Chú giải Pháp Cú · Kệ 79 · Dhp 79

Tích Đại Đức Ma Ha Kiếp Tân Na

Mahākappinattheravatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 79 Kinh Pháp Cú, phẩm Hiền Trí, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 79)

“Dhammapīti sukhaṃ seti,
Vippasannena cetasā;
Ariyappavedite dhamme,
Sadā ramati paṇḍitoti.”

“Các pháp hỷ thảnh thơi,
Với tâm tư thuần khiết,
Nghe pháp Thánh nhân thuyết,
Người trí mãi vui chơi.”

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài ngự an tại Jetavana, đề cập đến Đại đức Mahākappina (Ma Ha Kiếp Tân Na).

Và đây là sự tích kể theo thứ lớp.
Tương truyền rằng: Từ thời quá khứ, Đại đức

Mahākappina đã từng cúng dường, rồi phát nguyện dưới chân Đức Phật Padumuttara. Trong thời gian phiêu lưu trong vòng luân hồi, có kiếp Đại đức tái sanh vào gia tộc ông trưởng đoàn thợ dệt, trong một khu phố dệt cách thành Bārāṇasī không bao xa.

Vào thời ấy, có một ngàn vị Độc Giác Phật, sau khi trú ở miền Tuyết Sơn đã tám tháng, các Ngài đến thành Bārāṇasī để tìm nơi an cư trong bốn tháng mùa mưa. Các Ngài dừng chân tại một địa điểm cách thành Bārāṇasī không xa, cử tám vị đi yết kiến quốc vương để xin nhân công đến xây cất chỗ ngụ cho các Ngài.

Bấy giờ, nhằm lúc đức vua đang bận tổ chức cuộc lễ gieo mạ. Khi nghe quan hầu báo tin có chư Phật Độc Giác ngự đến, quốc vương lâm triều và phán hỏi cho rõ mục đích của cuộc tiếp xúc nầy.

- Bạch chư Đại đức, trẫm không thể chuẩn nhận lời xin của chư Đại đức bởi vì sáng mai trẫm sẽ cử hành cuộc lễ gieo mạ kéo dài cả ba ngày đêm liền.

Phán rồi, quốc vương trở vào hoàng cung không mời thỉnh chư Phật Độc Giác cúng dường vật thực chi cả. Các Ngài đành ra khỏi thành, tính thầm: “Chúng ta sẽ đến một làng khác.”.

Ngay trong lúc ấy, bà vợ của ông trưởng đoàn thợ dệt đang đi vào thành Bārāṇasī vì một chút việc cần. Gặp chư Phật Độc Giác bà đảnh lễ xong, bạch hỏi:

- Bạch chư Đại đức, sao các Ngài đến trễ quá vậy?

Sau khi nghe rõ đầu đuôi câu chuyện, người nữ có đầy đủ đức tin và trí tuệ ấy mới thỉnh cầu:

- Bạch chư Đại đức, con xin thỉnh các Ngài, sáng mai đến thọ bát tại nhà con.

- Nầy cô, chư Tăng chúng tôi đông lắm

- Bạch chư Đại đức, các Ngài có tất cả bao nhiêu?

- Độ một ngàn vị cô ạ.

- Bạch chư Đại Đức, trong làng có một ngàn gia tộc, mỗi làng sẽ lo để bát một vị. Các Ngài hãy nhận thọ bát trước, rồi con sẽ lo liệu việc cất liêu cốc, chỗ ngụ để cúng dường các Ngài sau.

Chư Phật Độc Giác bèn nhận lời. Bà tín nữ đi vào làng, cất tiếng kêu gọi rằng: “Tôi đã gặp độ ngàn vị Phật Độc Giác và đã cung thỉnh Ngài, vậy quí vị hãy lo sắp đặt chỗ ngồi, nấu sẵn cơm cháo…”. Sau đó dựng lên một trang trại ở ngay giữa làng, trải lót tọa cụ đàng hoàng và qua ngày mai họ thỉnh chư Phật Độc Giác an tọa, rồi dâng cúng vật thực ngon quí. Sau khi các Ngài dùng xong bữa, bà tín nữ dắt tất cả nữ nhân trong làng cùng đi với mình đến đảnh lễ chư Phật Độc Giác và thỉnh các Ngài chấp nhận ở lại nơi đó an cư mùa mưa ba tháng.

Kế đó, bà tín nữ vào làng, cất tiếng kêu gọi rằng:

- Nầy các người ơi! Mỗi nhà hãy đơn cử một người nam, đem theo búa rìu vào rừng đốn cây làm vật liệu mang về đặng kiến tạo chỗ ngụ hộ các chư Đại đức.

Dân chúng trong làng, theo lời của bà tín nữ, mỗi nhà đưa ra một nam nhân, hiệp lực công tác dựng lên ngàn thảo am (paṇṇasālā) có đủ chỗ hành đạo và nghỉ ngơi. Đến gần ngày an cư, các chủ nhà của những thảo xá tranh nhau cung thỉnh chư Phật Độc Giác và hứa hẹn: “Tôi nguyện sẽ hộ độ Ngài tử tế đàng hoàng.”. Nhà nào thỉnh được vị Phật nào ở thảo xá của mình thì lo hộ độ vị đó. Đến khi mãn hạ, mỗi nhà đều nhắc vị Phật của mình may y và dâng mỗi vị một xấp vải may y đáng giá một ngàn đồng.

Sau khi mãn mùa an cư, chư Phật Độc Giác tụng kinh phúc chúc cho các thí chủ xong, thì từ giã ra đi. Còn dân chúng trong làng nhờ tạo phước nầy, đến khi chết siêu sanh lên cõi trời Đao Lợi (Tāvatiṃsa) mệnh danh là thiên chúng (Gaṇadevaputta), hưởng lộc trời. Đến thời kỳ Đức Chánh Biến Tri Kassapa, họ cùng tái sanh vào những gia đình Trưởng giả trong thành Bārāṇasī, ông đoàn trưởng thợ dệt tái sanh làm con trai của ông Đại Trưởng giả trong thành, bà vợ của ông lại là một tiểu thư con của một Đại Trưởng giả khác. Tất cả các bà vợ của ông thợ dệt cũng là các tiểu thư của các nhà Trưởng giả và khi khôn lớn họ lại tái hợp với nhau như thuở trước.

Một hôm, dân chúng cùng rủ nhau vào tinh xá nghe thuyết pháp. Khi nghe nói: “Có Đức Bổn Sư thuyết pháp.”, tất cả Trưởng giả đồng thanh: “Chúng ta hãy đi nghe pháp.”, và dắt luôn vợ đi vào tinh xá.

Lúc họ đến giữa vườn chùa thì trời đổ mưa. Những ai có người quen thuộc hoặc là thân quyến của các vị Sa di… thì chạy vào đụt mưa trong cốc của các vị ấy. Còn những ai không có người quen thì không biết chạy đâu, đành đứng y giữa sân tinh xá mà chịu trận.

Khi ấy, ông Đại Trưởng giả nói với họ rằng: “Quí vị hãy nhìn xem thảm trạng của chúng ta! Là con nhà danh giá cả, mà phải chịu cái cảnh xấu hổ như vầy. Thưa quí vị, bây giờ ta phải tính sao?”.

- Chúng ta sở dĩ gặp phải cảnh trạng huống như vầy là do thiếu chỗ thân thiện có thể nương nhờ. Vậy chúng ta nên bỏ tiền ra chung đậu lại mà cất lên một ngôi chánh điện (pariveṇa).

- Lành thay, thưa quí vị.

Ông Đại Trưởng giả bỏ ra ngàn đồng vàng, kỳ dư đều bỏ ra năm trăm đồng vàng cho mỗi vị, còn các nữ nhân thì cũng bỏ ra mỗi người hai trăm năm mươi đồng vàng để hùn vào. Khi góp được số tiền lớn ấy, họ khởi công xây cất một chánh điện mệnh danh là Đại Giảng Đường (Mahāpariveṇa), gồm cả ngàn cái nóc để cúng dường đến chư Tăng có Đức Bổn Sư là tọa chủ. Công trình kiến trúc đồ sộ quá, phí tổn rất nhiều, thành ra số tiền góp được khi trước không đủ, họ phải góp thêm hai lần phân nửa như vậy nữa.

Ngày khánh thành ngôi Giảng Đường Trùng Các nầy, họ cung thỉnh Đức Bổn Sư đến chứng minh cuộc đại lễ Trai Tăng suốt bảy ngày, và lúc sắp kết thúc đại lễ, họ lại cúng dường y đến hai muôn vị Tỳ khưu.

Vợ của Đại Trưởng giả không chịu đồng hưởng phước như mọi người, mà định sử dụng trí tuệ của mình để tạo ra công đức tối thắng hơn: “Ta sẽ cúng dường đến Đức Bổn Sư.”. Nghĩ như vậy, bà lấy một đóa hoa Anoja (Hoàng Hoa), gói trong một khăn choàng có màu như hoa Anoja trị giá một trăm ngàn đồng vàng, chờ khi Đức Bổn Sư sắp tụng kinh phúc chúc, bà dâng y cùng hoa đến Ngài, đặt tấm y choàng quí giá dưới chân Đức Phật, bà phát nguyện: “Bạch Ngài, xin cho con tái sanh trong cảnh giới nào, cũng được thân thể sáng màu vàng cam như sắc Hoàng Hoa (Anoja) đây vậy, và xin cho con được mang tên là Anoja (Hoàng Hoa) nữa.”.

