Chú giải Pháp Cú · Kệ 82 · Dhp 82

Tích Mẹ Công Chúa Cà Na

Kāṇamātuvatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 82 Kinh Pháp Cú, phẩm Hiền Trí, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 82)

“Yathāpi rahado gambhīro,
Vippasanno anāvilo;
Evaṃ dhammāni sutvāna,
Vippasīdanti paṇḍitāti.”

“Như lòng sâu biển hồ,
Yên lặng không nhiễm ô,
Khi đã nghe Chánh pháp,
Tâm trí giả thanh tịnh.”

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài ngự an tại Jetavana, đề cập đến mẹ nàng Kāṇā.

Chuyện nầy trích từ Tạng Luật, trong đó ghi lại rằng:

Mẹ nàng Kāṇā, không muốn con mình tay không trở về nhà chồng, nên đã làm bánh. Nhưng bốn lần làm bánh đều dâng cúng cho bốn vị Tỳ khưu trong giờ thọ thực, do đó Đức Bổn Sư đã ban hành điều học cấm Tỳ khưu thọ lãnh vật thực quá bốn bát.

Chồng nàng Kāṇā cưới vợ khác. Sau khi hay tin nầy, nàng Kāṇā gặp mặt các Tỳ khưu thì buông lời, mắng nhiếc, chửi rủa rằng: “Mấy ông Sư nầy phá hoại gia can nhà ta.”. Chư Tỳ khưu chẳng dám đi trên con đường ấy nữa.

Hay biết việc nầy, Đức Bổn Sư ngự đến nhà mẹ nàng Kāṇā. Bà đảnh lễ Đức Thế Tôn, thỉnh Ngài ngự vào nơi được soạn sẵn, rồi dâng cháo cùng đồ ngọt.

Sau bữa điểm tâm, Đức Bổn Sư phán hỏi:
- Nàng Kāṇā đâu?

- Bạch Ngài, Kāṇā thấy Ngài, nó hổ thẹn đang đứng khóc một mình.

- Tại sao thế?

- Bạch Ngài, vì nó mắng nhiếc chư Tỳ khưu, cho nên thấy Ngài nó xấu hổ, đứng khóc như thế.

Đức Thế Tôn bảo gọi nàng Kāṇā đến và hỏi:

- Nầy Kāṇā, tại sao thấy Như Lai con lại xấu hổ, lánh mặt ta mà khóc như thế?

Nàng Kāṇā bạch lại mọi việc nàng đã làm, mắng nhiếc chư Tỳ khưu, Đức Thế Tôn bèn hỏi rằng:

- Nầy mẹ Kāṇā, thế nào? Các đệ tử Như Lai nhận vật của bà có dâng cúng thì họ phạm lỗi chi hay là vật không có dâng cúng?

- Bạch Ngài, đồ vật không có dâng cúng.

- Nếu thế, khi đệ tử Như Lai khất thực, đến đứng trước cửa nhà bà, nhận được vật dâng cúng thì họ phạm lỗi chi?

- Bạch Ngài, chư Đại đức không có lỗi chi cả, chỉ Kāṇā là có lỗi thôi.

Đức Bổn Sư bèn bảo nàng Kāṇā:

- Nầy Kāṇā, chư Thinh Văn đệ tử của Ta khi đi bát khất thực, đến trước cửa nhà nầy, nhận được bánh của mẹ con cúng dường, thì các Thinh Văn đệ tử của Ta có phạm tội lỗi gì?

- Bạch Ngài, chư Đại đức không có lỗi gì cả, chỉ mình con là có lỗi thôi.

Nói đoạn, nàng đảnh lễ Đức Thế Tôn và xin sám hối. Nhân đó, Đức Phật thuyết lên tuần tự pháp cho nàng nghe, và nàng chứng đắc quả vị Tu Đà Hườn.

Đức Bổn Sư từ chỗ ngồi đứng dậy, ngự về tinh xá, đi ngang qua sân rồng, đức vua trông thấy Ngài, bèn phán hỏi thị thần:

- Hình như là Đức Bổn Sư, có phải không chư khanh?

