Chú giải Pháp Cú · Kệ 218 · Dhp 218

Tích Đại Đức A Na Hàm

Ekaanāgāmittheravatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 218 Kinh Pháp Cú, phẩm Hỷ Ái, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 218)

“Chandajāto anakkhāte,
Manasā ca phuṭo siyā;
Kāmesu ca appaṭibaddhacitto,
Uddhaṃsototi vuccati.”

“Ước vọng pháp ly ngôn
Ý cảm xúc thượng quả
Tâm thoát ly các dục,
Xứng gọi bậc Thượng Lưu.”
(Ngài HT Minh Châu)

Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết khi Ngài ngự tại Jetavana, đề cập đến vị Đại Đức đã đắc quả A Na Hàm.

Tương truyền rằng: Một ngày nọ, các Tỳ Khưu đệ tử đã hỏi Đại Đức sư phụ câu hỏi rằng: “Bạch Ngài! Ngài đã đắc quả đặc thù chưa?”

Đại Đức tự nghĩ: “Quả Bất lai thì hàng cư sĩ tại gia cũng có thể đắc. Vậy để khi nào đắc quả Vô Sanh (A La Hán) rồi, ta sẽ nói chuyện với các đệ tử ta.”

Đang còn đắn đo e dè, chưa nói gì cả, thì Đại Đức mệnh chung, tái sanh lên cõi Tịnh Cư Thiên.

Khi ấy, các đệ tử khóc lóc thở than, rồi đến bái kiến Đức Bổn Sư, ngồi xuống một bên mà vẫn còn khóc.

Đức Bổn Sư bèn hỏi các vị ấy rằng:
- Nầy các Tỳ Khưu! Có gì mà các thầy lại khóc?

- Bạch Ngài, Tế Độ Sư của các con đã mệnh chung.

- Nầy các Tỳ Khưu! Dầu sao các thầy cũng chớ nên sầu não, vì đó là lẽ thường.

- Bạch Ngài, chúng con vẫn biết như thế, tuy nhiên chúng con có hỏi. Tế Độ Sư của chúng con có chứng đạt quả vị đặc thù nào chưa, Tế Độ Sư không trả lời chi cả, kể đến khi mạng chung. Do đó chúng con mới buồn khổ.

Đức Bổn Sư giải rằng: Nầy các Tỳ Khưu, chớ nên buồn khổ, thầy Tế Độ của các thầy đã đắc A Na Hàm, những tự nghĩ rằng! Quả Bất Lai nầy, cư sĩ tại gia có thể chứng đạt được, đợi khi nào ta chứng đắc A La Hán rồi, ta sẽ nói cho chúng đệ tử nghe. Đang ngần ngại, chưa kịp nói thì Thầy Tế Độ các ngươi đã mệnh chung, tái sanh về cõi Tịnh Cư. Hãy vui lên đi, nầy các Tỳ Khưu! Thầy của các ngươi đã giải thoát tâm khỏi sự ràng buộc của ngũ trần, thành bậc Thương Lưu bang rồi.

Nói rồi, Ngài ngâm lên kệ ngôn rằng:

“Chandajāto anakkhāte,
Manasā ca phuṭo siyā;
Kāmesu ca appaṭibaddhacitto,
Uddhaṃsototi vuccati.”

“Ước vọng pháp ly ngôn
Ý cảm xúc thượng quả
Tâm thoát ly các dục,
Xứng gọi bậc Thượng Lưu.”
(Ngài HT Minh Châu)

CHÚ GIẢI:

Chandajāto: Do sự ước ao mong mỏi, muốn làm phát sanh, khát cầu mãnh liệt.

Anakkhāte: Níp Bàn là pháp ly ngôn, bởi vì không thể nói, hay làm hoặc tả được rằng: Màu sắc như thế nầy, hình dáng như thế nầy.

Manasā ca phuṭo siyā: Tâm phải thấm nhuần, sung mãn ba đạo quả thấp.

Appaṭibaddhacitto: Tâm đã thoát khỏi sự ái luyến ngũ trần do nhờ A Na Hàm đạo.

Uddhaṃsoto: Một Tỳ Khưu như thế, sau khi tái sanh vào Vô Phiền thiên (avihā), từ đó trở đi, do ảnh hưởng của sự liên kết sanh lên tới Sắc Cứu Cánh thiên (Akanittha), gọi là Thượng Lưu Bang. Thầy Tế Độ của các thầy đã đạt được như thế.

Cuối thời pháp, các Tỳ Khưu ấy chứng đắc A La Hán Quả.

Đại chúng thính pháp đều được hưởng lợi ích Pháp thoại ấy.

