Tích Nandiya Về Trời
Nandiyavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 219–220 Kinh Pháp Cú, phẩm Hỷ Ái, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 219-220)
219. “Cirappavāsiṃ purisaṃ,
Dūrato sotthimāgataṃ;
Ñātimittā suhajjā ca,
Abhinandanti āgataṃ.”
“Khách lâu ngày ly hương,
An toàn từ xa về,
Bà con cùng thân hữu,
Hân hoan đón chào mừng.”
220. “Tatheva katapuññampi,
Asmā lokā paraṃ gataṃ;
Puññāni paṭigaṇhanti,
Piyaṃ ñātīva āgataṃ.”
“Cũng vậy các phước nghiệp,
Đón chào người làm lành,
Đời nầy đến đời kia.
Như thân nhân, đón chào.”
(Ngài HT Minh Châu)
Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết khi Ngài ngự tại Isipatana (Chư Tiên Đạo Xứ), đề cập đến chàng Nandiya.
Tương truyền rằng: Tại thành Bārannai, có chàng Nandiya, là con trai của một gia đình có đức tin nơi Tam Bảo. Chàng cũng có đức tin như thế, là người hộ Tăng đắc lực, đúng theo sở cầu của cha mẹ. Khi trưởng thành, cha mẹ chàng tìm người nữ môn đăng hộ đối với gia tộc, định cưới con gái của cậu chàng tên là Revatī đem về nhà, nhưng nàng nầy lại là người không có đức tin nơi Tam Bảo, không quen bố thí, thọ trì giới nên chàng Nandiya không ưng cưới nàng làm vợ. Mẹ chàng bảo với nàng Revatī rằng:
- Nầy con gái cưng, trong nhà nầy, nơi ngồi của chư Tăng con nên lau chùi sạch sẽ, sắp đặt sẵn ghế ngồi kê hân cho có thứ tự. Khi chư Tăng đến, con hãy xin rước bát, thỉnh chư Tăng ngồi và lọc nước hộ Tăng bằng đồ lọc, chư Tăng độ cơm xong, con hãy rửa bát cho Ngài. Làm được như thế con mới trở nên là người bạn đường của con trai ta.
Nàng Revatī chịu nghe lời mẹ chồng dạy, để cho chàng Nandiya hài lòng nàng, khi ấy bà báo tin cho con trai biết, chàng đáp rằng: “Lành thay!”. Được chàng nhận lời rồi, hai họ định ngày lành tháng tốt cử hành lễ hôn phối.
Chàng Nandiya nói với người vợ mới cưới rằng:
- Nếu em chăm lo phục vụ chư Tăng và cha mẹ anh
đàng hoàng tử tế, thì em sẽ được trọn quyền ở trong nhà nầy. Vậy em hãy siêng năng cần mẫn đi nhé.
Nàng Revatī vâng lời chồng, đáp: “Lành thay!”
Nàng xử sự được như thế, chỉ trong vài ngày đầu như là người có chánh kiến, có đức tin đầy đủ. Nàng chăm lo quán xuyến hết công việc trong nhà, và có được hai con với chàng Nandiya. Khi cha mẹ chàng qua đời, nàng nắm hết mọi quyền trong nhà, trọn quyền là nữ chủ nhân của gia tộc. Từ ngày cha mẹ khuất bòng, Nandiya trở thành một đại thí chủ, thiết lập việc để bát thường xuyên đến Tỳ Khưu, và đồng thời bày ra việc thì thực tại nhà của mình cho những kẻ nghèo khó và những khách lữ hành đi đến.
Thời gian sau, được nghe Đức Bổn Sư thuyết pháp thoại, chàng Nandiya suy tư đến quả phước của việc bố thí trú xứ là chỗ ngụ đến Tăng, chàng cho xây cất Đại Tự insipatana, bốn nhà khách gồm có bốn căn phòng, lại cho kê giường, ghế, lót chiếu xong rồi, cung thỉnh Đức Thế Tôn cùng với chư Tăng đến cúng dường, cử hành đại lễ thí chỗ ngụ. Ngay khi nước thí vừa rơi vào tay Đức Thế Tôn, thì đồng thời trên cõi Chư Thiên Đạo Lợi nổi lên tòa Thất Bảo Thiên Lâu, cao 100 do tuần, dài và rộng 12 do tuần, làm toàn 7 báu và chứa đầy những nhóm Ngọc Nữ xinh đẹp.