- Tâu bệ hạ, phải.

Nghe tâu như vậy, đức vua phán bảo thị thần ra đón Đức Bổn Sư: “Chư khanh mau ra bạch với Ngài rằng: Trẫm xin đến đảnh lễ Ngài.”.

Đức Bổn Sư đứng dừng lại trong sâng ngự, quốc vương đến gần Ngài, đảnh lễ xong bạch rằng:

- Bạch Ngài, chẳng hay Ngài đi đâu đây?

- Tâu Đại vương! Như Lai đến nhà của mẹ nàng Kāṇā.

- Bạch Ngài, vì lẽ gì vậy?

- Nghe rằng: nàng Kāṇā mắng nhiếc chư Tỳ khưu nên Như Lai đã đến nhà mẹ nàng.

- Bạch Ngài, có lẽ Ngài đã khiến được nàng Kāṇā thôi mắng nhiếc phải không?

- Tâu Đại vương! Như Lai đã khiến nàng dứt bỏ sự mắng nhiếc chư Tỳ khưu, đồng thời thâu hoạch được Thánh tài (Lokuttarakuṭumba).

- Bạch Ngài, Ngài khiến nàng thu được Thánh tài, phần trẫm, trẫm sẽ khiến nàng được làm chủ thế tài (lokiyakuṭumba).

Nói rồi, đức vua đảnh lễ cáo từ Đức Bổn Sư. Về triều, đức vua phái một cỗ loan xa có màn che sáo phủ đi rước nàng Kāṇā vào cung, khiến cung phi trang điểm và đeo đủ thứ trang sức quí giá cho nàng rồi lập nàng lên làm đại công chúa. Sau đó, đức vua báo tin cho các quan hay rằng: “Ai có thể nuôi dưỡng con gái trẫm thì hãy đến rước công chúa về nhà.”.

Khi ấy, có viên Đại thần Tể tướng tâu rằng:
- Hạ thần xin lãnh nuôi công chúa.

Ông rước công chúa đem về nhà mình, giao nàng đủ cả quyền hạn trong tay và bảo:

- Công chúa hãy làm phước theo tùy thích đi.

Từ đó, công chúa Kāṇā sai nhiều người đàn ông đứng gác ở bốn cửa để đón rước chư Tăng, nhưng chỉ hoài công chờ đợi, vì không gặp được Tỳ khưu và Tỳ khưu ni đặng mà để bát. Thành ra tại bốn cửa nhà nàng vật thực cứng mềm đã dự bị để cúng dường đều còn nguyên, ối đọng dồn dập mãi phần nhiều như thác nước.

Trong giảng đường, chư Tăng đề khởi pháp thoại như sau:

- Nầy chư huynh đệ, lúc trước nàng Kāṇā làm cho bốn vị Đại đức Trưởng lão phải ăn năn hối tiếc. Là người gây sự phiền phức như vậy, mà khi Đức Bổn Sư đến viếng, nàng lại có đức tin đầy đủ. Đức Thế Tôn đã khiến được nàng đem của nhà đến gần chư Tỳ khưu. Nhưng bây giờ nàng muốn có chư Tăng hoặc chư Ni để cúng dường thì kiếm cũng không ra. Ôi! Ân đức Phật bảo quả là kỳ diệu thay.

Đức Bổn Sư ngự đến phán hỏi:

- Nầy chư Tỳ khưu, hôm nay các ông hội thảo về vấn đề gì?

- Bạch Ngài, việc như vầy… như vầy…

- Nầy các Tỳ khưu, Đức Bổn Sư dạy, không phải nàng Kāṇā chỉ làm cho chư Tỳ khưu cao hạ phải hối hận bây giờ mà thôi. Trước kia nàng đã từng làm như thế rồi. Không phải bây giờ là lần đầu tiên

Ta đã khiến được nàng vâng lời, trước kia ta cũng đã từng khiến được nàng như thế rồi.