Đức Phật phúc chúc: “Chúc con được mãn nguyện.”. Tất cả những gia trưởng trên đây sống tùy theo tuổi thọ, sau khi mạng chung đều thọ sanh về Thiên giới. Đến thời Đức Phật hiện tại, ông Đại Trưởng giả thời trước, từ cõi trời tái sanh vào hoàng tộc, tại thành Kukkuṭavatī (Hùng Kê), đến tuổi trưởng thành thì được tôn vương, ngự hiệu là đức vua Mahākappina. Các Trưởng giả xưa kia cũng tái sanh vào cõi người, trong những gia tộc đại thần cả. Bà Đại Trưởng giả thì tái sanh vào hoàng tộc trong thành Tāyala, xứ Madda, được song thân đặt tên là công chúa Anoja (Hoàng Hoa), vì toàn thân công chúa có ánh sắc vàng cam như bông Anoja vậy. Các bà Trưởng giả kia cũng đều sanh vào các gia tộc quyền quí, đến khi trưởng thành lại kết hôn với những công tử con quan trong triều vua Mahākappina, theo đúng như quan hệ từ trước. Còn công chúa Anoja thì được hoàng đế Mahākappina rước về làm hoàng hậu trong triều.

Tất cả những quí tộc nầy đều giàu sang ngang hàng với quốc vương. Khi nào quốc vương vận triều phục, điểm trang lộng lẫy, cỡi voi ngự đi du ngoạn, thì họ cũng xuất hành đi theo chung thể, chứ không chịu kém. Còn quốc vương cỡi ngựa hoặc ngồi xe thì họ cũng cỡi ngựa hoặc ngồi xe mà đi như quốc vương. Họ được vinh hiển đồng đẳng như vậy là do nhờ hưởng quả của những phước lành mà họ đã tạo dựng chung một lượt với nhau.

Quốc vương có năm con tuấn mã tên là Bala (Lực), Balavāhana (Lực Tải), Puppha (Hoa), Pupphavāhana (Hoa Tải) và Supatta (Thiện Đạt). Quốc vương chỉ cỡi con Supatta, còn bốn con thì giao cho những sứ giả của vua cỡi để đi săn tin. Mỗi sáng quốc vương đãi đằng các vương sứ ăn uống xong rồi, phán bảo họ: “Chư khanh hãy đi, trải qua độ hai ba do tuần để nghe ngóng, dọ hỏi: Khi biết rõ có Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng ra đời thì mang phúc tín về cho quả nhân.”.

Bốn vị vương sứ theo bốn cửa thành ra đi bốn hướng, trải qua hai ba do tuần chẳng bắt được tin lành, bèn trở về trào.

Một hôm, đức vua cỡi con tuấn mã Supatta cùng với ngàn quan đại thần hộ giá, xuất thành du ngoạn, bỗng thấy năm trăm người lái buôn dạn dày sương gió, đang đi vào thành, quốc vương nghĩ thầm: “Những người lái buôn nầy có vẻ mệt mỏi phong trần vì đi đường xa. Trẫm sẽ hỏi thăm họ, may ra nghe được tin lành nào chăng?”. Quốc vương cho đòi đoàn lái buôn đến và phán hỏi:

- Các người từ đâu đến đây?

- Tâu đại vương, cách đây độ một trăm hai mươi do tuần, có một kinh thành tên là Sāvatthī. Chúng tôi từ đó đến đây.

- Trong xứ đó của các người, có tin lành gì phát sanh lên chăng?

- Tâu đại vương! Chẳng có tin lành chi khác ngoài ra cái tin Đức Chánh Biến Tri đã giáng thế.

Vừa nghe tới đó, long thể tràn đầy năm thứ phỉ lạc, quốc vương không suy tính được gì cả, một chập sau mới phán hỏi rằng: “Các khanh nói sao?”.

- Tâu đại vương, Đức Phật đã giáng thế.

Lần thứ nhì, rồi lần thứ ba quốc vương cũng ngơ ngẩn vì quá vui mừng trong chốc lát như thế. Lần thứ tư, quốc vương lại phán hỏi: “Các khanh nói chi?”.

Khi nghe trả lời: “Tâu đại vương! Đức Phật đã giáng thế.”, quốc vương phán rằng:

- Nầy chư khanh, trẫm sẽ ân thưởng chư khanh một trăm ngàn đồng.

Phán rồi quốc vương lại hỏi tiếp:

- Về sau còn có tin lành nào khác nữa chăng, các khanh?

- Tâu đại vương! Đức Pháp đã giáng thế.

Nghe tin nầy, đức vua cũng ngây ngất trong chốc lát ba lần như trước. Đến khi nghe câu: “Đức Pháp đã giáng thế.” Lần thứ tư, đức vua cũng hứa: “Trẫm sẽ ân thưởng chư khanh một trăm ngàn đồng.”. Hứa xong, đức vua lại phán hỏi:

- Về sau, có tin lành nào khác nữa không?

- Tâu đại vương, có Đức Tăng đã giáng thế.

Nghe vậy, đức vua cũng ngây ngất vì vui mừng trong chốc lát như ba lần trước. Và lần thứ tư khi nghe câu: “Đức Tăng đã giáng thế.”, đức vua cũng tuyên bố sẽ ân thưởng một trăm ngàn đồng vàng cho đoàn thương buôn báo tin lành đến Ngài.

Đoạn đức vua đưa mắt nhìn ngàn quan đại thần tùy giá hỏi rằng: “Chư hiền khanh, sẽ làm gì?”.

- Tâu bệ hạ, chẳng hay bệ hạ định làm gì?

- Nầy chư khanh! Bây giờ đã biết tin lành Đức Phật đã giáng thế, Đức Pháp đã giáng thế, Đức Tăng đã giáng thế, quả nhân sẽ không thối chuyển, nhất định sẽ tìm đến Đức Thế Tôn để xin xuất gia với Ngài.

- Tâu bệ hạ! Chúng tôi cũng sẽ xuất gia đi chung với bệ hạ.

Quốc vương khiến quan hầu lấy vàng lá, thảo tín thơ trao cho những lái buôn và dặn rằng:

- Chư khanh về triều trao tín thơ nầy đến hoàng hậu Anoja, hoàng hậu sẽ ban thưởng cho các khanh ba trăm ngàn đồng vàng. Khi ấy, chư khanh hãy tâu với hoàng hậu như vầy: “Quốc vương truyền ngôi và giao phó giang sang đế nghiệp về tay hoàng hậu. Vậy hoàng hậu hãy tùy nghi sử dụng.”. Nếu hoàng hậu có hỏi chư khanh: “Hoàng thượng bây giờ ngự ở đâu?”, thì chư khanh nên cho biết rằng: Ngài tuyên bố: “Trẫm sẽ đi tìm Đức Bổn Sư để xuất gia.”, và Ngài đã đi rồi.

Còn ngàn quan đại thần cũng thảo thơ, mỗi vị đều báo tin cho vợ mình như thế cả.

Sau khi lái buôn từ biệt rồi, quốc vương lập tức lên đường tầm sư học đạo cùng với ngàn viên đại thần tùy tùng. Ngày ấy, lúc sáng tinh sương, trong khi Đức Bổn Sư quán sát thế gian, Ngài trông thấy quốc vương Mahākappina cùng với đoàn hộ giá. Quán thêm nữa, Ngài biết rõ rằng: đức vua Mahākappina khi nghe đoàn lái buôn báo tin đã có Tam Bảo giáng thế thì ban thưởng cho họ ba trăm ngàn đồng vàng, rồi rời bỏ ngai vàng, dắt theo ngàn quan đại thần đi tìm Như Lai để xuất gia hành đạo. Ngày mai, đức vua sẽ đến đây xuất gia, sẽ đắc quả A La Hán với Tuệ phân tích một lượt với ngàn quan tùy tùng. Như Lai sẽ đón tiếp để tế độ đức vua.

Qua hôm sau, cũng như vị Chuyển Luân Vương ngự đón đường một vị thôn trưởng, Đức Thế Tôn đắp y mang bát, một mình vượt qua quãng đường một trăm hai mươi do tuần, đi về hướng có quốc vương, đến ngồi tại bờ sông Candabhāgā (Nguyệt Phần), dưới gốc cây đa và phóng tỏa ra hào quang lục sắc.

Còn quốc vương đang đi tìm Đức Phật, đến một con sông, bèn hỏi quan tùy tùng:

- Con sông nầy tên chi?

- Tâu bệ hạ! Đây là sông Aravacchā.

- Sông nầy sâu rộng thế nào vậy chư khanh?

- Tâu bệ hạ, bề sâu của nó là một dặm, bề rộng là hai dặm (gāvuta).

- Nơi đây có thuyền bè chi để qua sông chăng?

- Tâu bệ hạ, không có.

Trong lúc các quan lo tìm kiếm thuyền bè… quốc vương khấn thầm rằng: “Vì chúng tôi nhận thấy sự sanh dắt dẫn đến sự già, sự già dắt dẫn đến sự chết, nên bá quan đã một lòng cùng trẫm ra đi để tìm Tam Bảo. Do nhờ oai lực của Tam Bảo, xin cho nước sông nầy hãy đừng giống như nước.”.

