Chú giải Pháp Cú · Kệ 81 · Dhp 81

Tích Đại Đức Bạt Đà Lùn

Lakuṇḍakabhaddiyattheravatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 81 Kinh Pháp Cú, phẩm Hiền Trí, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 81)

“Selo yathā ekaghano,
Vātena na samīrati;
Evaṃ nindāpasaṃsāsu,
Na samiñjanti paṇḍitāti.”

“Như tảng đá không động,
Gió thổi chẳng bạt đi,
Trí giả tâm không động,
Mặc tiếng đời thị phi.”

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài ngự an tại Jetavana, đề cập đến Đại đức Bhaddiya (Bạt Đà) lùn.

Tương truyền rằng: “Khi gặp Đại đức, chư phàm Tăng, nhất là các vị Sa di, ông thì rờ đầu, vị thì kéo tai hay bóp mũi Đại đức mà trêu chọc: “Sao chú không bất mãn trong giáo pháp nầy mà lại thỏa mãn lắm vậy?”.

Đối với những người quấy nhiễu như thế, Đại đức không bao giờ giận hờn, căm tức họ.

Trong giảng đường, chư Tăng đề khởi pháp thoại như sau:

- Các vị hãy coi đó, gặp mặt Đại đức Bhaddiya lùn thì các vị Sa di trêu ghẹo như vầy, như vầy… thế mà Đại đức chẳng có tâm giận hờn căm tức họ…

Đức Bổn Sư ngự đến phán hỏi:

- Nầy chư Tỳ khưu, các ông đang bàn luận về việc gì vậy?

- Bạch Ngài, câu chuyện như thế nầy…

Nghe đáp xong, Đức Bổn Sư xác nhận rằng:

- Đúng vậy, nầy chư Tỳ khưu, các bậc Lậu Tận thì không bao giờ nóng nảy giận hờn, giống như những tảng đá đặc ruột, nằm yên không lay động.

Nói rồi, Đức Bổn Sư thuyết pháp giải thêm về đề tài trên và đọc bài kệ nầy:

“Selo yathā ekaghano,
Vātena na samīrati;
Evaṃ nindāpasaṃsāsu,
Na samiñjanti paṇḍitāti.”
“Ví như đá núi Tây đình,
Giông nào lay chuyển, rung rinh bao giờ.
Tâm người đại trí trơ trơ,
Chê khen cũng mặc, lặng lờ như không.”

CHÚ GIẢI:

Tiếng Nindāpasaṃsāsu trên đây, nghĩa là những lời chê khen, tức là hai pháp thế gian (lokadhammā), bao gồm tất cả những tiếng đời thị phi, mai mỉa. Còn là phàm phu, ai cũng phải chịu ảnh hưởng tai hại của tám pháp thế gian: Được lợi (lābho), mất lợi (alābho), được danh (yaso), mất danh (ayaso), được khen (pasaṃsā), bị chê (ninda), hạnh phúc (sukha) và đau khổ (dukkha). Tám pháp nầy như gió trốt lôi cuốn, xoay vần làm cho tâm chúng sanh phải điên đảo luôn luôn.

Quả thật, cũng như tảng đá đặc, không tầm bọng, không hề bị gió bốn phương lay động, xê dịch, lúc lắc, các bậc trí giả dầu còn ở trong vòng tám pháp thế gian, vẫn không hề bị phiền phức. Tâm các bậc ấy không lay động, biến đổi vì ảnh hưởng của sự não hại hay là bất thân thiện.

Đến cuối thời pháp, nhiều vị Tỳ khưu chứng đắc Tu Đà Hườn quả…

Tướng tuy lùn bé khó tự hào,
Đại đức Bạt Đà chẳng núng nao,
Mặc kệ rờ đầu cùng bóp mũi,
Dầu ai hạ thấp hoặc đề cao.
Vô sanh Thánh cảnh đà đi tới,
Tục lụy phàm phong hết lọt vào,
Tâm trí kiên cường như núi đá,
Ngoài da bạn lữ biết đâu nào.

DỨT TÍCH ĐẠI ĐỨC BHADDIYA LÙN

Lakuṇḍakabhaddiyattheravatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Selo yathāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto lakuṇḍakabhaddiyattheraṃ ārabbha kathesi.

Puthujjanā kira sāmaṇerādayo theraṃ disvā sīsepi kaṇṇesupi nāsāyapi gahetvā “kiṃ, cūḷapita, sāsanasmiṃ na ukkaṇṭhasi, abhiramasī”ti vadanti. Thero tesu neva kujjhati, na dussati. Dhammasabhāyaṃ kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ “passathāvuso, lakuṇḍakabhaddiyattheraṃ disvā sāmaṇerādayo evañcevañca viheṭhenti, so tesu neva kujjhati, na dussatī”ti. Satthā āgantvā “kiṃ kathetha, bhikkhave”ti pucchitvā “imaṃ nāma, bhante”ti vutte “āma, bhikkhave, khīṇāsavā nāma neva kujjhanti, na dussanti. Ghanaselasadisā hete acalā akampiyā”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –

“Selo yathā ekaghano, vātena na samīrati;
Evaṃ nindāpasaṃsāsu, na samiñjanti paṇḍitā”ti.

Tattha nindāpasaṃsāsūti kiñcāpi idha dve lokadhammā vuttā, attho pana aṭṭhannampi vasena veditabbo. Yathā hi ekaghano asusiro selo puratthimādibhedena vātena na samīrati na iñjati na calati, evaṃ aṭṭhasupi lokadhammesu ajjhottharantesu paṇḍitā na samiñjanti, paṭighavasena vā anunayavasena vā na calanti na kampanti.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Lakuṇḍakabhaddiyattheravatthu chaṭṭhaṃ.

VI. 6. Unshaken as a Rock

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

81. Even as a solid rock...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the Elder Lakuṇṭaka Bhaddiya.

The story goes that certain novices and others yet unconverted, on seeing the Elder, used to pull his hair and tweak his ears and nose, saying, “Uncle, you tire not of Religion? You take delight in it?” But the Elder showed no resentment, took no offense. The monks discussed the matter in the Hall of Truth, saying, “Behold, brethren, when novices and others, seeing Elder Lakuṇṭaka Bhaddiya, plague him thus and so, he shows no resentment, takes no offense.” The Teacher came in and asked, “Monks, what are you talking about?” They told him. He replied, “Yes, monks, they that have rid themselves of the Depravities show no anger or resentment, but are unmoved, unshaken, like solid rock.” So saying, he joined the connection, and instructing them in the Law, pronounced the following Stanza,

81. Even as a solid rock is not moved by the wind,
So wise men are not stirred by blame or praise.

  1. Text: N ii. 148-149.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.