Tích Năm Trăm Vị Tỳ Khưu
Pañcasatabhikkhuvatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 83 Kinh Pháp Cú, phẩm Hiền Trí, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 83)
“Sabbattha ve sappurisā cajanti,
Na kāmakāmā lapayanti santo;
Sukhena phuṭṭhā atha vā dukkhena,
Na uccāvacaṃ paṇḍitā dassayanti.”
“Trượng phu lìa mọi pháp,
Không bàn đến dục lạc,
Trí giả gặp khổ vui,
Không lo nghĩ cao thấp.
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư khi ngự tại tịnh xá Jetavana đề cập đến năm trăm vị Tỳ khưu phát sanh tại Verañja (Huê Lan Nhã). Thật thế, sau khi chứng đắc quả Chánh Giác dưới cội Bồ Đề, Đức Thế Tôn ngự đến thành Verañja trước hạ kỳ đầu tiên, được ông Bà la môn Verañja thỉnh cầu Ngài an cư kiết hạ nơi đó với năm trăm vị Tỳ khưu. Ông Bà la môn Verañja bị Ma vương ám ảnh, khiến ông quên lãng lời thỉnh cầu, không nhớ đến Đức Tôn Sư, dầu chỉ là một ngày. Lúc ấy, thành Verañja gặp cảnh mất mùa, đói kém, chư Tỳ khưu đi bát khắp thành Verañja mà không tìm được vật thực, tình cảnh rất gian nan, vất vả. May nhờ đoàn lái ngựa nhín lại từng nhúm cơm khô để bát, chư Tăng mới sống lây lất qua ngày.
Thấy chư Tăng vất vả, Đại đức Moggallāna có ý muốn lấy chất dinh dưỡng bên dưới mặt đất (paṭhavojaṃ) cúng dường Tăng, và muốn dùng thần thông đưa chư Tăng sang Bắc Cưu Lư Châu đi bát, nhưng Đức Thế Tôn không cho Đại đức làm như vậy.
Còn chư Tỳ khưu không có ngày nào than phiền việc đi bát có ít ỏi vật thực cả. Các Ngài đã dứt được lòng tham dục nên vẫn sống an vui với đời đạo hạnh.
Đến khi mãn mùa an cư nơi đó, Đức Bổn Sư đến từ giã ông Bà la môn Verañja, Ngài được ông ta cúng dường kính ngưỡng, và Ngài truyền thụ Qui giới cho ông ta.
Rời khỏi Verañja, Đức Bổn Sư ngự đi vân du, cho đến một thời Ngài ngự về thành Sāvatthī, vào ngự an nơi tinh xá Jetavana.
Dân cư trong thành Sāvatthī thiết đại lễ Trai Tăng cúng dường mừng ngày Đức Bổn Sư trở về. Khi ấy có một số năm trăm người ăn tàn thực nương theo chư Tỳ khưu, cũng cư ngụ trong vòng tinh xá. Xin được những món ăn dư thừa của chư Tăng, toàn là thực phẩm ngon, quí, họ ăn uống xong rồi, ngủ xong thức dậy, đi ra mé bờ sông chơi giỡn la hét, chia phe đấu vật với nhau trong vòng hoặc ngoài vòng tinh xá.
Trong chư Tăng, nơi giảng đường đề khởi lên Pháp thoại như sau: “Nầy chư huynh đệ, bọn người dùng tàn thực nầy, trong khi ở thành Verañja nhằm mùa đói kém thì họ không tỏ ra vẻ sái quấy. Bây giờ về đây, được ăn uống cao lương mỹ vị như vậy, họ lại phô bày ra lắm trò bỉ ổi hằng ngày. Chư Tỳ khưu khi ở Verañja tuy vậy mà được an tịnh, còn bây giờ thì không được an tịnh.”.
Đức Bổn Sư ngự vào giảng đường, phán hỏi: “Nầy các Tỳ khưu, các ông đang thảo luận chi vậy?”.
- Bạch Ngài, việc nầy…
Nghe vậy, Đức Thế Tôn phán dạy: “Những người ấy xưa kia đã là năm trăm con lừa sanh ra từ những con lừa mẹ. Những con lừa nầy đã dùng nước cốt nho tươi của năm trăm con tuấn mã được thuần phục uống, còn dư là cặn bã bất tịnh, người nài ngựa pha trộn thêm nước lã, rồi lược bằng giẻ bố và gọi rằng: “Tịnh thủy”, thứ nước hư bỏ, lạt lẽo, hèn hạ như vậy mà chúng nó xúm nhau uống như uống rượu ngon và sau khi uống lại hò hét la lối như người say rượu.