Sau khi suy tư đến Hồng Ân Tam Bảo, quốc vương bắt đầu tưởng niệm: “Itipiso Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddhoti.” (Ngài là Đức Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Đức Chánh Biến Tri…) chú tâm giữ vững đề mục Niệm Phật, quốc vương với đoàn tùy tùng ngồi trên lưng cả ngàn con ngựa, lướt trên mặt nước mà qua sông. Những con tuấn mã vó câu dồn dập như chạy trên mặt đá, đầu móng chân không bị thấm ướt chút nào cả.

Qua khỏi con sông nầy, quốc vương đi trước lại gặp một con sông khác, liền phán hỏi:

- Sông nầy tên chi?

- Tâu bệ hạ, nó tên là Nīḷavahanā (Thanh Sắc Cấp Thủy Hà).

- Nó sâu, rộng bao nhiêu?

- Tâu bệ hạ, bề sâu cũng như bề rộng của nó là nửa do tuần.

Trong lúc các quan lo tìm kiếm thuyền bè để qua sông. Quốc vương cũng khấn nguyện như lần trước, nhưng với con sông nầy quốc vương tưởng niệm câu Svākkhāto bhagavatā dhammoti” (Pháp mà Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng…). Chú tâm giữ vững đề mục Niệm Pháp, quốc vương phóng ngựa vượt qua sông an toàn.

Nhưng vượt qua sông nầy rồi, quốc vương lại gặp một con sông khác nữa, lại phán hỏi các quan:

- Sông nầy tên chi?

- Tâu bệ hạ, tên nó là Candabhāga (Nguyệt Phần).

- Bề sâu và rộng của nó là bao nhiêu?

- Bề sâu và rộng của nó là một do tuần.

Trong lúc bá quan nhìn kiếm thuyền bè quốc vương cũng khấn nguyện như trước, nhưng với con sông nầy, quốc vương khấn nguyện, niệm tưởng Ân Đức Tăng “Supaṭipanno bhagavato sāvakasaṅghoti” (Tăng là các Bậc Thinh Văn đệ tử Phật đã tu hành đúng theo Chánh pháp). Chú tâm giữ vững đề mục Niệm Tăng, quốc vương vượt sông an toàn.

Qua sông rồi, quốc vương tiếp tục hành trình đi mãi đi mãi, cho đến khi trông thấy những tia hào quang sáu màu từ kim thân của Đức Bổn Sư phóng ra. Toàn cả cây đa, chỗ Đức Bổn Sư ngự, những cành lá và rễ phụ đều lóng lánh y như bằng vàng ròng. Quốc vương nghĩ thầm: “Trẫm chưa từng thấy ánh sáng rực rỡ dường nầy bao giờ. Nó không phải là của mặt trăng, mặt trời, hay chư Thiên, Ma Vương, Phạm Thiên, Long vương, Kim sí điểu… hoặc của ai khác nữa. Trên đường đi tầm sư học đạo chắc là trẫm được gặp Đức Phật Tổ Gotama bây giờ đây.”.

Quốc vương bèn xuống ngựa, hạ mình nương theo ánh hào quang mà đến gần Đức Bổn Sư. Như người lặn trong hồ nước thơm, mát mẻ (manosilārasa), quốc vương đến bên trong vùng hào quang của Đức Phật, đảnh lễ ra mắt Đức Bổn Sư xong rồi, ngồi xuống một bên cùng với một ngàn cận thần.

Đức Bổn Sư thuyết tuần tự Pháp (anupubbīkathā), đến cuối thời pháp, quốc vương cùng đoàn tùy tùng đều đắc quả Tu Đà Hườn. Khi ấy, tất cả đồng đứng dậy, ngỏ lời xin xuất gia.

Đức Bổn Sư tự vấn: “Những thiện gia tử quí tộc nầy có y bát do thần thông lực được chăng?”. Khi quán xét, Ngài thấy rằng: “Những thiện gia tử nầy đã có cúng dường một ngàn lá y đến ngàn vị Độc Giác Phật, và trong thời Đức Chánh Biến Tri Kassapa đã cúng dường hai muôn lá y đến hai muôn Tăng chúng. Không có chi lạ, nếu có y bát phát sanh đến cho họ do thần thông lực.”.

Biết rõ như thế, Đức Bổn Sư đưa tay phải ra, phán rằng: “Thiện lai Tỳ khưu! (Hãy đến đây hỡi chư Tỳ khưu!) Hãy thực hành Phạm hạnh cho chơn chánh, ngõ hầu chấm dứt mọi nỗi khổ đau.”

Ngay khi ấy, những Tỳ khưu mới nầy có đầy đủ tám món vật tùy thân, có hình dáng trang nghiêm như những vị Đại đức hằng trăm tuổi hạ, đồng bay bổng lên hư không, đáp xuống đảnh lễ Đức Bổn Sư, rồi ngồi yên nơi đó.

Nói về các thương khách, về đến kinh đô vào triều kiến hoàng hậu, báo tin rằng mình có mang lời ủy thác của đức vua, khi được hoàng hậu truyền lịnh: “Hãy vào!”, họ bèn vào triều bái tung hô xong, đứng nép qua một bên.

Khi ấy, hoàng hậu phán hỏi họ: “Chư khanh đến có việc chi cần yếu?”.

- Chúng tôi được lịnh quốc vương phái về tiếp kiến hoàng hậu ban cho chúng tôi ba trăm ngàn đồng.

- Chư khanh xin sao nhiều quá vậy? Chẳng hay chư khanh đã làm điều chi khiến hoàng thượng phát tâm trong sạch đối với chư khanh, mới ban thưởng cho chư khanh số tiền to lớn như thế ấy?

- Tâu hoàng hậu, chúng tôi chẳng có làm điều chi khác ngoài việc báo một tin lành đến quốc vương biết.

- Chư khanh báo tin lành ấy đến cho ta nghe được chăng?

- Tâu hoàng hậu, được.

- Thế thì chư khanh hãy nói đi.

- Tâu hoàng hậu, Đức Phật đã giáng thế.

Nghe được tin nầy, từ lần thứ nhất đến lần thứ ba, cả ba lần ngọc thể tràn đầy phỉ lạc, hoàng hậu không còn tưởng nghĩ điều chi được nữa. Khi nghe tiếng Đức Phật (Buddho) lần thứ tư, hoàng hậu mới phán hỏi: “Chư khanh, nghe câu nầy hoàng thượng đã ban thưởng bao nhiêu?”

- Tâu hoàng hậu, một trăm ngàn.

- Chư khanh, nghe được tin lành như thế mà hoàng thượng chỉ ban cho chư khanh có một trăm ngàn, như thế thì không xứng đáng. Quả thật, ta sẽ ban tặng cho chư khanh món quà nhỏ mọn của ta là ba trăm ngàn đồng. Chư khanh còn báo tin gì khác cho hoàng thượng biết nữa chăng?

Các thương khách lần lượt tâu cho hoàng hậu biết hai tin lành khác: “Tâu hoàng hậu, Đức Pháp đã giáng thế.”, “Tâu hoàng hậu, Đức Tăng đã giáng thế.”.

Cũng như lần đầu, long thể hoàng hậu biết hai tin lành ấy, cả ba lần đều ngẩn ngơ. Nghe đến lần thứ tư, hoàng hậu tỉnh trí, khiến ban thưởng cho các thương khách hai lần, mỗi lần ba trăm ngàn đồng vàng nữa. Thế là các nhà đem tin báo tiệp được lãnh tất cả là một triệu hai trăm ngàn đồng vàng.

Sau đó, hoàng hậu phán hỏi các thương khách:

- Nầy chư khanh, hiện giờ hoàng thượng đang ở đâu?

- Tâu hoàng hậu, hoàng thượng có nói: “Trẫm sẽ đến xuất gia nơi Đức Phật.”, và Ngài đã lên đường.

- Thế hoàng thượng có nhắn lời gì cho ta?

- Ngài dặn tâu lại rằng: Tất cả quyền tước của Ngài, Ngài giao phó cho hoàng hậu toàn quyền sử dụng, rằng hoàng hậu hãy thừa hưởng hương vị tùy theo sở thích.

- Nầy chư khanh, còn các quan cận thần đi đâu?

- Tâu hoàng hậu, bá quan cũng có nói: “Chúng tôi sẽ xuất gia theo cùng với đức vua.”, và cũng ra đi cả rồi.

Hoàng hậu cho triệu tập các mệnh phụ phu nhân của ngàn vị đại thần và phán hỏi rằng:

- Chư tỉ muội, chồng của các chị em đã nói: “Chúng ta sẽ đi xuất gia với quốc vương.”, và đã ra đi. Vậy các chị em tính làm sao đây?

- Tâu hoàng hậu, các ông ấy có nhắn lời gì cho chúng tôi chăng?

- Các chị em, hoàng thượng cùng các ông ấy, nghe nói là giao hết sự sản của mình lại cho chị em, bảo chị em cứ tha hồ hưởng thụ đi.

- Tâu hoàng hậu, chẳng hay giờ đây hoàng hậu tính sao?

- Nầy chị em, khi hoàng thượng đang đứng ngoài đường, khi nghe được tin lành nầy, đã xuất ra ba trăm ngàn đồng để cúng dường Tam Bảo, rồi từ bỏ giang san sự nghiệp như thế, như người nhổ bỏ nước bọt. Ngài tuyên bố: Trẫm sẽ đi xuất gia, và đã ra đi. Còn ta, khi nghe tin lành Tam Bảo đã khởi hiện, ta cũng đã cúng dường Tam Bảo chín trăm ngàn đồng. Quốc vương đã từ bỏ vương vị, xả phú cầu bần thì ta cũng nên xả phú cầu bần, chứ ai lại quì gối xuống đất, hả miệng liếm lại nước bọt của quốc vương đã nhổ bỏ hay sao? Ta không cần vương vị làm chi, ta cũng sẽ đi tìm Đức Bổn Sư mà xin xuất gia hành đạo.

