Kinh Pháp Cú, Phẩm Hỷ Ái
Dhammapada, Piyavagga
Còn gọi là: Phẩm Thân Ái
Mười hai bài kệ về điều thân yêu: vì sao thương yêu kéo theo sầu và sợ, người được mọi người quý là ai, và phước thiện đón ta ở đời sau.
Trước khi đọc kinh
Phẩm thứ mười sáu của Kinh Pháp Cú mang tên Piya, điều thân yêu. Bài kệ mở đầu tả một người đặt sức lực sai chỗ: bỏ mất mục đích, chạy theo điều mình yêu thích, rồi ganh tị với người chuyên tâm tu tập (kệ 209). Kệ 210–211 nói thẳng một sự thật ai cũng từng nếm: không gặp người thương là khổ, gặp người không ưa cũng là khổ, và xa lìa điều thân yêu là điều đau đớn. Người không còn thương và ghét thì chẳng còn dây trói buộc nào.
Năm bài kệ 212–216 là một chuỗi cùng một khuôn: sầu muộn và sợ hãi sinh ra từ điều thân yêu, từ lòng luyến mến, từ sự đắm say, từ dục lạc, từ khát ái; người đã thoát khỏi những điều ấy thì không còn sầu muộn, nói chi sợ hãi. Mỗi bài kệ, theo chú giải, gắn với một câu chuyện riêng: một gia chủ khóc thương đứa con vừa mất (kệ 212), bà Visākhā đau buồn khi đứa cháu gái qua đời (kệ 213), các vương tử Licchavī (kệ 214), chàng Anitthigandha (kệ 215). Đây không phải lời khuyên đừng thương ai. Kệ 211 và chuỗi kệ này chỉ ra chỗ khổ nằm ở sự bám víu vào người và vật mình thương, và gợi ý một tình thương không bám víu.
Ba bài kệ cuối mang giọng ấm áp. Người đầy đủ giới hạnh và chánh kiến, đứng vững trong Pháp, tự làm tròn phận sự của mình, được mọi người yêu quý (kệ 217). Người tâm không còn bị các dục trói buộc được gọi là người đi ngược dòng (kệ 218); theo chú giải, bài kệ nói về một vị Trưởng lão đã chứng quả Bất lai. Và một hình ảnh rất gần với người Việt: một người xa nhà lâu ngày trở về bình an, bà con bạn bè vui mừng đón chào; cũng vậy, người đã làm phước khi đi sang đời sau được chính các phước thiện của mình đón nhận như bà con đón người thân trở về (kệ 219–220). Theo chú giải, hai bài kệ này gắn với ông Nandiya, người đã dựng một trú xá bốn phòng ở Lộc Uyển (Isipatana) cúng dường Tăng chúng.
Ý chính
- Bỏ mục đích, chạy theo điều mình thích, rồi ganh tị với người tu tập (kệ 209).
- Không gặp người thương là khổ, gặp người không ưa cũng là khổ (kệ 210).
- Người không còn thương và ghét thì không còn dây trói buộc (kệ 211).
- Sầu muộn và sợ hãi sinh ra từ điều thân yêu, từ khát ái (kệ 212–216).
- Người có giới hạnh, chánh kiến, làm tròn phận sự thì được mọi người yêu quý (kệ 217).
- Phước thiện đón người đã làm phước như bà con đón người thân về (kệ 219–220).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- piya
- điều thân yêu, người thương
- appiya
- điều không ưa
- pema
- lòng luyến mến
- rati
- sự đắm say, vui thích
- taṇhā
- ái, khát ái
- soka
- sầu muộn
- uddhaṁsota
- người đi ngược dòng
- puñña
- phước, điều phước thiện
Tích truyện các bài kệĐức Phật nói mỗi bài kệ trong một hoàn cảnh riêng. Đọc 9 tích truyện của phẩm Hỷ Ái theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli): xem các tích ›
Kinh Pháp Cú, Phẩm Hỷ Ái
Chuyện ba người trong một nhà xuất giaTayojanapabbajitavatthu Đọc tích truyện ›
209.1Tự chuyên, không đáng chuyênAyoge yuñjamattānaṁ,Applying yourself where you ought not,
209.2Không chuyên, việc đáng chuyênyogasmiñca ayojayaṁ;neglecting what you should be doing,
209.3Bỏ đích, theo hỷ ái,Atthaṁ hitvā piyaggāhī,forgetting your goal, you cling to what you hold dear,
209.4Ganh tị bậc tự chuyên.pihetattānuyoginaṁ.jealous of those devoted to their heart’s goal.
210.1Chớ gần gũi người yêu,Mā piyehi samāgañchi,Don’t ever get too close
210.2Trọn đời xa kẻ ghét.appiyehi kudācanaṁ;to those you like or dislike.
210.3Yêu không gặp là khổ,Piyānaṁ adassanaṁ dukkhaṁ,For not seeing the liked is suffering,
210.4Oán phải gặp cũng đau.appiyānañca dassanaṁ.and so is seeing the disliked.
211.1Do vậy chớ yêu ai,Tasmā piyaṁ na kayirātha,Therefore don’t hold anything dear,
211.2Ái biệt ly là ác;piyāpāyo hi pāpako;for it’s bad to lose those you love.
