne pañcasatāpi tā itthiyo sotāpattiphale patiṭṭhahiṃsu.

Satthā tāsaṃ acalasaddhāya patiṭṭhitabhāvaṃ ñatvā sinerumatthakā otaritvā buddhāsane nisīdi. Atha naṃ visākhā āha – “bhante, surā nāmesā pāpikā. Evarūpā hi nāma imā itthiyo tumhādisassa buddhassa purato nisīditvā iriyāpathamattampi saṇṭhāpetuṃ asakkontiyo uṭṭhāya pāṇiṃ paharitvā hasanagītanaccādīni ārabhiṃsū”ti. Satthā “āma, visākhe, pāpikā eva esā surā nāma. Etañhi nissāya aneke sattā anayabyasanaṃ pattā”ti vatvā “kadā panesā, bhante, uppannā”ti vutte tassā uppattiṃ vitthārena kathetuṃ atītaṃ āharitvā kumbhajātakaṃ (jā. 1.16.33 ādayo) kathesīti.

Visākhāya sahāyikānaṃ vatthu paṭhamaṃ.

XI. 1. Visākhā’s Companions Intoxicate Themselves

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

146. Why laughter? why exultation? For the world is ever aflame.
Will ye not seek a light, ye that are shrouded in darkness?

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Visākhā’s companions.

The story goes that five hundred young men of respectable families living at Sāvatthi intrusted their wives to the care of the eminent female lay disciple Visākhā, confident that under such auspices they would live the life of Heedfulness. From that time forth, whether they went to the pleasure garden or to the monastery, they went always with Visākhā. Now on a certain occasion proclamation was made of a drinking festival to last seven days. Accordingly those women prepared strong drink for their husbands, and their husbands took part in the festival, carousing for a period of seven days. On the eighth day the drum went forth to announce the resumption of work, and they returned to their work.

Those women thought to themselves, “We have not been permitted to drink strong drink in the presence of our husbands. Yet plenty of strong drink remains. Let us therefore drink it, but let us take care that our husbands shall know nothing about it.” Accordingly they went to Visākhā and said to her, “Noble lady, we desire to visit the pleasure garden.” “Very well, dear friends, perform your various duties first; then you may go out.” They went with Visākhā, causing strong drink to be removed surreptitiously, drank it in the garden, and roamed about in a state of intoxication. Visākhā thought to herself, “These women have committed a gross impropriety. Now the heretics also will find ground of reproach and will say, ‘The female lay disciples of the monk Gotama go about drinking strong drink.’ ” So she said to those women, “Dear friends, you have committed a gross impropriety and have brought disgrace upon me also. Your husbands also will be enraged at you. Now what will you do?” “Noble lady, we shall pretend to be sick.” “Very well, you will acquire notoriety by your own doings.” The women went home and pretended to be sick.

Now their husbands inquired, “Where is So-and-so? Where is So-and-so?” “Sick.” “They undoubtedly drank the strong drink that remained,” concluded their husbands. Therefore they beat them and brought distress and unhappiness upon them. At a subsequent drinking festival those same women desired to drink strong drink in the same manner as before. So they went to Visākhā and said to her, “Noble lady, conduct us to the pleasure garden.” But Visākhā refused to do so, saying, “The last time I did so, you brought disgrace upon me. Go by yourselves; I will not conduct you thither.” The women decided, “We will not act so this time.” So they went to Visākhā again and said to her, “Noble lady, we desire to do honor to the Buddha; conduct us to the monastery.” “What you propose to do now is quite proper; go make preparations.”

So taking perfumes and garlands in caskets, carrying in their hands jugs filled with strong drink, wearing great cloaks, they approached Visākhā, and accompanied her to the monastery. Then they went off by themselves and drank strong drink out of their jugs. And throwing away their jugs, they seated themselves in the Hall of Truth in the presence of the Teacher. Said Visākhā to the Teacher, “Reverend Sir, preach the Law to these women.” But those same women were so drunk that their bodies swayed back and forth, and suddenly they took it into their heads to dance and sing.

Now a certain deity belonging to the host of Māra thought to herself, “I will possess the bodies of these women and cause them to commit gross improprieties in the presence of the monk Gotama.” And straightway she took possession of their bodies. Thereupon some of them clapped their hands before the Teacher and laughed, while others began to dance. The Teacher considered within himself, “What does this mean?” Immediately perceiving the cause, he said to himself, “I shall not now permit the deities of the host of Māra to descend. For during all the time I was fulfilling the Perfections, it was certainly not for the purpose of allowing the deities of the host of Māra to descend that I fulfilled them.”

Accordingly, that he might frighten those women, the Teacher sent forth a dark-blue ray from the hair of his eyebrow. Straightway there was black darkness. Those women were terrified with the fear of death. So intense was their fear that the strong drink within their bellies dried up. Then the Teacher vanished from the couch on which he sat, stood on the top of Mount Sineru, and sent forth a ray of light from the hair between his eyebrows. At that moment it was as though a thousand moons had risen. Then he addressed those women, saying, “When you approach and come into my presence, you must not approach in heedlessness. For in consequence of your heedlessness a deity of the host of Māra got possession of you, and at a time when you should not have laughed or behaved lightly, he caused you to laugh and to misbehave. You should henceforth make every effort to quench the fire of lust and of the other evil passions.” So saying, he pronounced the following Stanza,

146. Why laughter? why exultation? For the world is ever aflame.
Will ye not seek a light, ye that are shrouded in darkness?

The Teacher, knowing that the women were established in faith that cannot be shaken, descended from the summit of Mount Sineru and seated himself in the Seat of the Buddha. Thereupon Visākhā said to him, “Verily strong drink is an evil thing. Women of such quality as these women, seating themselves before a Buddha like you, were unable to control their movements, but springing to their feet, clapped their hands and began to laugh and sing and dance.” The Teacher replied, “Yes, Visākhā, strong drink is indeed an evil thing, for because of it numberless living beings have come to distress and unhappiness.” “But, Reverend Sir, at what time did this episode have its beginning?” In response to this question the Teacher, desiring to relate in detail the circumstances that led to this episode, told a Story of the Past, relating the Kumbha Jātaka.

  1. This story is a very free version of the Introduction to Jātaka 512: v. 11. Text: N iii. 100-103.
  2. Jātaka 512: v. 12-20. Ed. note: the story is that by accident men discover strong drink, which brings whole cities to destruction, and themselves too. Sakka seeing the King is about to drink it comes down to earth and preaches on the evils of strong drink which causes the King to break the pots holding the drink.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.