Thời ấy, đức vua nghe tiếng ồn ào, huyên náo, phán hỏi. Đức Bồ Tát tường trình hành vi của bọn lừa ấy như sau:
“Vālodakaṃ apparasaṃ nihīnaṃ,
Pitvā mado jāyati gadrabhānaṃ;
Imañca pitvāna rasaṃ paṇītaṃ,
Mado na sañjāyati sindhavānaṃ.
Appampivitvāna nihīnajacco,
So majjatī tena janinda phuṭṭho;
Dhorayhasīlī ca kulamhi jāto,
Na majjatī aggarasaṃ pivitvā’ti.”
Lược dịch:
“ ‘Tịnh thủy’ lạt lẽo thấp hèn,
Bầy lừa uống bị ma men nhập vào.
Rượu nho ngon ngọt thanh cao,
Ngựa tuấn uống, chẳng khi nào biết say.
Tâu quốc vương, kẻ không hay,
Nhắp chút ít rượu là say tức thì.
Con nhà dòng dõi lễ nghi,
Không say, dù uống rượu gì quí ngon.”
Sau khi giải rộng tích Bổn Sanh Tịnh Thủy (vālodaka), Đức Bổn Sư kết luận rằng: “Nầy chư Tỳ khưu, các bậc hiền nhân quân tử hằng giữ được phẩm hạnh như thế. Xa lìa tham dục rồi, dầu gặp hoàn cảnh vui buồn, sướng khổ thế nào, các bậc ấy cũng vẫn điềm đạm, an nhiên.”.
Kết luận xong, Đức Bổn Sư lại thuyết pháp và đọc bài kệ nầy:
“Sabbattha ve sappurisā cajanti,
Na kāmakāmā lapayanti santo;
Sukhena phuṭṭhā atha vā dukkhena,
Na uccāvacaṃ paṇḍitā dassayanti.”
“Trượng phu chẳng chút bận lòng,
Đến điều tham dục không nên luận bàn.
Trí giả, tâm đã tịnh an,
Gặp cảnh sướng khổ, chẳng màng nói ra.”
CHÚ GIẢI:
Tiếng Sabbattha (khắp nơi) trên đây ám chỉ tất cả mọi pháp, nhất là khắp tất cả mọi thành phần của Ngũ uẩn (thân và tâm).
Sappurisā (Trượng phu) là những nam nhân tốt (Sappurisā), tức là những bậc hiền nhân quân tử.
Vajanta (lìa bỏ), đây là dứt bỏ được ái dục (chandarāga) do nhờ chứng đắc A La Hán đạo tuệ (Arahattamaggaññāṇa).
Na kāmakāmā: không bàn đến động cơ của dục lạc (kāmayantā) nhân của dục lạc (kāmahetu), lý do của dục lạc (kāmakāraṇā).
Santo: Bậc an tịnh như chư Phật… thì không tự mình nói hoặc bảo kẻ khác nói đến nhân dục lạc… Quả vậy, những vị Tỳ khưu nào lúc đi trì bình khất thực, đến đứng chỗ mình ưa thích rồi mở lời rằng: “Nầy ông thiện nam, vợ con ông mạnh giỏi không?”; hoặc “Ông có việc chi phiền phức chớ?”. Tỳ khưu nói chuyện vô ích phù phiếm, như chuyện vua quan, trộm cướp… chừng ba bốn câu như vậy, là là lapayanti (nói phiếm). Khi gia chủ nghe rồi, đáp lại: “Bạch Ngài, cả nhà con đều được an vui, không có điều chi phiền phức. Bây giờ, chúng con dư dả vật thực, xin thỉnh Ngài ở lại đây.”. Tỳ khưu nói ướm để được thỉnh mời như vậy, gọi là lapayanti. Bậc Tịnh giả không nói theo hai cách trên đây.
Dầu tiếp xúc với cảnh vui hay cảnh khổ, dầu bị tám pháp thế gian đụng chạm đến các Ngài, bậc Trí giả cũng không to tiếng, lộ vẻ bất bình khen tốt, chê xấu, hãnh diện hay hổ thẹn chi cả.
Cuối thời pháp, có nhiều vị Tỳ khưu chứng đắc quả Tu Đà Hườn…
Tịnh giả dầu trong cảnh ngộ nào,
Cũng là trầm mặc chẳng xôn xao,
Khi vui, lúc khổ, tâm thường trụ
Bữa được, ngày thua, trí vẫn cao.