211.3Những ai không yêu ghét,Ganthā tesaṁ na vijjanti,No ties are found in they who
211.4Không thể có buộc ràng.yesaṁ natthi piyāppiyaṁ.hold nothing loved or loathed.
Chuyện một gia chủAññatarakuṭumbikavatthu Đọc tích truyện ›
212.1Do ái sinh sầu ưu,Piyato jāyatī soko,Sorrow springs from what we hold dear,
212.2Do ái sinh sợ hãi,piyato jāyatī bhayaṁ;fear springs from what we hold dear;
212.3Ai thoát khỏi tham ái,Piyato vippamuttassa,one free from holding anything dear
212.4Không sầu, đâu sợ hãi?natthi soko kuto bhayaṁ.has no sorrow, let alone fear.
Chuyện bà VisākhāVisākhāvatthu Đọc tích truyện ›
213.1Ái luyến sinh sầu ưu,Pemato jāyatī soko,Sorrow springs from attachment,
213.2Ái luyến sinh sợ hãi.pemato jāyatī bhayaṁ;fear springs from attachment;
213.3Ai giải thoát ái luyếnPemato vippamuttassa,one free from attachment
213.4Không sầu, đâu sợ hãi?natthi soko kuto bhayaṁ.has no sorrow, let alone fear.
Chuyện các vương tử LicchavīLicchavīvatthu Đọc tích truyện ›
214.1Hỷ ái sinh sầu ưu,Ratiyā jāyatī soko,Sorrow springs from relishing,
214.2Hỷ ái sinh sợ hãi.ratiyā jāyatī bhayaṁ;fear springs from relishing;
214.3Ai giải thoát hỷ ái,Ratiyā vippamuttassa,one free from relishing
214.4Không sầu, đâu sợ hãi?natthi soko kuto bhayaṁ.has no sorrow, let alone fear.
Chuyện chàng AnitthigandhaAnitthigandhakumāravatthu Đọc tích truyện ›
215.1Dục ái sinh sầu ưu,Kāmato jāyatī soko,Sorrow springs from desire,
215.2Dục ái sinh sợ hãi,kāmato jāyatī bhayaṁ;fear springs from desire;
215.3Ai thoát khỏi dục ái,Kāmato vippamuttassa,one free from desire
215.4Không sầu, đâu sợ hãi?natthi soko kuto bhayaṁ.has no sorrow, let alone fear.
Chuyện một Bà-la-mônAññatarabrāhmaṇavatthu Đọc tích truyện ›
216.1Tham ái sinh sầu ưu,Taṇhāya jāyatī soko,Sorrow springs from craving,
216.2Tham ái sinh sợ hãi.taṇhāya jāyatī bhayaṁ;fear springs from craving;
216.3Ai giải thoát tham ái,Taṇhāya vippamuttassa,one free from craving
216.4Không sầu, đâu sợ hãi?natthi soko kuto bhayaṁ.has no sorrow, let alone fear.
Chuyện năm trăm đứa trẻPañcasatadārakavatthu Đọc tích truyện ›
217.1Đủ giới đức, chánh kiến;Sīladassanasampannaṁ,One accomplished in virtue and vision,
217.2Trú pháp, chứng chân lý,dhammaṭṭhaṁ saccavedinaṁ;firmly principled, and truthful,
217.3Tự làm công việc mình,Attano kamma kubbānaṁ,doing oneself what ought be done:
217.4Được quần chúng ái kính.taṁ jano kurute piyaṁ.that’s who the people love.
Chuyện một Trưởng lão chứng quả Bất laiEkaanāgāmittheravatthu Đọc tích truyện ›
218.1Ước vọng pháp ly ngônChandajāto anakkhāte,One eager to realize the ineffable
218.2Ý cảm xúc thượng quảManasā ca phuṭo siyā;would be filled with awareness.
218.3Tâm thoát ly các dục,Kāmesu ca appaṭibaddhacitto,Their mind not bound to pleasures of sense,
218.4Xứng gọi bậc Thượng Lưu.Uddhaṁsototi vuccati.they’re said to be heading upstream.
Chuyện ông NandiyaNandiyavatthu Đọc tích truyện ›
219.1Khách lâu ngày ly hương,Cirappavāsiṁ purisaṁ,When a man returns safely
219.2An toàn từ xa về,dūrato sotthimāgataṁ;after a long time spent abroad,
219.3Bà con cùng thân hữu,Ñātimittā suhajjā ca,family, friends, and loved ones
219.4Hân hoan đón chào mừng.abhinandanti āgataṁ.celebrate his return.
220.1Cũng vậy các phước nghiệp,Tatheva katapuññampi,Just so, when one who has done good
220.2Đón chào người làm lành,asmā lokā paraṁ gataṁ;goes from this world to the next,
220.3Đời này đến đời kia.Puññāni paṭigaṇhanti,their good deeds receive them there,
220.4Như thân nhân, đón chào.piyaṁ ñātīva āgataṁ.as family welcomes home one they love.
220.5Piyavaggo soḷasamo.
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Pháp Cú, kệ 209–220 (Dhammapada, Piyavagga). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Dhp 209–220 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản số hoá trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.