Chư Tăng muốn nghe Bổn Sanh, bèn thỉnh cầu Đức Thế Tôn, Ngài ngâm kệ mở đầu rằng:

“Yattheko labhatī babbu,
Dutiyo tattha jāyati;
Tatiyo ca catuttho ca,
Idante babbukā bilanti.”
“Khi nào thấy một chú mèo,
Thì một chú nữa hiện theo chẳng từ,
Rồi chú ba và chú tư,
Hang nầy mèo nọ hình như thích tìm.”

Đức Bổn Sư dẫn giải rằng: “Bốn vị Trưởng lão hôm nay là bốn chú mèo thuở trước, nàng Kāṇā đã là con chuột cái, còn Như Lai là người thợ ngọc vậy.”

Giải rằng: Đức Bổn Sư dạy rằng: “Nầy các Tỳ khưu, trong thời quá khứ, nàng Kāṇā cũng đã từng gặp cảnh buồn rầu, khổ tâm như thế rồi, nhưng nhờ nghe lời Như Lai mà nàng được tâm thanh tịnh như hồ nước trong veo.”

Kết luận xong, Đức Bổn Sư lại thuyết pháp và đọc lên bài kệ nầy:

“Yathāpi rahado gambhīro,
Vippasanno anāvilo;
Evaṃ dhammāni sutvāna,
Vippasīdanti paṇḍitāti.”

“Hiền nhân nghe pháp vừa xong,
Tâm liền thanh tịnh, sạch trong nước hồ.
Nước sâu, gương phẳng lặng tờ,
Trong veo sáng suốt, chẳng nhơ bụi hồng.”

CHÚ GIẢI:

Danh từ Rahado trên đây nghĩa là hồ, nhưng là hồ sâu rộng lắm. Dầu cho bốn bộ binh (quân, xa, mã, tượng) xuống hết dưới hồ đó, nước hồ cũng không tràn dâng lên. Như vậy thì chỉ có đại trùng dương (nīlamahāsamuddo), bề sâu tám muôn ngàn do tuần mới xứng với tên Rahado. Quả thật, từ dưới đáy hồ của nó ở chỗ sâu độ tám mươi bốn ngàn do tuần (cattāḷīsayojanasahassa), nước chao động vì cá, khoảng giữa độ sâu bốn ngàn do tuần thì nước đứng yên, còn ngang phía trên mặt nước chao động vì gió. Chỗ yên lặng ấy có thể gọi là hồ sâu thẳm vậy (gambhīrarahado).

Evaṃ dhammāni (nghe pháp) đây chỉ cho những thời pháp thuyết: Theo định nghĩa trên, cũng như hồ sâu không bị xáo trộn, thì nước của nó trong sạch, yên tịnh, lặng trang như thế nào; cũng như thế ấy, sau khi nghe thời pháp của Ta thuyết, do nơi Tu Đà Hườn đạo… bậc trí giả đạt đến tâm thanh tịnh, xa lìa phiền não chứng đắc A La Hán quả.

Đợi bánh, Cà Na bị mất chồng,
Tức mình, đổ tội bốn Sư ông,
Nhờ nghe Pháp Phật, tâm liền tịnh,
Hưởng lộc trời ban giữa bệ rồng.
Trước lỡ buông lời nhiếc lão Tăng,
Sao lo bù đắp lại cho bằng,
Mỗi ngày công chúa lo làm phước,
Chờ mãi hoài công, nghĩ chán chăng?

DỨT TÍCH MẸ NÀNG KĀṆĀ

Kāṇamātuvatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Yathāpi rahadoti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto kāṇamātaraṃ ārabbha kathesi. Vatthu vinaye (pāci. 230) āgatameva.

