Tích Đại Đức Hợp Pháp
Dhammikattheravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 84 Kinh Pháp Cú, phẩm Hiền Trí, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 84)
“Na attahetu na parassahetu,
Na puttamicche na dhanaṃ na raṭṭhaṃ;
Na iccheyya adhammena samiddhimattano,
Sa sīlavā paññavā dhammiko siyā.”
“Không vì người, vì mình,
Không mong con, của, xứ,
Không mong được không thành,
Rằng lời, mất, danh dự,
Thế mới gọi hợp pháp,
Giới đức và trí tuệ.”
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Thế Tôn thuyết ra khi Ngài ngự an tại Jetavana, đề cập đến Đại đức Dhammika (Hợp Pháp).
Tương truyền rằng: Trong thành Sāvatthī có một Thiện nam đang sống an vui với gia đình, một hôm phát tâm muốn xuất gia. Ông ngồi gần bên vợ, chuyện trò vui vẻ rồi nói: “Nầy mình, anh có ý muốn xuất gia.”.
Người vợ can: “Anh hãy khoan đi đã, trong khi em còn bụng mang dạ chửa như vầy.”.
Người chồng hoãn lại ý định xuất gia, chờ tới khi đứa hài nhi biết đi, rồi mới từ biệt để đi tu. Người vợ lại van:
- Anh ơi! Anh hãy chờ đợi con khôn lớn.
Nghe vậy, ông Thiện nam suy nghĩ: “Dầu vợ ta chấp thuận hay không, ta cũng sẽ tự mình làm cho mình hết khổ!”. Thế rồi, ông xuất gia đi tu.
Sau khi thọ đề mục, ông tinh tấn tham thiền quán tưởng, tự mình hoàn tất phận sự xuất gia, xong rồi mới quay trở về Sāvatthī, cốt để thuyết pháp tế độ gia tộc cho thấu đạt chân lý. Con trai của ông cũng xuất gia theo ông và sau đó không bao lâu chứng đắc quả A La Hán.
Lúc bấy giờ, còn vợ ông ở nhà, tự nghĩ: “Ta vì chồng con mới ở nhà lo coi sóc gia đình. Nay cả hai đều xuất gia cả rồi, thì ta còn ở nhà mà làm chi. Ta sẽ xuất gia.”. Sau khi xuất gia không bao lâu, bà cũng chứng đạt A La Hán.
Một hôm, trong giảng đường, câu chuyện nầy được đề khởi:
- Nầy các hiền giả! Thiện nam Dhammika tự mình sống theo Chánh Pháp xong rồi xuất gia hành đạo thành bậc A La Hán, thế mà cũng còn sanh tâm ái luyến vợ con.
Đức Bổn Sư ngự đến hỏi:
- Nầy các Tỳ khưu, hôm nay các thầy câu hội bàn tán chuyện gì thế?
- Bạch Ngài, chuyện như vầy…
Nghe vậy, Đức Thế Tôn dạy rằng:
- Nầy các Tỳ khưu, đã gọi là bậc Trí giả thì không bao giờ nên vì mình, vì người mà mong thành đạt kết quả, chỉ nên nương theo pháp, làm việc hợp pháp mà thôi.
Để kết thúc, Đức Thế Tôn thuyết lên bài kệ nầy:
“Na attahetu na parassahetu,
Na puttamicche na dhanaṃ na raṭṭhaṃ;
Na iccheyya adhammena samiddhimattano,
Sa sīlavā paññavā dhammiko siyā.”
“Không vì mình, vì người,
Không cầu con, ruộng, tiền,
Không mưu thần, chước quỉ,
Chỉ sống thuần đức hạnh,
Chánh trí, hợp chánh pháp.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)
Người trí không làm điều tà,
Không vị thiên hạ, hoặc là riêng ai.
Không nên, bằng việc quấy sai,
Cầu mong vương quốc, con trai, sự giàu.
Không nên tha thiết mong cầu,
Dùng phương bất chánh ngõ hầu thành công.
Được vậy mới thật đáng phong,
Đạo đức, trí tuệ, có lòng thẳng ngay.”
CHÚ GIẢI:
Na attahetu: Bậc xứng danh là trí giả (paṇḍita) thì không thiên vị vì mình hoặc vì người khác mà làm việc quấy ác.
Na puttamicche: Bậc trí giả không cầu mong được con, tài sản, xứ bằng việc làm quấy ác, mà dầu có mong muốn đi nữa, cũng không vì vậy mà tạo thêm ác nghiệp.
Samiddhim attano: Dầu việc chi có lợi ích đến mình, bậc trí cũng không muốn được bằng phi pháp, cho nên không làm ác vì lý do lợi ích vậy.
Sa sīlavā: Bậc quân tử, trượng phu như vậy chính là bậc có đức hạnh, có trí tuệ và sống hợp Chánh pháp. Ngoài ra không có ai khác.
Cuối thời pháp, nhiều vị Tỳ khưu đắc Thánh quả, nhất là Tu Đà Hườn quả.
Lý đạo thông rồi, quyết xuất gia,
Xá chi con, vợ, xá chi nhà,
Trước lo giải thoát riêng mình một,
Sau tính châu toàn trọn cả ba.