- Tâu hoàng hậu, chị em chúng tôi cũng sẽ đi xuất gia một lượt với hoàng hậu.

- Nếu được vậy thì quí lắm chị em ạ.

- Tâu hoàng hậu, được lắm.

Sau khi cho thắng ngàn chiếc xe, hoàng hậu đích thân ngự lên một chiếc, cùng với các mệnh phụ phu nhân khởi hành, rời bỏ kinh đô.

Dọc đường, hoàng hậu thấy con sông thứ nhứt, cũng đã phán hỏi như quốc vương lúc trước. Khi đã nghe rõ tự sự, hoàng hậu khiến các phu nhân tìm xem quốc vương đã đi về ngã nào.

- Tâu hoàng hậu, chúng tôi không thấy dấu chân của những tuấn mã đâu cả.

Nghe vậy, hoàng hậu đoán rằng: “Có lẽ hoàng thượng đã phát nguyện, đem cả tâm chân thành ra đi tầm cầu Tam Bảo, cho nên đã đi trót lọt.”. Nay ta cũng ra đi tầm cầu Tam Bảo. Xin nhờ oai lực Tam Bảo mà nước sông nầy không giống như nước thường.

Chú tâm niệm ân đức Tam Bảo, hoàng hậu ra lịnh cho một ngàn chiếc xe vượt qua sông. Mặt nước khi ấy đặc cứng như mặt đá bằng, các vành bánh xe lăn qua không dính chút nước nào cả.

Cũng bằng cách ấy, mà đoàn xe lữ hành vượt qua hai con sông kia. Đức Bổn Sư biết rằng hoàng hậu và các phu nhân sắp đến, bèn khiến cho những Tỳ khưu đang ngồi gần bên Ngài biến mất hình dạng.

Đoàn phụ nữ quí tộc đang đi, bỗng thấy những tia ánh sáng từ kim thân Đức Phật phóng ra, cũng có ý nghĩ như quốc vương lúc trước, bèn đến đảnh lễ Ngài rồi đứng nép qua một bên.

- Bạch Ngài, đức vua Mahākappina đã ra đi để tìm Ngài. Theo chúng con tưởng, chắc có lẽ đức vua đã đến đây rồi. Vậy nhờ Ngài từ bi chỉ giùm chúng con biết, hiện giờ đức vua ở đâu?

- Các bà hãy ngồi xuống đây đi, rồi ta sẽ chỉ cho thấy đức vua.

Tất cả phụ nữ quí tộc đều hài lòng, ngồi xuống vừa thầm nghĩ: “Theo lời Ngài nói, chúng tôi ngồi nơi đây, rồi thì sẽ được gặp mặt các đấng lang quân.”.

Đức Bổn Sư bắt đầu thuyết tuần tự pháp, nghe dứt thời pháp, hoàng hậu Anoja cùng đoàn mệnh phụ thảy đều chứng đắc Tu Đà Hườn quả.

Đại đức Mahākappina ngồi nghe thời pháp của Đức Bổn Sư thuyết để tiếp độ các nữ nhân ấy thì lại chứng đắc A La Hán quả cùng với Tuệ phân tích, cùng với ngàn vị Tỳ khưu tùy tùng chứng đạt như thế.

Ngay sát na ấy, Đức Bổn Sư khiến cho các nữ nhân được thấy chư Tỳ khưu đã đắc A La Hán quả (Người ta cho rằng: Lúc các mệnh phụ vừa đến mà gặp mặt ngay chồng mình cạo tóc, đắp y thì không thể giữ được tâm định tĩnh, do đó sẽ không chứng đắc đạo quả chi hết. Bởi thế cho nên, Đức Thế Tôn mới chờ khi họ đã có tín tâm kiên cố rồi mới khiến cho họ nhìn thấy chư Tăng A La Hán.).

Khi nhìn thấy chư Thánh Tăng nầy, quí bà liền gieo năm vóc xuống đảnh lễ và bạch rằng: “Bạch chư Đại đức, lúc nầy chư Đại đức đã đạt đến mục đích tối cao của người xuất gia rồi chắc?”.

Kế đó, quí bà đảnh lễ Đức Bổn Sư, rồi đứng nép qua một bên ngỏ lời xin xuất gia (có một số người nói rằng: “Nghe vậy, Đức Bổn Sư nghĩ đến nàng Uppalavaṇṇā, nàng biết được tư tưởng của Đức Thế Tôn, nên hiện đến nơi ấy, Đức Thế Tôn phán bảo Uppalavaṇṇā cho ngàn nữ nhân xuất gia, rồi đưa các Tỳ khưu Ni ấy trở về Jetavana Ni viện bằng thần thông lực.).

Đức Bổn Sư bèn bảo các tín nữ ấy rằng: “Các con hãy đến thành Sāvatthī vào chùa Sư nữ mà xin xuất gia.”.

Các tín nữ vâng lời ra đi, họ trải qua quãng đường xa một trăm hai mươi do tuần, lần hồi mới đến thành Sāvatthī, dọc đường họ được đại chúng đón đường cúng dường lễ vật rất vinh quang.

Sau khi đến Ni viện, được xuất gia Tỳ khưu ni, đoàn phụ nữ ấy về sau chứng đắc A La Hán quả cả thảy.

Đức Bổn Sư cũng dắt ngàn vị Tỳ khưu bay trở về Jetavana.

Tương truyền rằng: Đại đức Mahākappina hằng đi tới lui trong các nơi hàng hiên hoặc nơi nghỉ ngơi… cao hứng thốt lên câu: “Ôi sung sướng thay! Ôi sung sướng thay!”. Chư Tỳ khưu bèn bạch với Đức Thế Tôn:

- Bạch Ngài, Đại đức Mahākappina hằng đi tới lui cao hứng thốt lên câu: “Ôi sung sướng thay! Ôi sung sướng thay!”. Có lẽ Đại đức muốn nhắc lại thời sung sướng vương giả của mình chăng?

Đức Bổn Sư cho gọi Đại đức đến và phán hỏi:
- Nầy Mahākappina, nghe nói rằng ông hồi tưởng

đến thời sung sướng vương giả, toại hưởng ngũ trần, nên thốt lên những lời cao hứng phải chăng?

- Bạch Thế Tôn, Ngài vẫn biết con có hay là không có thốt ra lời cao hứng vì hồi tưởng đến dục lạc ngũ trần rồi.

Đức Bổn Sư xác nhận rằng: “Nầy các Tỳ khưu, con trai Ta không phải vì ngũ trần dục lạc, sự sung sướng vương giả mà thốt lên lời cao hứng đâu. Pháp hỷ đã phát sanh đến con trai Ta, và con trai Ta đã nếm vị của Bất tử Níp Bàn nên mới thốt lên câu cảm hứng khái thế ấy vậy.”.

Nói rồi, Đức Bổn Sư thuyết pháp và kết luận bằng bài kệ:

“Dhammapīti sukhaṃ seti,
Vippasannena cetasā;
Ariyappavedite dhamme,
Sadā ramati paṇḍitoti.”

“Người đắc pháp hỷ thảnh thơi,
Với tâm khiết tịnh, sống đời thanh cao.
Người trí mãi mãi hân hoan,
Lắng nghe Pháp Phật bảo ban giáo truyền.”

CHÚ GIẢI:

Tiếng dhammapīti trên đây nghĩa là người được no vui nhờ pháp, ví như đứa bé được mẹ cho bú sữa là pháp vậy. Gọi là Pháp (dhammo) nầy, không thể uống, húp hay bú như cháo, sữa đựng trong chén, bát… người tu hành nhờ đề mục niệm mà chứng được chín pháp Siêu Thế (Lokuttaranavadhamma), giác ngộ bằng trực giác chân lý Tứ Diệu Đế, nhứt là Khổ Đế. Gọi là người uống được pháp, tức là đắc Pháp hỷ vậy.

Sukhaṃ seti: Sống an vui luôn luôn trong bốn oai nghi, cả trong lúc thức và trong lúc nghỉ.

Vippasannena: Với tâm khiết tịnh không nhiễm ô, không phiền não.

Ariyappavedite: Được các bậc Thánh nhân như Đức Phật… thuyết giảng rành rẽ về các nhân sanh quả Bồ Đề (Bodhipakkhiyadhamma), Tứ niệm xứ…

Sadā ramati: người đắc pháp hỷ như thế, tâm hằng thanh tịnh, thuần khiết. Có đầy đủ trí tuệ sáng suốt thì luôn luôn hoan hỷ thảnh thơi, vui một niềm vui thoát tục.

Thời pháp vừa dứt có nhiều vị chứng đắc Thánh quả, nhứt là Tu Đà Hườn quả.

Ai bằng Đại đức Kiếp Tân Na,
Ngàn dặm xuyên sơn kiếm Phật Đà,
Từ ngôi nguyện sống đời tu sĩ,
Bỏ vợ hầu nương hạnh xuất gia.
Giữa chốn thanh bần vui biết mấy,
Nghe tên Chánh Pháp sướng thay là,
Của tiền danh vọng cần chi nữa,
Một quả vô sanh quá đủ mà.