Tadā pana kāṇamātarā atucchahatthaṃ dhītaraṃ patikulaṃ pesetuṃ pakkesu pūvesu catukkhattuṃ catunnaṃ bhikkhūnaṃ dinnakāle satthārā tasmiṃ vatthusmiṃ sikkhāpade paññatte kāṇāya sāmikena aññāya pajāpatiyā ānītāya kāṇā taṃ pavattiṃ sutvā “imehi me gharāvāso nāsito”ti diṭṭhadiṭṭhe bhikkhū akkosati paribhāsati. Bhikkhū taṃ vīthiṃ paṭipajjituṃ na visahiṃsu. Satthā taṃ pavattiṃ ñatvā tattha agamāsi. Kāṇamātā satthāraṃ vanditvā paññattāsane nisīdāpetvā yāgukhajjakaṃ adāsi. Satthā katapātarāso “kahaṃ kāṇā”ti pucchi. “Esā, bhante, tumhe disvā maṅkubhūtā rodantī ṭhitā”ti. “Kiṃ kāraṇā”ti? “Esā, bhante, bhikkhū akkosati paribhāsati, tasmā tumhe disvā maṅkubhūtā rodamānā ṭhitā”ti. Atha naṃ satthā pakkosāpetvā – “kāṇe, kasmā maṃ disvā maṅkubhūtā nilīyitvā rodasī”ti. Athassā mātā tāya katakiriyaṃ ārocesi. Atha naṃ satthā āha – “kiṃ pana kāṇamāte mama sāvakā tayā dinnakaṃ gaṇhiṃsu, adinnaka”nti? “Dinnakaṃ, bhante”ti. “Sace mama sāvakā piṇḍāya carantā tava gehadvāraṃ pattā tayā dinnakaṃ gaṇhiṃsu, ko tesaṃ doso”ti? “Natthi, bhante, ayyānaṃ doso”. “Etissāyeva doso”ti. Satthā kāṇaṃ āha – “kāṇe, mayhaṃ kira sāvakā piṇḍāya caramānā gehadvāraṃ āgatā, atha nesaṃ tava mātarā pūvā dinnā, ko nāmettha mama sāvakānaṃ doso”ti? “Natthi, bhante, ayyānaṃ doso, mayhameva doso”ti satthāraṃ vanditvā khamāpesi.

Athassā satthā anupubbiṃ kathaṃ kathesi, sā sotāpattiphalaṃ pāpuṇi. Satthā uṭṭhāyāsanā vihāraṃ gacchanto rājaṅgaṇena pāyāsi. Rājā disvā “satthā viya bhaṇe”ti pucchitvā “āma, devā”ti vutte “gacchatha, mama āgantvā vandanabhāvaṃ ārocethā”ti pesetvā rājaṅgaṇe ṭhitaṃ satthāraṃ upasaṅkamitvā vanditvā “kahaṃ, bhante, gatātthā”ti pucchi. “Kāṇamātāya gehaṃ, mahārājā”ti. “Kiṃ kāraṇā, bhante”ti? “Kāṇā kira bhikkhū akkosati paribhāsati, taṃkāraṇā gatomhī”ti. “Kiṃ pana vo, bhante, tassā anakkosanabhāvo kato”ti? “Āma, mahārāja, bhikkhūnañca anakkosikā katā, lokuttarakuṭumbasāminī cā”ti. “Hotu, bhante, tumhehi sā lokuttarakuṭumbasāminī katā, ahaṃ pana naṃ lokiyakuṭumbasāminiṃ karissāmī”ti vatvā rājā satthāraṃ vanditvā paṭinivatto paṭicchannamahāyoggaṃ pahiṇitvā kāṇaṃ pakkosāpetvā sabbābharaṇehi alaṅkaritvā jeṭṭhadhītuṭṭhāne ṭhapetvā “mama dhītaraṃ posetuṃ samatthā gaṇhantū”ti āha. Atheko sabbatthakamahāmatto “ahaṃ devassa dhītaraṃ posessāmī”ti taṃ attano gehaṃ netvā sabbaṃ issariyaṃ paṭicchāpetvā “yathāruci puññāni karohī”ti āha. Tato paṭṭhāya kāṇā catūsu dvāresu purise ṭhapetvā attanā upaṭṭhātabbe bhikkhū ca bhikkhuniyo ca pariyesamānāpi na labhati. Kāṇāya gehadvāre paṭiyādetvā ṭhapitaṃ khādanīyabhojanīyaṃ mahogho viya pavattati. Bhikkhū dhammasabhāyaṃ kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ “pubbe, āvuso, cattāro mahallakattherā kāṇāya vippaṭisāraṃ kariṃsu, sā evaṃ vippaṭisārinī hutvāpi satthāraṃ āgamma saddhāsampadaṃ labhi. Satthārā puna tassā gehadvāraṃ bhikkhūnaṃ upasaṅkamanārahaṃ kataṃ. Idāni upaṭṭhātabbe bhikkhū vā bhikkhuniyo vā pariyesamānāpi na labhati, aho buddhā nāma acchariyaguṇā”ti. Satthā āgantvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā “imāya nāmā”ti vutte “na, bhikkhave, idāneva tehi mahallakabhikkhūhi kāṇāya vippaṭisāro kato, pubbepi kariṃsuyeva. Na ca idāneva mayā kāṇā mama vacanakārikā katā, pubbepi katāyevā”ti vatvā tamatthaṃ sotukāmehi bhikkhūhi yācito –