Một lần nọ, Đại Đức Moggallāna du hành lên thiên giới, Ngài dừng chân tại tôn Thất Bảo Lâu ấy và hỏi Chư Thiên đến gần mình rằng: “Tòa Thiên Lâu nầy chứa đầy những nhóm Ngọc Nữ, phát sanh lên cho người có phước nào thế?”
Chư Thiên liền nói cho Đại Đức biết chủ tòa Thiên Lâu ấy:
- Bạch Ngài! Con trai của một gia tộc Trưởng giả tên là Nandiya cất chùa dâng đến Tăng Tứ phương có Đức Bổn Sư làm tọa chủ, nên tòa Thiên Lâu nầy phát sanh đến y, do phước báu của cậu ấy.
Cả đoàn Thiên Nữ trông thấy Đại Đức bèn đi xuống lầu, ra khỏi lâu đài đến đảnh lễ Đại Đức và bạch rằng:
- Bạch Ngài, chúng con là những nàng hầu của thanh niên Nandiya đã sanh lên đây mà không gặp chàng, chúng con rất là vô phước. Vì chúng con rất mong mỏi gặp chàng, xin Đại Đức hãy khuyên chàng mau về nơi nầy, ví như người đập bỏ nồi đất đề nhận lấy bát bằng vàng, bỏ sản nghiệp nhân giới để hưởng được tài sản cõi Chư Thiên.
Đại Đức từ Thiên giới trở lại cõi người, đến bái yết Đức Bổn Sư, bạch hỏi rằng:
- Bạch Ngài, có phải trong khi con người còn sống ở nhân gian, những thiện nghiệp của họ đã tạo cũng kết quả thành tài sản có sẵn nơi Thiên giới được chăng?
- Nầy Moggallāna! Chính ngươi đã thấy tận mắt phước báu của Nandiya đã thành tựu cõi Đạo Lợi phải chăng? Tại sao ngươi còn hỏi lại Như Lai.
- Bạch Ngài, quả có thật như thế.
- Nầy Moggallāna! Vì cớ gì mà thầy lại nói như như vậy? Ví như đứa con trai hay đứa em trai vắng nhà lâu ngày, từ xứ xa trở về, đứng tại cổng làng. Bất cứ ai trông thấy nó, cũng lật đật về báo cho nhà biết tin: “Có cậu ấy trở về”. Tức nhiên thân bằng quyến thuộc của người ấy rất vui mừng hớn hở, vội vã ra đi tiếp đón cậu: “Chào cậu, cậu mới về”. Cùng như thế ấy, người nữ hoặc nam đã tạo thiện nghiệp ở đây, sau khi từ giả cõi đời nầy, đi tái sanh ở cảnh giới khác, sẽ được Chư Thiên mang theo 10 thứ lễ vật của trời, hoan hỷ đến tranh nhau tiếp rước, nói rằng: “Để tôi rước trước, để tôi rước trước”.
Rồi Ngài thuyết lên kệ ngôn rằng:
219. “Cirappavāsiṃ purisaṃ,
Dūrato sotthimāgataṃ;
Ñātimittā suhajjā ca,
Abhinandanti āgataṃ.”
220. “Tatheva katapuññampi,
Asmā lokā paraṃ gataṃ;
Puññāni paṭigaṇhanti,
Piyaṃ ñātīva āgataṃ.”
“Khách lâu ngày ly hương,
An toàn từ xa về,
Bà con cùng thân hữu,
Hân hoan đón chào mừng.”
“Cũng vậy các phước nghiệp,
Đón chào người làm lành,
Đời nầy đến đời kia.
Như thân nhân, đón chào.”
(Ngài HT Minh Châu)
CHÚ GIẢI:
Cirappavāsiṃ: Cūrappavuttham: Người ly hương ở hải ngoại đã lâu.
Dūrato sotthimāgataṃ: Sau khi làm nghề buôn hoặc làm công chức thâu huê lợi, hoặc lãnh tiền lương, lần hồi có nhiều của cải, sống đầy đủ an toàn rồi, từ xứ xa trở về quê cũ.
Ñātimittā suhajjā ca: Những quyến thuộc là người cũng một giòng họ và những thân bằng là bạn mới gặp gỡ kết tình thâm giao.
Abhinandanti āgataṃ: Khi thấy người cũ, họ nói: “Cậu ấy đã về kìa”, bằng lời nói, hoặc nắm tay chân, hay chấp tay chào, rồi rước về nhà, họ còn hân hoan hậu đãi bằng nhiều cách, như mang quà đến tặng.