Lan Nhã đã qua mùa đói kém,
Kỳ Viên còn gặp nhóm tầm phào,
Thói đời no đủ sanh nhiều chuyện,
Theo Phật ăn dư lại tự hào.
DỨT TÍCH NĂM TRĂM VỊ TỲ KHƯU
Pañcasatabhikkhuvatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Sabbattha ve sappurisā cajantīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto pañcasate bhikkhū ārabbha kathesi. Desanā verañjāyaṃ samuṭṭhitā.
Paṭhamabodhiyañhi bhagavā verañjaṃ gantvā verañjena brāhmaṇena nimantito pañcahi bhikkhusatehi saddhiṃ vassaṃ upagañchi. Verañjo brāhmaṇo mārāvaṭṭanena āvaṭṭo ekadivasampi satthāraṃ ārabbha satiṃ na uppādesi. Verañjāpi dubbhikkhā ahosi, bhikkhū santarabāhiraṃ verañjaṃ piṇḍāya caritvā piṇḍapātaṃ alabhantā kilamiṃsu. Tesaṃ assavāṇijakā patthapatthapulakaṃ bhikkhaṃ paññāpesuṃ. Te kilamante disvā mahāmoggallānatthero pathavojaṃ bhojetukāmo, uttarakuruñca piṇḍāya pavesetukāmo ahosi, satthā taṃ paṭikkhipi. Bhikkhūnaṃ ekadivasampi piṇḍapātaṃ ārabbha parittāso nāhosi, icchācāraṃ vajjetvā eva vihariṃsu. Satthā tattha temāsaṃ vasitvā verañjaṃ brāhmaṇaṃ apaloketvā tena katasakkārasammāno taṃ saraṇesu patiṭṭhāpetvā tato nikkhanto anupubbena cārikaṃ caramāno ekasmiṃ samaye sāvatthiṃ patvā jetavane vihāsi, sāvatthivāsino satthu āgantukabhattāni kariṃsu. Tadā pana pañcasatamattā vighāsādā bhikkhū nissāya antovihāreyeva vasanti. Te bhikkhūnaṃ bhuttāvasesāni paṇītabhojanāni bhuñjitvā niddāyitvā uṭṭhāya nadītīraṃ gantvā nadantā vaggantā mallamuṭṭhiyuddhaṃ yujjhantā kīḷantā antovihārepi bahivihārepi anācārameva carantā vicaranti. Bhikkhū dhammasabhāyaṃ kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ “passathāvuso, ime vighāsādā dubbhikkhakāle verañjāyaṃ kañci vikāraṃ na dassesuṃ, idāni pana evarūpāni paṇītabhojanāni bhuñjitvā anekappakāraṃ vikāraṃ dassentā vicaranti. Bhikkhū pana verañjāyampi upasantarūpā viharitvā idānipi upasantupasantāva viharantī”ti. Satthā dhammasabhaṃ gantvā, “bhikkhave, kiṃ kathethā”ti pucchitvā “idaṃ nāmā”ti vutte “pubbepete gadrabhayoniyaṃ nibbattā pañcasatā gadrabhā hutvā pañcasatānaṃ ājānīyasindhavānaṃ allarasamuddikapānakapītāvasesaṃ ucchiṭṭhakasaṭaṃ udakena madditvā makacipilotikāhi parissāvitattā ‘volodaka’nti saṅkhyaṃ gataṃ apparasaṃ nihīnaṃ pivitvā madhumattā viya nadantā vicariṃsūti vatvā –
“Vālodakaṃ apparasaṃ nihīnaṃ,
Pitvā mado jāyati gadrabhānaṃ;
Imañca pitvāna rasaṃ paṇītaṃ,
Mado na sañjāyati sindhavānaṃ.
“Appaṃ pivitvāna nihīnajacco,
So majjatī tena janinda puṭṭho;
Dhorayhasīlī ca kulamhi jāto,
Na majjatī aggarasaṃ pivitvā”ti. (jā. 1.2.65);
Idaṃ vālodakajātakaṃ vitthārena kathetvā “evaṃ, bhikkhave, sappurisā lokadhammaṃ vivajjetvā sukhitakālepi dukkhitakālepi nibbikārāva hontī”ti anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Sabbattha ve sappurisā cajanti,
Na kāmakāmā lapayanti santo;
Sukhena phuṭṭhā atha vā dukhena,
Na uccāvacaṃ paṇḍitā dassayantī”ti.