“Yattheko labhate babbu, dutiyo tattha jāyati;
Tatiyo ca catuttho ca, idaṃ te babbukā bila”nti. (jā. 1.1.137) –

Idaṃ babbujātakaṃ vitthārena kathetvā “tadā cattāro mahallakabhikkhū cattāro biḷārā ahesuṃ, mūsikā kāṇā, maṇikāro ahamevā”ti jātakaṃ samodhānetvā “evaṃ, bhikkhave, atītepi kāṇā dummanā āvilacittā vikkhittacittā hutvā mama vacanena pasannaudakarahado viya vippasannacittā ahosī”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –

“Yathāpi rahado gambhīro, vippasanno anāvilo;
Evaṃ dhammāni sutvāna, vippasīdanti paṇḍitā”ti.

Tattha rahadoti yo caturaṅginiyāpi senāya ogāhantiyā nakhubhati evarūpo udakaṇṇavo, sabbākārena pana caturāsītiyojanasahassagambhīro nīlamahāsamuddo rahado nāma. Tassa hi heṭṭhā cattālīsayojanasahassamatte ṭhāne udakaṃ macchehi calati, upari tāvattakeyeva ṭhāne udakaṃ vātena calati, majjhe catuyojanasahassamatte ṭhāne udakaṃ niccalaṃ tiṭṭhati. Ayaṃ gambhīro rahado nāma. Evaṃ dhammānīti desanādhammāni. Idaṃ vuttaṃ hoti – yathā nāma rahado anākulatāya vippasanno, acalatāya anāvilo, evaṃ mama desanādhammaṃ sutvā sotāpattimaggādivasena nirupakkilesacittataṃ āpajjantā vippasīdanti paṇḍitā, arahattappattā pana ekantavippasannāva hontīti.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Kāṇamātuvatthu sattamaṃ.

VI. 7. After the Storm, Calm

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

82. Even as a lake, deep, limpid, clear,
So do wise men become calm after listening to the laws.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the Mother of Kāṇā. The story is found in the Vinaya.

For at that time the Mother of Kāṇā was forced to send her daughter to her husband’s house empty-handed because on four different occasions she gave cakes she had fried to four monks; and in accordance with the precept laid down by the Teacher in such cases, Kāṇā’s husband had taken to himself another wife. When Kāṇā learned the circumstances, she said to herself, “These monks have ruined my married life.” And from that time on she reviled and abused every monk she saw. Indeed the monks did not dare to go into the street where she lived.

The Teacher, knowing what had happened, went there. The Mother of Kāṇā caused the Teacher to sit down in a seat already provided and gave him rice-porridge and hard food. After the Teacher had eaten his breakfast, he asked, “Where is Kāṇā?” “Reverend Sir, when she saw you, she was troubled and is now weeping.” “For what reason?” “Reverend Sir, she has been reviling and abusing the monks. Therefore when she saw you, she was troubled and is now weeping.”