DỨT TÍCH ĐẠI ĐỨC MAHĀKAPPINA

Mahākappinattheravatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Dhammapīti sukhaṃ setīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto mahākappinattheraṃ ārabbha kathesi.

Tatrāyaṃ anupubbī kathā – atīte kira āyasmā mahākappino padumuttarabuddhassa pādamūle katābhinīhāro saṃsāre saṃsaranto bārāṇasito avidūre ekasmiṃ pesakāragāme jeṭṭhakapesakāro hutvā nibbatti. Tadā sahassamattā paccekabuddhā aṭṭha māse himavante vasitvā vassike cattāro māse janapade vasanti. Te ekavāraṃ bārāṇasiyā avidūre otaritvā “senāsanakaraṇatthāya hatthakammaṃ yācathā”ti rañño santikaṃ aṭṭha paccekabuddhe pahiṇiṃsu. Tadā pana rañño vappamaṅgalakālo hoti. So “paccekabuddhā kira āgatā”ti sutvā tasmiṃ khaṇe nikkhamitvā āgatakāraṇaṃ pucchitvā “ajja, bhante, okāso natthi, sve amhākaṃ vappamaṅgalaṃ, tatiyadivase karissāmī”ti vatvā paccekabuddhe animantetvāva pāvisi. Paccekabuddhā “aññattha gamissāmā”ti pakkamiṃsu. Tasmiṃ khaṇe jeṭṭhapesakārassa bhariyā kenacideva karaṇīyena bārāṇasiṃ gacchantī te paccekabuddhe disvā vanditvā “kiṃ, bhante, avelāya, ayyā, āgatā”ti pucchitvā ādito paṭṭhāya kathesuṃ. Taṃ pavattiṃ sutvā saddhāsampannā ñāṇasampannā itthī “sve, bhante, amhākaṃ bhikkhaṃ gaṇhathā”ti nimantesi. “Bahukā mayaṃ bhaginī”ti. “Kittakā, bhante”ti? “Sahassamattā”ti. “Bhante, imasmiṃ gāme sahassapesakārā vasimha. Ekeko ekekassa bhikkhaṃ dassati, bhikkhaṃ adhivāsetha, ahameva vo vasanaṭṭhānampi kāressāmī”ti āha. Paccekabuddhā adhivāsayiṃsu.

Sā gāmaṃ pavisitvā ugghosesi – “ahaṃ sahassamatte paccekabuddhe disvā nimantayiṃ, ayyānaṃ nisīdanaṭṭhānaṃ saṃvidahatha, yāgubhattādīni sampādethā”ti. Gāmamajjhe maṇḍapaṃ kāretvā āsanāni paññāpetvā punadivase paccekabuddhe nisīdāpetvā paṇītena khādanīyena bhojanīyena parivisitvā bhattakiccāvasāne tasmiṃ gāme sabbā itthiyo ādāya tāhi saddhiṃ paccekabuddhe vanditvā, “bhante, temāsaṃ vasanatthāya paṭiññaṃ dethā”ti tesaṃ paṭiññaṃ gahetvā puna gāme ugghosesi – “ammatātā, ekekakulato ekeko puriso pharasuvāsiādīni gahetvā araññaṃ pavisitvā dabbasambhāre āharitvā ayyānaṃ vasanaṭṭhānaṃ karotū”ti. Gāmavāsino tassāyeva vacanaṃ sutvā ekeko ekekaṃ katvā saddhiṃ rattiṭṭhānadivāṭṭhānehi paṇṇasālasahassaṃ kāretvā attano attano paṇṇasālāyaṃ vassūpagate paccekabuddhe “ahaṃ sakkaccaṃ upaṭṭhahissāmi, ahaṃ sakkaccaṃ upaṭṭhahissāmī”ti upaṭṭhahiṃsu. Vassaṃvuṭṭhakāle “attano attano paṇṇasālāya vassaṃvuṭṭhānaṃ paccekabuddhānaṃ cīvarasāṭake sajjethā”ti samādapetvā ekekassa sahassasahassamūlaṃ cīvaraṃ dāpesi. Paccekabuddhā vuṭṭhavassā anumodanaṃ katvā pakkamiṃsu.

Gāmavāsinopi idaṃ puññakammaṃ katvā ito cutā tāvatiṃsabhavane nibbattitvā gaṇadevaputtā nāma ahesuṃ. Te tattha dibbasampattiṃ anubhavitvā kassapasammāsambuddhakāle bārāṇasiyaṃ kuṭumbikagehesu nibbattiṃsu. Jeṭṭhakapesakāro jeṭṭhakakuṭumbikassa putto ahosi. Bhariyāpissa jeṭṭhakakuṭumbikasseva dhītā ahosi. Tā sabbāpi vayappattā parakulaṃ gacchantiyo tesaṃ tesaṃyeva gehāni agamiṃsu. Athekadivasaṃ vihāre dhammassavanaṃ saṅghuṭṭhaṃ. “Satthā dhammaṃ desessatī”ti sutvā sabbepi te kuṭumbikā “dhammaṃ sossāmā”ti bhariyāhi saddhiṃ vihāraṃ agamiṃsu. Tesaṃ vihāramajjhaṃ paviṭṭhakkhaṇe vassaṃ uṭṭhahi. Yesaṃ kulūpakā vā ñātisāmaṇerādayo vā atthi, te tesaṃ pariveṇāni pavisiṃsu. Te pana tathārūpānaṃ natthitāya katthaci, pavisituṃ avisahantā vihāramajjheyeva aṭṭhaṃsu. Atha ne jeṭṭhakakuṭumbiko āha – “passatha amhākaṃ vippakāraṃ, kulaputtehi nāma ettakena lajjituṃ yutta”nti. “Ayya, kiṃ pana karomā”ti? “Mayaṃ vissāsikaṭṭhānassa abhāvena imaṃ vippakāraṃ pattā, sabbe dhanaṃ saṃharitvā pariveṇaṃ karomā”ti. “Sādhu, ayyā”ti jeṭṭhako sahassaṃ adāsi, sesā pañca pañca satāni. Itthiyo aḍḍhateyyāni aḍḍhateyyāni satāni. Te taṃ dhanaṃ saṃharitvā sahassakūṭāgāraparivāraṃ satthu vasanatthāya mahāpariveṇaṃ nāma ārabhiṃsu. Navakammassa mahantatāya dhane appahonte pubbe dinnadhanato puna upaḍḍhūpaḍḍhaṃ adaṃsu. Niṭṭhite pariveṇe vihāramahaṃ karontā buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa sattāhaṃ mahādānaṃ datvā vīsatiyā bhikkhusahassānaṃ cīvarāni sajjiṃsu.

Jeṭṭhakakuṭumbikassa pana bhariyā sabbehi samānaṃ akatvā attano paññāya ṭhitā “atirekataraṃ katvā satthāraṃ pūjessāmī”ti anojapupphavaṇṇena sahassamūlena sāṭakena saddhiṃ anojapupphacaṅkoṭakaṃ gahetvā anumodanakāle satthāraṃ anojapupphehi pūjetvā taṃ sāṭakaṃ satthu pādamūle ṭhapetvā, “bhante, nibbattanibbattaṭṭhāne anojapupphavaṇṇaṃyeva me sarīraṃ hotu, anojā eva ca me nāmaṃ hotū”ti patthanaṃ paṭṭhapesi. Satthā “evaṃ hotū”ti anumodanaṃ akāsi. Te sabbepi yāvatāyukaṃ ṭhatvā tato cutā devaloke nibbattitvā imasmiṃ buddhuppāde devalokā cavitvā jeṭṭhakakuṭumbiko kukkuṭavatīnagare rājakule nibbattitvā vayappatto mahākappinarājā nāma ahosi, sesā amaccakule nibbattiṃsu. Jeṭṭhakakuṭumbikassa bhariyā maddaraṭṭhe sāgalanagare rājakule nibbatti, anojapupphavaṇṇamevassā sarīraṃ ahosi, anojātvevassā nāmaṃ kariṃsu. Sā vayappattā mahākappinarañño gehaṃ gantvā anojādevī nāma ahosi. Sesitthiyopi amaccakulesu nibbattitvā vayappattā tesaṃyeva amaccaputtānaṃ gehāni agamaṃsu. Te sabbe rañño sampattisadisaṃ sampattiṃ anubhaviṃsu. Yadā rājā sabbālaṅkārapaṭimaṇḍito hatthiṃ abhiruhitvā vicari, tadā tepi tatheva vicaranti. Tasmiṃ assena vā rathena vā vicarante tepi tatheva vicaranti? Evaṃ te ekato hutvā katānaṃ puññānaṃ ānubhāvena ekatova sampattiṃ anubhaviṃsu. Rañño pana balo, balavāhano, puppho, pupphavāhano, supattoti pañca assā honti. Rājā tesu supattaṃ assaṃ sayaṃ ārohati, itare cattāro assārohānaṃ sāsanāharaṇatthāya adāsi. Rājā te pātova bhojetvā “gacchatha dve vā tīṇi vā yojanāni āhiṇḍitvā buddhassa vā dhammassa vā saṅghassa vā uppannabhāvaṃ ñatvā mayhaṃ sukhasāsanaṃ āharathā”ti pesesi. Te catūhi dvārehi nikkhamitvā tīṇi yojanāni āhiṇḍitvā sāsanaṃ alabhitvā paccāgacchanti.