Tatheva: Bởi lẽ đó, người đã tạo phước từ cõi nầy sang qua đời khác, sẽ được các phước ở cõi Trời chờ đợi, hoan hỷ tiếp đón như cha mẹ ruột, đem cho 10 thứ tặng phẩm của Trời là tuổi thọ, sắc đẹp, sự an lạc, danh vọng, quyền thế cùng với ngũ dục trưởng dưỡng cõi Trời là sắc, thinh, hương, vị, xúc.
Piyaṃ ñātīva: Giống như những thân nhân trong đời nầy và tất cả họ hàng quyến thuộc đều đến tiếp rước.
Cuối thời pháp nhiều Tỳ Khưu chứng đắc Thánh Quả, nhất là quả vị Tu Đà Hườn.
Cốc dâng Tăng ngụ lúc sanh tiền
Phước đã thành ngay ở Thượng thiên
Ngọc nữ băn khoăn chờ khách tục
Cao lâu sừng sửng đợi người tiên
Mâm vàng đổi lấy thêm ngàn lượng
Bát đất quăng đi, bớt mấy tiền.
Nhắn chủ là chàng Nandiya
Thông qua Đại Đức Mục Kiền Liên.
DỨT TÍCH CHÀNG NANDIYA
Nandiyavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Cirappavāsinti imaṃ dhammadesanaṃ satthā isipatane viharanto nandiyaṃ ārabbha kathesi.
Bārāṇasiyaṃ kira saddhāsampannassa kulassa nandiyo nāma putto ahosi, so mātāpitūnaṃ anurūpo saddhāsampanno saṅghupaṭṭhāko ahosi. Athassa mātāpitaro vayappattakāle sammukhagehato mātuladhītaraṃ revatiṃ nāma ānetukāmā ahesuṃ. Sā pana assaddhā adānasīlā, nandiyo taṃ na icchi. Athassa mātā revatiṃ āha – “amma, tvaṃ imasmiṃ gehe bhikkhusaṅghassa nisajjanaṭṭhānaṃ upalimpitvā āsanāni paññāpehi, ādhārake ṭhapehi, bhikkhūnaṃ āgatakāle pattaṃ gahetvā nisīdāpetvā dhammakaraṇena pānīyaṃ parissāvetvā bhuttakāle patte dhova, evaṃ me puttassa ārādhitā bhavissasī”ti. Sā tathā akāsi. Atha naṃ “ovādakkhamā jātā”ti puttassa ārocetvā tena sādhūti sampaṭicchite divasaṃ ṭhapetvā āvāhaṃ kariṃsu.
Atha naṃ nandiyo āha – “sace bhikkhusaṅghañca mātāpitaro ca me upaṭṭhahissasi, evaṃ imasmiṃ gehe vasituṃ labhissasi, appamattā hohī”ti. Sā “sādhū”ti paṭissuṇitvā katipāhaṃ saddhā viya hutvā bhattāraṃ upaṭṭhahantī dve putte vijāyi. Nandiyassāpi mātāpitaro kālamakaṃsu, gehe sabbissariyaṃ tassāyeva ahosi. Nandiyopi mātāpitūnaṃ kālakiriyato paṭṭhāya mahādānapati hutvā bhikkhusaṅghassa dānaṃ paṭṭhapesi. Kapaṇaddhikādīnampi gehadvāre pākavattaṃ paṭṭhapesi. So aparabhāge satthu dhammadesanaṃ sutvā āvāsadāne ānisaṃsaṃ sallakkhetvā isipatane mahāvihāre catūhi gabbhehi paṭimaṇḍitaṃ catusālaṃ kāretvā mañcapīṭhādīni attharāpetvā taṃ āvāsaṃ niyyādento buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa dānaṃ datvā tathāgatassa dakkhiṇodakaṃ adāsi. Satthu hatthe dakkhiṇodakapatiṭṭhānena saddhiṃyeva tāvatiṃsadevaloke sabbadisāsu dvādasayojaniko uddhaṃ yojanasatubbedho sattaratanamayo nārīgaṇasampanno dibbapāsādo uggacchi.