The Teacher caused her to be summoned and said to her, “Kāṇā, why was it that when you saw me you were troubled and hid yourself and wept?” Then her mother told the Teacher what she had done. Said the Teacher to her, “But, Mother of Kāṇā, did you give my disciples what they took, or did you not?” “I gave them what they took, Reverend Sir.” “If my disciples came to the door of your house while going their rounds for alms and accepted the alms which you gave them, what blame rests upon my disciples for so doing?” “Their reverences are in no wise to blame, Reverend Sir; she alone is to blame.”

Turning to the daughter, the Teacher said, “Kāṇā, I learn that my disciples came to the door of your house while they were going their rounds for alms and that your mother gave them some cakes; what blame rests upon my disciples for so doing?” “Their reverences are in no wise to blame, Reverend Sir; she alone is to blame.” Then Kāṇā paid obeisance to the Teacher and begged him to forgive her. The Teacher preached the Law to her in orderly sequence, and she obtained the Fruit of Conversion. The Teacher then rose from his seat and set out for the monastery.

On his way to the monastery he passed through the palace court. The king saw him and said to one of his courtiers, “That is the Teacher, is it not?” “Yes, your majesty.” So the king sent the courtier out, saying to him, “Go tell the Teacher that I am on my way to pay my respects to him.” As the Teacher stood in the palace court, the king approached him, paid obeisance to him, and said, “Reverend Sir, where have you been?” “I have been to the house of the Mother of Kāṇā, your majesty.” “Why did you go there, Reverend Sir?” “I was informed that Kāṇā was reviling the monks; it was for that reason that I went.” “Did you put a stop to her abuse, Reverend Sir?” “Yes, your majesty, she has ceased her abuse and has become mistress of wealth that transcends the world.” “Very well, Reverend Sir, you have made her mistress of wealth that transcends the world; I will make her mistress of the wealth that is in the world.”

So the king paid obeisance to the Teacher, returned to his palace, sent a great covered carriage for Kāṇā, adorned her with all the adornments, made her as his own oldest daughter, and proclaimed, “Let those who are able to support my daughter take her.” Now a certain great noble who was concerned with everything, replied, “Your majesty, I am able to support the king’s daughter.” So saying, he took her to his home, endowed her with all his lordly power and wealth, and said to her, “Do works of merit according to your own good pleasure.”

Thenceforth, having posted men at the four doors, Kāṇā ministered to all the monks and nuns who came to her house, seeking yet more, but failing to find them. Abundant supplies of food, both hard and soft, were always ready in Kāṇā’s house and flowed through her door like a great flood.

The monks began a discussion in the Hall of Truth: “Long ago, brethren, four aged Elders offended Kāṇā. But Kāṇā, offended though she was, received the blessing of faith at the hands of the Teacher. The Teacher again made the door of her house worthy for the monks to approach. Now she cannot find as many monks and nuns as she would like to provide for. Oh, how wonderful is the power of the Buddhas!” The Teacher came in and asked them, “Monks, what is it you are sitting here now talking about?” They told him. He replied, “Monks, this is not the first time those four aged Elders offended Kāṇā; the same thing happened in a previous state of existence also. This is not the first time I have persuaded Kāṇā to obey my words; I did the same thing in a previous state of existence also.” The monks desired to hear more about the matter. So at their request, the Teacher related the Babbu Jātaka, as follows;

Where one cat is found, there a second appears.
And a third, and a fourth; this is the hole those cats sought.

Having related the Jātaka in detail, the Teacher identified the characters as follows, “At that time the four aged Elders were the four cats, the mouse was Kāṇā, and the gem-cutter was I myself. Thus, monks, in times past also Kāṇā, whose heart was sad and whose mind was turbid, became through my words possessed of a mind limpid as a lake of still water.” And joining the connection, he instructed them in the Law by pronouncing the following Stanza,

82. Even as a lake, deep, limpid, clear,
So do wise men become calm after listening to the laws.

  1. Derived from Jātaka 137: i. 477-480. Text: N ii. 149-153.
  2. Vinaya, Pācittiya, xxxiv. 1: iv. 78-79. By “the story” is meant so much of the story as is outlined in the sentence following.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.