Athekadivasaṃ rājā supattaṃ assaṃ āruyha amaccasahassaparivuto uyyānaṃ gacchanto kilantarūpe pañcasatavāṇijake nagaraṃ pavisante disvā “ime addhānakilantā, addhā imesaṃ santikā ekaṃ bhaddakaṃ sāsanaṃ sossāmī”ti te pakkosāpetvā “kuto āgacchathā”ti pucchi. “Atthi, deva, ito vīsatiyojanasatamatthake sāvatthi nāma nagaraṃ, tato āgacchāmā”ti. “Atthi pana vo padese kiñci sāsanaṃ uppanna”nti. “Deva, aññaṃ kiñci natthi, sammāsambuddho pana uppanno”ti. Rājā tāvadeva pañcavaṇṇāya pītiyā phuṭṭhasarīro kiñci sallakkhetuṃ asakkonto muhuttaṃ vītināmetvā, “tātā, kiṃ vadethā”ti pucchi. “Buddho, deva, uppanno”ti. Rājā dutiyampi tatiyampi tatheva vītināmetvā catutthe vāre “kiṃ vadetha, tātā”ti pucchitvā “buddho, deva, uppanno”ti vutte, “tātā, vo satasahassaṃ dadāmī”ti vatvā “aññampi kiñci sāsanaṃ atthī”ti pucchi. “Atthi, deva, dhammo uppanno”ti. Rājā tampi sutvā purimanayeneva tayo vāre vītināmetvā catutthe vāre “dhammo uppanno”ti vutte “idhāpi vo satasahassaṃ dammī”ti vatvā “aparampi sāsanaṃ atthi, tātā”ti pucchi. “Atthi, deva, saṅgharatanaṃ uppanna”nti. Rājā tampi sutvā tayo vāre vītināmetvā catutthe vāre “saṅgho”ti pade vutte “idhāpi vo satasahassaṃ dammī”ti vatvā amaccasahassaṃ oloketvā, “tātā, kiṃ karissathā”ti pucchi. “Deva, tumhe kiṃ karissathā”ti? “Ahaṃ, tātā, ‘buddho uppanno, dhammo uppanno, saṅgho uppanno’ti sutvā na puna nivattissāmi, satthāraṃ uddissa gantvā tassa santike pabbajissāmī”ti. “Mayampi, deva, tumhehi saddhiṃ pabbajissāmā”ti. Rājā suvaṇṇapaṭṭe akkharāni likhāpetvā vāṇijake āha – “anojā nāma devī tumhākaṃ tīṇi satasahassāni dassati, evañca pana naṃ vadeyyātha ‘rañño kira te issariyaṃ vissaṭṭhaṃ, yathāsukhaṃ sampattiṃ paribhuñjāhī’ti, sace pana vo ‘rājā kaha’nti pucchati, ‘satthāraṃ uddissa pabbajissāmīti vatvā gato’ti āroceyyāthā”ti. Amaccāpi attano attano bhariyānaṃ tatheva sāsanaṃ pahiṇiṃsu. Rājā vāṇijake uyyojetvā assaṃ abhiruyha amaccasahassaparivuto taṃ khaṇaṃyeva nikkhami.

Satthāpi taṃ divasaṃ paccūsakāle lokaṃ volokento mahākappinarājānaṃ saparivāraṃ disvā “ayaṃ mahākappino vāṇijakānaṃ santikā tiṇṇaṃ ratanānaṃ uppannabhāvaṃ sutvā tesaṃ vacanaṃ tīhi satasahassehi pūjetvā rajjaṃ pahāya amaccasahassehi parivuto maṃ uddissa pabbajitukāmo sve nikkhamissati. So saparivāro saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇissati, paccuggamanamassa karissāmī”ti punadivase cakkavattī viya khuddakagāmabhojakaṃ paccuggacchanto sayameva pattacīvaraṃ gahetvā vīsayojanasataṃ maggaṃ paccuggantvā candabhāgāya nadiyā tīre nigrodharukkhamūle chabbaṇṇarasmiyo vissajjento nisīdi. “Rājāpi āgacchanto ekaṃ nadiṃ patvā “kā nāmesā”ti pucchi. “Aparacchā nāma, devā”ti. “Kimassā parimāṇaṃ, tātā”ti? “Gambhīrato gāvutaṃ, puthulato dve gāvutāni, devā”ti. “Atthi panettha nāvā vā uḷumpo vā”ti? “Natthi, devā”ti. “Nāvādīni olokente amhe jāti jaraṃ upaneti, jarā maraṇaṃ. Ahaṃ nibbematiko hutvā tīṇi ratanāni uddissa nikkhanto, tesaṃ me ānubhāvena imaṃ udakaṃ udakaṃ viya mā ahosī”ti tiṇṇaṃ ratanānaṃ guṇaṃ āvajjetvā “itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho”ti buddhānussatiṃ anussaranto saparivāro assasahassena udakapiṭṭhiṃ pakkhandi. Sindhavā piṭṭhipāsāṇe viya pakkhandiṃsu. Khurānaṃ aggā neva temiṃsu.

So taṃ uttaritvā purato gacchanto aparampi nadiṃ disvā “ayaṃ kā nāmā”ti pucchi. “Nīlavāhinī nāma, devā”ti. “Kimassā parimāṇa”nti? “Gambhīratopi puthulatopi aḍḍhayojanaṃ, devā”ti. Sesaṃ purimasadisameva. Taṃ pana nadiṃ disvā “svākkhāto bhagavatā dhammo”ti dhammānussatiṃ anussaranto pakkhandi. Tampi atikkamitvā gacchanto aparampi nadiṃ disvā “ayaṃ kā nāmā”ti pucchi. “Candabhāgā nāma, devā”ti. “Kimassā parimāṇa”nti? “Gambhīratopi puthulatopi yojanaṃ, devā”ti. Sesaṃ purimasadisameva. Imaṃ pana nadiṃ disvā “suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho”ti saṅghānussatiṃ anussaranto pakkhandi. Taṃ pana nadiṃ atikkamitvā gacchanto satthu sarīrato nikkhantā chabbaṇṇarasmiyo addasa. Nigrodharukkhassa sākhāviṭapapalāsāni sovaṇṇamayāni viya ahesuṃ. Rājā cintesi – “ayaṃ pana obhāso neva candassa, na sūriyassa, na devamārabrahmanāgasupaṇṇādīnaṃ aññatarassa, addhā ahaṃ satthāraṃ uddissa āgacchanto mahāgotamabuddhena diṭṭho bhavissāmī”ti. So tāvadeva assapiṭṭhito otaritvā onatasarīro rasmianusārena satthāraṃ upasaṅkamitvā manosilārase nimujjanto viya buddharasmīnaṃ anto pavisitvā satthāraṃ vanditvā ekamantaṃ nisīdi saddhiṃ amaccasahassena, satthā tassa anupubbiṃ kathaṃ kathesi. Desanāvasāne rājā saparivāro sotāpattiphale patiṭṭhahi. Atha sabbeva uṭṭhahitvā pabbajjaṃ yāciṃsu. Satthā “āgamissati nu kho imesaṃ kulaputtānaṃ iddhimayapattacīvara”nti upadhārento “ime kulaputtā paccekabuddhasahassassa cīvarasahassaṃ adaṃsu, kassapasammāsambuddhakāle vīsatiyā bhikkhusahassānampi vīsaticīvarasahassānipi adaṃsu. Anacchariyaṃ imesaṃ iddhimayapattacīvarāgamana”nti ñatvā dakkhiṇahatthaṃ pasāretvā “etha, bhikkhavo, caratha brahmacariyaṃ sammā dukkhassa antakiriyāyā”ti āha. Te tāvadeva aṭṭhaparikkhāradharā vassasaṭṭhikattherā viya hutvā vehāsaṃ abbhuggantvā paccorohitvā satthāraṃ vanditvā nisīdiṃsu.

Tepi vāṇijakā rājakulaṃ gantvā raññā pahitabhāvaṃ ārocāpetvā deviyā “āgacchantū”ti vutte pavisitvā vanditvā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu. Atha ne devī pucchi – “tātā, kiṃ kāraṇā āgatātthā”ti? “Mayaṃ raññā tumhākaṃ santikaṃ pahitā, tīṇi kira no satasahassāni dethā”ti. “Tātā, atibahuṃ bhaṇatha, kiṃ tumhehi rañño kataṃ, kismiṃ vo rājā pasanno ettakaṃ dhanaṃ dāpesī”ti? “Devi, na aññaṃ kiñci kataṃ, rañño pana ekaṃ sāsanaṃ ārocayimhā”ti? “Sakkā pana, tātā, mayhaṃ ārocetu”nti. “Sakkā, devī”ti. “Tena hi, tātā, vadethā”ti. “Devi buddho loke uppanno”ti. Sāpi “taṃ sutvā purimanayeneva pītiyā phuṭṭhasarīrā tikkhattuṃ kiñci asallakkhetvā catutthe vāre ‘buddho’ti padaṃ sutvā, tātā, imasmiṃ pade raññā kiṃ dinna”nti? “Satasahassaṃ, devī”ti. “Tātā, ananucchavikaṃ raññā kataṃ evarūpaṃ sāsanaṃ sutvā tumhākaṃ satasahassaṃ dadamānena. Ahañhi vo mama duggatapaṇṇākāre tīṇi satasahassāni dammi, aparampi tumhehi rañño kiṃ ārocita”nti? Te idañcidañcāti itarānipi dve sāsanāni ārocayiṃsu. Devī purimanayeneva pītiyā phuṭṭhasarīrā tikkhattuṃ kiñci asallakkhetvā catutthe vāre tatheva sutvā tīṇi tīṇi satasahassāni dāpesi, evaṃ te sabbānipi dvādasa satasahassāni labhiṃsu.