Athekadivase mahāmoggallānatthero devacārikaṃ gantvā tassa pāsādassa avidūre ṭhito attano santike āgate devaputte pucchi – “kasseso accharāgaṇaparivuto dibbapāsādo nibbatto”ti. Athassa devaputtā vimānasāmikaṃ ācikkhantā āhaṃsu – “bhante, yena nandiyena nāma gahapatiputtena isipatane satthu vihāraṃ kāretvā dinno, tassatthāya etaṃ vimānaṃ nibbatta”nti. Accharāsaṅghopi naṃ disvā pāsādato orohitvā āha – “bhante, mayaṃ ‘nandiyassa paricārikā bhavissāmā’ti idha nibbattā, taṃ pana apassantī ativiya ukkaṇṭhitamhā, mattikapātiṃ bhinditvā suvaṇṇapātigahaṇaṃ viya manussasampattiṃ jahitvā dibbasampattigahaṇaṃ, idhāgamanatthāya naṃ vadeyyāthā”ti. Thero tato āgantvā satthāraṃ upasaṅkamitvā pucchi – “nibbattati nu kho, bhante, manussaloke ṭhitānaṃyeva katakalyāṇānaṃ dibbasampattī”ti. “Moggallāna, nanu te devaloke nandiyassa nibbattā dibbasampatti sāmaṃ diṭṭhā, kasmā maṃ pucchasī”ti. “Evaṃ, bhante, nibbattatī”ti.
Atha naṃ satthā “moggallānaṃ kiṃ nāmetaṃ kathesi. Yathā hi cirappavuṭṭhaṃ puttaṃ vā bhātaraṃ vā vippavāsato āgacchantaṃ gāmadvāre ṭhito kocideva disvā vegena gehaṃ āgantvā ‘asuko nāma āgato’ti āroceyya, athassa ñātakā haṭṭhapahaṭṭhā vegena nikkhamitvā ‘āgatosi, tāta, arogosi, tātā’ti taṃ abhinandeyyuṃ, evameva idha katakalyāṇaṃ itthiṃ vā purisaṃ vā imaṃ lokaṃ jahitvā paralokaṃ gataṃ dasavidhaṃ dibbapaṇṇākāraṃ ādāya ‘ahaṃ purato, ahaṃ purato’ti paccuggantvā devatā abhinandantī”ti vatvā imā gāthā abhāsi –
“Cirappavāsiṃ purisaṃ, dūrato sotthimāgataṃ;
Ñātimittā suhajjā ca, abhinandanti āgataṃ.
“Tatheva katapuññampi, asmā lokā paraṃ gataṃ;
Puññāni paṭigaṇhanti, piyaṃ ñātīva āgata”nti.
Tattha cirappavāsinti cirappavuṭṭhaṃ. Dūrato sotthimāgatanti vaṇijjaṃ vā rājaporisaṃ vā katvā laddhalābhaṃ nipphannasampattiṃ anupaddavena dūraṭṭhānato āgataṃ. Ñātimittā suhajjā cāti kulasambandhavasena ñātī ca sandiṭṭhādibhāvena mittā ca suhadayabhāvena suhajjā ca. Abhinandanti āgatanti naṃ disvā āgatanti vacanamattena vā añjalikaraṇamattena vā gehasampattaṃ pana nānappakārapaṇṇākārābhiharaṇavasena abhinandanti. Tathevāti tenevākārena katapuññampi puggalaṃ imasmā lokā paralokaṃ gataṃ dibbaṃ āyuvaṇṇasukhayasaādhipateyyaṃ, dibbaṃ rūpasaddagandharasaphoṭṭhabbanti imaṃ dasavidhaṃ paṇṇākāraṃ ādāya mātāpituṭṭhāne ṭhitāni puññāni abhinandantāni paṭiggaṇhanti. Piyaṃ ñātīvāti idhaloke piyañātakaṃ āgataṃ sesañātakā viyāti attho.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Nandiyavatthu navamaṃ.
Piyavaggavaṇṇanā niṭṭhitā.
Soḷasamo vaggo.
XVI. 9. Nandiya attains Heavenly Glory
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
219. When a man who has long been absent, returns safely from afar,
Kinsfolk and friends and well-wishers greet him on his return.
220. Just so, when a man who has done good deeds goes from this world to the next,
The good deeds he has performed receive him even as kinsfolk receive a dear friend who has returned home.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Isipatana with reference to Nandiya.