Bậc trí trước sau hành đúng đắn,
Người ngu cao thấp nói sai ngoa,
Mắt trần khó biết phân tà chánh,
Hợp Pháp Tỳ khưu, La Hán mà.
DỨT TÍCH ĐẠI ĐỨC DHAMMIKA
Dhammikattheravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Na attahetūti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto dhammikattheraṃ ārabbha kathesi.
Sāvatthiyaṃ kireko upāsako dhammena samena agāraṃ ajjhāvasati. So pabbajitukāmo hutvā ekadivasaṃ bhariyāya saddhiṃ nisīditvā sukhakathaṃ kathento āha – “bhadde, icchāmahaṃ pabbajitu”nti. “Tena hi, sāmi, āgamehi tāva, yāvāhaṃ kucchigataṃ dārakaṃ vijāyāmī”ti. So āgametvā dārakassa padasā gamanakāle puna taṃ āpucchitvā “āgamehi tāva, sāmi, yāvāyaṃ vayappatto hotī”ti vutte “kiṃ me imāya apalokitāya vā anapalokitāya vā, attano dukkhanissaraṇaṃ karissāmī”ti nikkhamitvā pabbaji. So kammaṭṭhānaṃ gahetvā ghaṭento vāyamanto attano pabbajitakiccaṃ niṭṭhapetvā tesaṃ dassanatthāya puna sāvatthiṃ gantvā puttassa dhammakathaṃ kathesi. Sopi nikkhamitvā pabbaji, pabbajitvā ca pana na cirasseva arahattaṃ pāpuṇi. Purāṇadutiyikāpissa “yesaṃ atthāya ahaṃ gharāvāse vaseyyaṃ, te ubhopi pabbajitā, idāni me kiṃ gharāvāsena, pabbajissāmī”ti nikkhamitvā pabbaji, pabbajitvā ca pana na cirasseva arahattaṃ pāpuṇi. Athekadivasaṃ dhammasabhāyaṃ kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ – “āvuso, dhammikaupāsako attano dhamme patiṭṭhitattā nikkhamitvā pabbajitvā arahattaṃ patto puttadārassāpi patiṭṭhā jāto”ti. Satthā āgantvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā ‘imāya nāmā”’ti vutte, “bhikkhave, paṇḍitena nāma neva attahetu, na parahetu samiddhi icchitabbā, dhammikeneva pana dhammapaṭisaraṇena bhavitabba”nti anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Na attahetu na parassa hetu,
Na puttamicche na dhanaṃ na raṭṭhaṃ;
Na iccheyya adhammena samiddhimattano,
Sa sīlavā paññavā dhammiko siyā”ti.
Tattha na attahetūti paṇḍito nāma attahetu vā parahetu vā pāpaṃ na karoti. Na puttamiccheti puttaṃ vā dhanaṃ vā raṭṭhaṃ vā pāpakammena na iccheyya, etānipi icchato pāpakammaṃ na karotiyevāti attho. Samiddhimattanoti yā attano samiddhi, tampi adhammena na iccheyya,samiddhikāraṇāpi pāpaṃ na karotīti attho. Sa sīlavāti yo evarūpo puggalo, so eva sīlavā ca paññavā ca dhammikoca siyā, na aññoti attho.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Dhammikattheravatthu navamaṃ.
VI. 9. Husband and Wife
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
84. Not for his own sake...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the Elder Dhammika.
In Sāvatthi, we are told, a certain lay disciple lived the life of a householder righteously and justly. Desiring to become a monk, he said to his wife one day as he sat chatting with her pleasantly, “Dear wife, I desire to become a monk.” She replied, “Husband, wait until I give birth to the child that is in my womb.” He waited until the child was old enough to walk and then asked her again. She replied, “Husband, wait until this child comes of age.” So he said to himself, “What difference does it make to me whether she gives me her permission or not? I will secure Release from Suffering for myself.”
Accordingly he retired from the world and became a monk. Having obtained a Subject of Meditation, by striving and struggling, he reached the consummation of his own religious life. Then he returned once more to Sāvatthi to see his family and preached the Law to his son. Thereupon his son retired from the world, became a monk, and in no long time attained Arahatship. His former wife thought to herself, “Both of those for whom I desired to live the household life, have become monks; what interest has this life for me any longer? I will become a nun.” Accordingly she went forth and became a nun, and in no long time she also became an Arahat.
One day the monks began a discussion in the Hall of Truth: “Our brother disciple Dhammika, because he was firmly established in the Law, after he had retired from the world, became a monk, and, attaining Arahatship, set an example for his son.” The Teacher came in and asked, “Monks, what are you sitting here now talking about?” They told him. Said he, “Monks, a wise man should desire success neither for his own sake nor for the sake of another. A righteous man should seek refuge only in the Law.” And joining the connection and instructing them in the Law, he pronounced the following Stanza,
84. Not for his own sake, not for the sake of another, should a man desire son or wealth or kingdom;
He should not seek to gain success for himself by unjust means; so will he be upright, wise, and righteous.
- Cf. story xxiv. 4 a. Text: N ii. 157-159.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.