Atha ne devī pucchi – “rājā kahaṃ, tātā”ti? Devi, “satthāraṃ uddissa ‘pabbajissāmī’ti gato”ti. “Mayhaṃ tena kiṃ sāsanaṃ dinna”nti? “Sabbaṃ kira tena tumhākaṃ issariyaṃ vissaṭṭhaṃ, tumhe kira yathāruciyā sampattiṃ anubhavathā”ti. “Amaccā pana kahaṃ, tātā”ti? Tepi “‘raññā saddhiṃyeva pabbajissāmā’ti gatā, devī”ti. Sā tesaṃ bhariyāyo pakkosāpetvā, ammā, tumhākaṃ sāmikā “raññā saddhiṃ pabbajissāmā”ti gatā, “tumhe kiṃ karissathā”ti? “Kiṃ pana tehi amhākaṃ sāsanaṃ pahitaṃ, devī”ti? “Tehi kira attano sampatti tumhākaṃ vissaṭṭhā, tumhe kira taṃ sampattiṃ yathāruci paribhuñjathā”ti. “Tumhe pana, devi, kiṃ karissathā”ti? “Ammā, so tāva rājā sāsanaṃ sutvā magge ṭhitakova tīhi satasahassehi tīṇi ratanāni pūjetvā kheḷapiṇḍaṃ viya sampattiṃ pahāya ‘pabbajissāmī’ti nikkhanto, mayā pana tiṇṇaṃ ratanānaṃ sāsanaṃ sutvā tīṇi ratanāni navahi satasahassehi pūjitāni, na kho panesā sampatti nāma raññoyeva dukkhā, mayhampi dukkhāyeva. Ko raññā chaḍḍitakheḷapiṇḍaṃ jāṇukehi patiṭṭhahitvā mukhena gaṇhissati, na mayhaṃ sampattiyā attho, ahampi satthāraṃ uddissa gantvā pabbajissāmī”ti. “Devi, mayampi tumheheva saddhiṃ pabbajissāmā”ti. “Sace sakkotha, sādhu, ammā”ti? “Sakkoma, devī”ti. “Sādhu, ammā, tena hi ethā”ti rathasahassaṃ yojāpetvā rathaṃ āruyha tāhi saddhiṃ nikkhamitvā antarāmagge paṭhamaṃ nadiṃ disvā yathā raññā puṭṭhaṃ, tatheva pucchitvā sabbapavattiṃ sutvā “rañño gatamaggaṃ olokethā”ti vatvā “sindhavānaṃ padavalañjaṃ na passāma, devī”ti vutte “rājā tīṇi ratanāni uddissa nikkhanto saccakiriyaṃ katvā gato bhavissati. Ahampi tīṇi ratanāni uddissa nikkhantā, tesameva anubhāvena idaṃ udakaṃ viya mā ahosī”ti tiṇṇaṃ ratanānaṃ guṇaṃ anussaritvā rathasahassaṃ pesesi. Udakaṃ piṭṭhipāsāṇasadisaṃ ahosi. Cakkānaṃ aggagganemivaṭṭiyo neva temiṃsu. Eteneva upāyena itarā dve nadiyo uttari.

Atha satthā tassāgamanabhāvaṃ ñatvā yathā attano santike nisinnā bhikkhū na paññāyanti, evamakāsi. Sāpi gacchantī gacchantī satthu sarīrato nikkhantā chabbaṇṇarasmiyo disvā tatheva cintetvā satthāraṃ upasaṅkamitvā vanditvā ekamantaṃ ṭhitā pucchi – “bhante, mahākappino tumhākaṃ uddissa nikkhanto āgatettha maññe, kahaṃ so, amhākampi naṃ dassethā”ti? “Nisīdatha tāva, idheva naṃ passissathā”ti. Tā sabbāpi tuṭṭhacittā “idheva kira nisinnā sāmike passissāmā”ti nisīdiṃsu. Satthā tāsaṃ anupubbiṃ kathaṃ kathesi, anojādevī desanāvasāne saparivārā sotāpattiphalaṃ pāpuṇi. Mahākappinatthero tāsaṃ vaḍḍhitadhammadesanaṃ suṇanto saparivāro saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇi. Tasmiṃ khaṇe satthā tāsaṃ te bhikkhū arahattappatte dassesi. Tāsaṃ kira āgatakkhaṇeyeva attano sāmike kāsāvadhare muṇḍakasīse disvā cittaṃ ekaggaṃ na bhaveyya, tena maggaphalāni pattuṃ na sakkuṇeyyuṃ. Tasmā acalasaddhāya patiṭṭhitakāle tāsaṃ te bhikkhū arahattappatteyeva dassesi.

Tāpi te disvā pañcapatiṭṭhitena vanditvā, “bhante, tumhākaṃ tāva pabbajitakiccaṃ matthakaṃ patta”nti vatvā satthāraṃ vanditvā ekamantaṃ ṭhitā pabbajjaṃ yāciṃsu. Evaṃ kira vutte “satthā uppalavaṇṇāya āgamanaṃ cintesī”ti ekacce vadanti. Satthā pana tā upāsikāyo āha – “sāvatthiṃ gantvā bhikkhunīupassaye pabbajethā”ti. Tā anupubbena janapadacārikaṃ caramānā antarāmagge mahājanena abhihaṭasakkārasammānā padasāva vīsayojanasatikaṃ gantvā bhikkhunīupassaye pabbajitvā arahattaṃ pāpuṇiṃsu. Satthāpi bhikkhusahassaṃ ādāya ākāseneva jetavanaṃ agamāsi. Tatra sudaṃ āyasmā mahākappino rattiṭṭhānadivāṭṭhānādīsu “aho sukhaṃ, aho sukha”nti udānaṃ udānento vicarati. Bhikkhū bhagavato ārocesuṃ – “bhante, mahākappino ‘aho sukhaṃ, aho sukha’nti udānaṃ udānento vicarati, attano kāmasukhaṃ rajjasukhaṃ ārabbha kathesi maññe”ti. Satthā taṃ pakkosāpetvā “saccaṃ kira tvaṃ, kappina, kāmasukhaṃ rajjasukhaṃ ārabbha udānaṃ udānesī”ti. “Bhagavā me, bhante, taṃ ārabbha udānabhāvaṃ vā anudānabhāvaṃ vā jānātī”ti? Satthā “na, bhikkhave, mama putto kāmasukhaṃ rajjasukhaṃ ārabbha udānaṃ udāneti, puttassa pana me dhammapīti nāma dhammarati nāma uppajjati, so amatamahānibbānaṃ ārabbha eva udānaṃ udānesī”ti anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –

“Dhammapīti sukhaṃ seti, vippasannena cetasā;
Ariyappavedite dhamme, sadā ramati paṇḍito”ti.

Tattha dhammapītīti dhammapāyako, dhammaṃ pivantoti attho. Dhammo ca nāmesa na sakkā bhājanena yāguādīni viya pātuṃ? Navavidhaṃ pana lokuttaradhammaṃ nāmakāyena phusanto ārammaṇato sacchikaronto pariññābhisamayādīhi dukkhādīni ariyasaccāni paṭivijjhanto dhammaṃ pivati nāma. Sukhaṃ setīti desanāmattamevetaṃ, catūhipi iriyāpathehi sukhaṃ viharatīti attho. Vippasannenāti anāvilena nirupakkilesena. Ariyappavediteti buddhādīhi ariyehi pavedite satipaṭṭhānādibhede bodhipakkhiyadhamme. Sadā ramatīti evarūpo dhammapīti vippasannena cetasā viharanto paṇḍiccena samannāgato sadā ramati abhiramatīti.

Desanāvasāne bahū sotāpannādayo ahesunti.

Mahākappinattheravatthu catutthaṃ.

VI. 4. Kappina the Great, Elder

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

79. He that drinks the Law sleeps happily, with mind serene;
The wise man ever delights in the Law as taught by holy men.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the Elder Kappina the Great. The story from beginning to end is as follows:

4 a. Story of the Past: Weavers and householders

In times past, they say, Venerable Kappina the Great made his Earnest Wish at the feet of the Buddha Padumuttara, and after passing through successive births and rebirths was at length reborn as the senior weaver in a certain weavers’ village not far from Benāres. At this time a thousand Private Buddhas, who had resided eight months in the Himālaya, were spending the four months of the rainy season in the country; and on a certain occasion they came down into the vicinity of Benāres and sent eight Private Buddhas to the king, asking to be given work in return for lodging.

Now just at this time the king was occupied with preparations for the plowing festival. When he heard that Private Buddhas had arrived, he came out and inquired their errand. Then he said to them, “Reverend Sirs, I have no time to-day to attend to your needs, for on the morrow we are to celebrate the plowing festival. But if you will come back again on the third day, I will do as you ask.” And without so much as inviting them to a meal, he turned and reëntered his palace. The Private Buddhas remarked, “We will go to some other village,” and departed.

Just then the wife of the senior weaver, who was on her way to Benāres on some errand or other, saw the Private Buddhas, and saluting them, asked, “Reverend Sirs, how is it that you have come here at such an unsuitable time?” When she had learned all the facts, this woman, richly endowed with faith and intelligence, invited them to a meal, saying, “Reverend Sirs, take your meal with us to-morrow.” “But there are a great many of us, sister.” “How many are there of you, Reverend Sirs?” “A thousand.” “Reverend Sirs, there are just a thousand artisans in this village; each will give food to one guest; pray accept food from us; I will see to it that you are provided with quarters.”