The story goes that at Benāres lived a youth named Nandiya, son of a family endowed with faith. He was all that his mother and father wished him to be, faithful, believing, a servitor of the Order. When he came of age, his mother and father desired that he should marry his maternal uncle’s daughter Revatī, who lived in the house opposite. But Revatī was an unbeliever and was not accustomed to give alms, and therefore Nandiya did not wish to marry her. So Nandiya’s mother said to Revatī, “Dear daughter, smear the floor neat and sweet in this house where the Congregation of Monks are to sit, prepare seats, set stands in their proper places, and when the monks arrive, take their bowls, invite them to sit down, and strain water for them with a straining-cup; when they have finished their meal, wash their bowls. If you will so do, you will win the favor of my son.” Revatī did so. Nandiya’s mother said to her son, “Revatī is now patient of admonition.” Nandiya then gave his consent, the day was set, and they were married.
Said Nandiya to his wife, “If you will minister faithfully to the Congregation of Monks and to my mother and father, on this condition you will be privileged to dwell in this house; therefore be heedful.” “Very well,” said Revatī, promising to do so. In a few days she learned to conduct herself like a true believer. She rendered true obedience to her husband, and in the course of time gave birth to two sons. When Nandiya’s mother and father died, she became sole mistress of the household. Nandiya, having come into great wealth on the death of his mother and father, established alms for the Congregation of Monks, and likewise established at the door of his house regular distribution of cooked food to poor folk and travelers. Somewhat later, after hearing the Teacher preach the Law, considering within himself the blessings which would accrue to him through the gift of a dwelling to the monks, he caused a quadruple hall, furnished with four chambers, to be erected at the Great Monastery of Isipatana. And having caused beds and couches to be spread, presented this dwelling to the Congregation of Monks presided over by the Buddha, giving alms, and pouring Water of Donation into the right hand of the Tathāgata. As the Water of Donation fell into the right hand of the Teacher, there arose in the World of the Thirty-three a celestial mansion extending twelve leagues in all directions, a hundred leagues high, made of the seven kinds of jewels, and filled with celestial nymphs.
One day when Elder Moggallāna the Great went on a pilgrimage to the World of the Gods, he stopped near this palace and asked some deities who approached him, “Through whose merit came into existence this celestial mansion filled with a company of celestial nymphs?” Then those deities informed him who was lord of the mansion, saying, “Reverend Sir, a householder’s son named Nandiya caused a monastery to be erected at Isipatana and gave it to the Teacher, and through his merit this celestial mansion came into existence.” Thereupon the company of celestial nymphs descended from that palace and said to the Elder, “Reverend Sir, we would be the slaves of Nandiya. Although we have been reborn here, we are exceedingly unhappy because we do not see him; pray tell him to come here. For putting off human estate and taking the estate of a deity, is like breaking a vessel of clay and taking a vessel of gold.”
The Elder departed thence, and approaching the Teacher, asked him, “Reverend Sir, is it true that while men yet remain in the world of men, they attain heavenly glory as the fruit of the good works which they have performed?” The Teacher replied, “Moggallāna, you have seen with your own eyes the heavenly glory which Nandiya has attained in the World of the Gods; why do you ask me such a question?” Said the Elder, “Then it is really true, Reverend Sir!” Said the Teacher, “Moggallāna, why do you talk thus? If a son or a brother who has long been absent from home, returns from his absence, whoever at the village-gate sees him hurries home and says, ‘So-and-so is back.’ And straightway his kinsfolk, pleased and delighted, will hasten forth and greet him, saying, ‘Dear friend, you have returned at last!’ Even so, when either a woman or a man who has done works of merit here, leaves this world and goes to the next, the heavenly deities take presents of ten sorts and go forth to meet him and to greet him, saying, ‘Let me be first! let me be first!’ ” So saying, the Teacher pronounced the following Stanzas,
219. When a man who has long been absent, returns safely from afar,
Kinsfolk and friends and well-wishers greet him on his return.
220. Just so, when a man who has done good deeds goes from this world to the next,
The good deeds he has performed receive him even as kinsfolk receive a dear friend who has returned home.
- From this story is derived Vimāna-Vatthu Commentary, v. 2: 220-221. Vv. cm. 22004-22135 is almost word for word the same as Dh. cm. iii. 29010-29307. Vv. cm. 222-229 is lacking in Dh. cm. Cf. Peta-Vatthu Commentary, iv. 4: 257. Text: N iii. 290-294.
- The Vimāna-Vatthu Commentary goes on to say (pp. 222-229) that Nandiya, after a life devoted to almsgiving, died and was reborn in the World of the Thirty-three; and that Revatī, on the death of her husband, stopped the gifts of alms, abused the monks, and was cast alive into Hell.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.