Cư sĩ tu còn đắc Bất Lai
Tỳ Khưu cũng vậy, có chi tài.
Cầu mong quả tột cùng La Hán
Mới xứng làm gương để dạy ai…
Thầy tịch mà không trối tiếng chi
Trò ngu tưởng quấy, lại sầu bi
Nghe lời Phật giải liền tiêu khổ
Đắc quả Vô Sanh, lẹ cấp kỳ.

DỨT TÍCH ĐẠI ĐỨC BẤT LAI

Ekaanāgāmittheravatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Chandajātoti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto ekaṃ anāgāmittheraṃ ārabbha kathesi.

Ekadivasañhi taṃ theraṃ saddhivihārikā pucchiṃsu – “atthi pana vo, bhante, visesādhigamo”ti. Thero “anāgāmiphalaṃ nāma gahaṭṭhāpi pāpuṇanti, arahattaṃ pattakāleyeva tehi saddhiṃ kathessāmī”ti harāyamāno kiñci akathetvāva kālakato suddhāvāsadevaloke nibbatti. Athassa saddhivihārikā roditvā paridevitvā satthu santikaṃ gantvā satthāraṃ vanditvā rodantāva ekamantaṃ nisīdiṃsu. Atha ne satthā “kiṃ, bhikkhave, rodathā”ti āha. “Upajjhāyo no, bhante, kālakato”ti. “Hotu, bhikkhave, mā cintayittha, dhuvadhammo nāmeso”ti? “Āma, bhante, mayampi jānāma, apica mayaṃ upajjhāyaṃ visesādhigamaṃ pucchimhā, so kiñci akathetvāva kālakato, tenamha dukkhitā”ti. Satthā, “bhikkhave, mā cintayittha, upajjhāyena vo anāgāmiphalaṃ pattaṃ, so ‘gihīpetaṃ pāpuṇanti, arahattaṃ patvāva nesaṃ kathessāmī’ti harāyanto tumhākaṃ kiñci akathetvā kālaṃ katvā suddhāvāse nibbatto, assāsatha, bhikkhave, upajjhāyo vo kāmesu appaṭibaddhacittataṃ patto”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Chandajāto anakkhāte, manasā ca phuṭo siyā;
Kāmesu ca appaṭibaddhacitto, uddhaṃsototi vuccatī”ti.

Tattha chandajātoti kattukāmatāvasena jātachando ussāhapatto. Anakkhāteti nibbāne. Tañhi “asukena kataṃ vā nīlādīsu evarūpaṃ vā”ti avattabbatāya anakkhātaṃ nāma. Manasā ca phuṭo siyāti heṭṭhimehi tīhi maggaphalacittehi phuṭo pūrito bhaveyya. Appaṭibaddhacittoti anāgāmimaggavasena kāmesu appaṭibaddhacitto. Uddhaṃsototi evarūpo bhikkhu avihesu nibbattitvā tato paṭṭhāya paṭisandhivasena akaniṭṭhaṃ gacchanto uddhaṃsototi vuccati, tādiso vo upajjhāyoti attho.

Desanāvasāne te bhikkhū arahattaphale patiṭṭhahiṃsu, mahājanassāpi sātthikā dhammadesanā ahosīti.

Ekaanāgāmittheravatthu aṭṭhamaṃ.

XVI. 8. The Elder who had attained the Fruit of the Third Path

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

218. If a man desire the Ineffable...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to a certain Elder who had attained the Fruit of the Third Path.

For one day the co-residents of this Elder asked him the following question, “But, Reverend Sir, have you attained Specific Attainment?” The Elder thought, “Even laymen are able to attain the Fruit of the Third Path; so soon as I attain Arahatship, I will talk with them.” Therefore, because of embarrassment, he said nothing. Shortly afterwards he died and was reborn in the Heaven of the Pure Abode. Thereupon his fellow-monks wept and lamented. And going to the Teacher, they saluted him and sat down on one side, weeping and lamenting.

The Teacher asked them, “Monks, why are you weeping?” “Our preceptor is dead, Reverend Sir.” “Never mind, monks, grieve not; this is an eternal Law.” “Yes, Reverend Sir, we too know that. But we asked our preceptor whether or not he had attained Specific Attainment, and he died without giving us an answer. That is why we are so distressed.” Said the Teacher, “Monks, be not troubled. Your preceptor had attained the Fruit of the Third Path and thought, ‘Even laymen are able to attain the Fruit of the Third Path. So soon as I attain Arahatship, I will tell them.’ It was because of embarrassment that he said nothing. When he died, he was reborn in the Pure Abode. Cheer up, monks; your preceptor had freed his heart from attachment to the Five Lusts.” So saying, the Teacher pronounced the following Stanza,

218. If a man desire the Ineffable, if his heart thrill with desire for the Ineffable,
If his heart be free from attachment to the Five Lusts, he is called One Bound Up-stream.

  1. Text: N iii. 288-290.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.