Tattha sabbatthāti pañcakkhandhādibhedesu sabbadhammesu. Sappurisāti supurisā. Cajantīti arahattamaggañāṇena apakaḍḍhantā chandarāgaṃ vijahanti. Kāmakāmāti kāme kāmayantā kāmahetu kāmakāraṇā. Na lapayanti santoti buddhādayo santo kāmahetu neva attanā lapayanti, na paraṃ lapāpenti. Ye hi bhikkhāya paviṭṭhā icchācāre ṭhitā “kiṃ, upāsaka, sukhaṃ te puttadārassa, rājacorādīnaṃ vasena dvipadacatuppadesu natthi koci upaddavo”tiādīni vadanti, tāva te lapayanti nāma. Tathā pana vatvā “āma, bhante, sabbesaṃ no sukhaṃ, natthi koci upaddavo, idāni no gehaṃ pahūtaannapānaṃ, idheva vasathā”ti attānaṃ nimantāpentā lapāpenti nāma. Santo pana idaṃ ubhayampi na karonti. Sukhena phuṭṭhā atha vā dukhenāti desanāmattametaṃ, aṭṭhahi pana lokadhammehi phuṭṭhā tuṭṭhibhāvamaṅkubhāvavasena vā vaṇṇabhaṇanaavaṇṇabhaṇanavasena vā uccāvacaṃ ākāraṃ paṇḍitā na dassayantīti.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Pañcasatabhikkhuvatthu aṭṭhamaṃ.
VI. 8. A Pack of Vagabonds
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
83. Everywhere good men practice renunciation; good men talk not as if given to sensual pleasure;
Wise men, touched either by happiness or by sorrow, show no change.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to five hundred monks. The story begins at Verañjā.
For in the First Period of Enlightenment the Exalted One paid a visit to Verañjā, and, at the invitation of the Brahman Verañjā, went into residence there for the rainy season with five hundred monks. Now the Brahman Verañjā came under the spell of Māra to such an extent that not for a single day did he give a thought to the Teacher. Moreover there was a famine in Verañjā. The monks went throughout and about Verañjā for alms, but, receiving none, became exhausted. Thereupon horse-dealers provided them with steamed grain in pattha measures. Elder Moggallāna the Great, seeing that they were exhausted, desired to feed them sap of the earth and sought permission for them to enter Uttarakuru for alms, but the Teacher refused his request. Not for a single day were the monks anxious about food, but continued to live entirely free from desire.
After the Teacher had resided there for three months, he notified the Brahman Verañja of his intention to leave and the Brahman did him honor and reverence. The Teacher established him in the Refuges, and departed. After journeying from place to place, the Teacher reached Sāvatthi in due course at a certain time, and took up his residence at Jetavana. The residents of Sāvatthi presented food to the Teacher in honor of his arrival.
Now at that time, by the kindness of the monks, five hundred eaters of refuse lived within the monastery inclosure. After eating remnants of choice food left by the monks, they would lie down to sleep. When they arose, they would go to the bank of the river and shout and jump and wrestle and play. Both within and without the monastery, they did nothing but misbehave.
The monks discussed their actions in the Hall of Truth: “Brethren, only look at those eaters of refuse! When there was a famine in Verañjā, they were guilty of no impropriety. But now, after eating all sorts of choice food, they go about indulging in all manner of improprieties. But at Verañjā the monks lived peacefully and at the present time also they are living in peace and quiet.”
The Teacher entered the Hall of Truth and asked the monks what they were discussing. When they told him, he said, “In former times also these men were guilty of the same conduct. In former times, reborn as five hundred asses, they took leavings of liquor made of the moist juices of the grape, drunk by five hundred thoroughbreds of Sindh, and kneading the leavings with water and straining them through towels, they drank this juiceless, vile drink, called “strained water.” And straightway becoming as drunk as though they had drunk wine, they went about shouting.
From drinking “strained water,” a juiceless, vile drink, the asses became drunk. But the Sindh horses, which drank the choice liquor, did not become drunk.
O King, a low fellow who drinks but little, no sooner touches his drink than he is drunk.
But a man who is well-born and patient does not become drunk by drinking the finest liquor.
Having related this Valodaka Jātaka in detail, the Teacher said, “Thus, monks, good men, renouncing the evil principle of desire, are not subject to change in times of happiness or of sorrow.” And joining the connection, he instructed them in the Law by pronouncing the following Stanza,
83. Everywhere good men practice renunciation; good men talk not as if given to sensual pleasure;
Wise men, touched either by happiness or by sorrow, show no change.
- Derived from Jātaka 183: ii. 95-97. The Jātaka in turn is derived from the Vinaya, Pārājika, i. 1-4: iii. 1-11. Text: N ii. 153-157.
- Jātaka 183: ii. 95-97.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.