The Private Buddhas accepted the invitation, and the woman entered the village and made proclamation, “I saw a thousand Private Buddhas and invited them to a meal; arrange seats for these noble persons and likewise prepare broth, rice, and so forth.” She then had a pavilion erected in the center of the village, caused seats to be arranged, and on the following day provided the Private Buddhas with seats and served them with choice food. At the end of the meal, accompanied by all the women in that village, she saluted the Private Buddhas and said, “Reverend Sirs, promise us to remain here during these three months.”

Having obtained their promise, she returned to the village and made proclamation once more, “Men and women, let one man from each household among you go to the forest with axes and hatchets, fetch hither building materials, and erect quarters for our honored guests.” The villagers obeyed her injunction and built a thousand huts of leaves and grass with night-quarters and day-quarters, each man building one hut. And when the Private Buddhas entered upon residence in their respective huts, the villagers offered to minister faithfully to their needs, and faithfully did they minister to them. At the conclusion of the rainy season the woman persuaded each villager to prepare a set of robes for the particular Private Buddha who had passed the rainy season in his hut, and saw to it that each of her guests was provided with a set of robes worth a thousand pieces of money. At the conclusion of their residence the Private Buddhas returned thanks and departed.

Having performed this work of merit, the villagers passed from that state of existence and were reborn as a troop of deities in the World of the Thirty-three. After enjoying celestial glory in that state of existence, they were reborn in the dispensation of the Buddha Kassapa as householders of Benāres. The senior weaver was the son of the senior householder, and the wife of the senior weaver was the daughter of the senior householder. All of those women also, on reaching marriageable age, married their former husbands.

Now one day those householders heard the announcement that the Teacher was to preach the Law at the monastery; therefore all of them, accompanied by their wives, went to the monastery to hear the Law. Scarcely had they entered the inclosure of the monastery when it began to rain. Persons who had intimate friends or kinsmen among the novices or monks found shelter in their cells; but the company of householders, having no friends or relatives at the monastery, were unable to gain entrance and were obliged to remain unprotected in the monastery inclosure.

The senior householder said to them, “See what a plight we are in; respectable persons ought to be ashamed to be in such a plight.” “But, sir, what are we to do?” “We have fallen into this plight because we are not on terms of intimacy with the monks; let us contribute money and build a monastery.” “Very well, sir.” The senior householder gave a thousand pieces of money, the other householders five hundred apiece, and each of the women two hundred and fifty. Having collected the money, they began the erection of what is called a Great Monastery, crowned with a thousand pinnacles, to serve as a place of residence for the Teacher; and when, by reason of the great extent of the work they had undertaken, the money proved to be insufficient, each of those who had contributed before gave half as much again. When the monastery was completed, they held a festival in honor of the opening of the monastery and for seven days gave rich gifts to the congregation of monks presided over by the Buddha, presenting each of the twenty thousand monks with a set of robes.

But the wife of the senior householder, although she had already done the same as the rest had done, determined in her wisdom to do yet more. Said she, “I will do honor to the Teacher.” Accordingly she took a garment of the color of anoja flowers, worth a thousand pieces of money, and a casket of anoja flowers, and when it was time for the Teacher to return thanks, she honored him with a present of the anoja flowers; and then casting the garment at his feet, made this Earnest Wish, “Reverend Sir, in my future states of existence may my body be of the hue of the anoja flower and may my name be ‘Anojā.’ ” “So be it,” replied the Teacher, returning thanks. Having lived out their allotted term of life, all of them passed from that state of existence and were reborn in the World of the Gods.

4 b. Story of the Present: King Kappina and Queen Anojā

Passing from the World of the Gods, the senior householder was reborn in the royal household of the city Kukkuṭavatī. King Kappina the Great was his name. The rest of the company were reborn in the households of courtiers. The wife of the senior householder was reborn in the royal household of the kingdom of Maddā in the city of Sāgala. Her body was of the hue of the anoja flower, and “Anojā” was the name they gave her. When she reached marriageable age she was married to King Kappina and became known as Queen Anojā. The rest of the women were reborn in the households of courtiers, and when they reached marriageable age were married to the sons of those same courtiers.

All of them enjoyed glory like the glory of the king. Whenever the king rode in procession, mounted on his elephant and adorned with all his adornments, they also rode in procession in like state; whenever the king went about on his horse or in his chariot, they also went about in like manner. Thus it was that since as one company they had performed works of merit, as one company also they enjoyed equal glory.

Now the king had five horses, Vāla, Puppha, Vāḷavāhana, Pupphavāhana, and Supatta. One of these horses, Supatta, he alone rode; the other four he allowed riders to use for carrying messages. Early one morning after breakfast he sent out the four riders with this command, “Ride forth and scour the country for two or three leagues about and if you learn of the appearance of the Buddha or the Law or the Order, come back and bring me the good news.” The riders rode forth from the four gates and scoured the country for two or three leagues about, but returned with no news.

One day the king mounted his horse and accompanied by a retinue of courtiers, proceeded to his pleasure-garden. Seeing five hundred weary-looking traders entering the city, he said, “These men are weary from a journey; perhaps we shall hear some good news from them.” So he summoned them and asked them, “Whence do you come?” “Your majesty, there is a city called Sāvatthi a hundred and twenty leagues from here; thence do we come.” “Is there any news from your country?” “None other than this, your majesty, that the Supremely Enlightened One, the Buddha, has appeared.”

Straightway the king’s whole body was thrilled with the five sorts of joy; for a moment he hesitated, for he was unable to collect his thoughts; then he said, “Friends, what is it that you say?” “The Buddha has appeared, your majesty.” Twice and thrice did the king hesitate and speak as before. And again a fourth time he said, “Friends, what is it that you say?” “The Buddha has appeared, your majesty.” “Friends, I give you a hundred thousand pieces of money; is there any other news besides?” “Yes, your majesty, there is; the Law has appeared.”

When he heard this also, the king hesitated and spoke three times as before, and when for the fourth time he heard the word “Law,” he said, “Here, I give you a hundred thousand pieces of money.” Then he asked them, “Friends, is there any other news besides?” “Yes, your majesty, there is; the Order has appeared.” When the king heard this also, he hesitated and spoke three times as before, and when for the fourth time he heard the word “Order,” he said, “Here, once more do I give you a hundred thousand pieces of money.”

Having so done, he surveyed his thousand courtiers and asked them, “Friends, what is your pleasure?” “Your majesty, what is your pleasure?” “Friends, I have heard the good news, ‘The Buddha has appeared, the Law has appeared, the Order has appeared;’ therefore I shall not return to my palace again, but for the sake of the Teacher I shall go and become a monk under him.” “Your majesty, we too will become monks with you.”

The king caused a message to be written on a plate of gold and said to the merchants, “Queen Anojā will give you three hundred thousand pieces of money so soon as you give her this message, ‘The King’s dominion is given into your hands; enjoy the glory thereof at your good pleasure.’ ” And he added, “Should she ask you, however, where the King is, tell her that for the sake of the Teacher he has departed to become a monk under him.” The king’s courtiers also sent similar messages to their wives. And as soon as the king had dismissed the traders, he departed with his retinue of a thousand courtiers.

Early in the morning of that day the Teacher surveyed the world, and seeing King Kappina the Great with his retinue, became aware of the following, “Yonder Kappina the Great has heard from the traders of the appearance of the Three Jewels, has rewarded them with three hundred thousand pieces of money for bringing him word, has renounced his kingdom, and purposes on the morrow, accompanied by his retinue of a thousand courtiers, to retire from the world for my sake and become a monk; he and his retinue will attain Arahatship together with the Supernatural Faculties; it behooves me to go to meet him.” Accordingly on the following day, like a Universal Monarch going forth to meet the headman of a little village, he took bowl and robe and went forth, and having traveled two hundred leagues he sat down on the bank of the river Candabhāgā under a banyan-tree, and there he remained, diffusing rays of six colors.

As the king proceeded on his way he came to a certain river. “What river is this?” he asked. “The river Aravacchā, your majesty.” “How deep is it and how wide is it, friends?” “It is one league deep and two leagues wide, your majesty.” “Is there a boat here, or a raft?” “There is not, your majesty.” “While we are looking for boats and rafts, birth is bringing us to old age and old age is bringing us to death. Free from doubt, I have renounced the world for the sake of the Three Jewels; by their supernatural power may this water be to me unlike water.” Having thus considered the virtues of the Three Jewels, the king meditated upon the Buddha, saying, “He is the Exalted One, the Holy One, the Supremely Enlightened, Endowed with Knowledge and Righteousness.” While thus engaged in meditation the king and his retinue dashed over the surface of the river on their thousand horses, the Sindh horses springing upon the surface of the river as on a flat rock, without so much as wetting the tips of their hoofs.

Having crossed the river Aravacchā, the king proceeded until he came to yet another river. “What is the name of this river?” he asked. “The river Nīlavāhanā, your majesty.” “How deep is it and how wide is it?” “Half a league deep and half a league wide, your majesty.” The rest exactly as before, except that when the king saw this river he said, “Well has the Law been preached by the Exalted One,” and crossed by meditating on the Law. Having crossed the river Nīlavāhanā, the king proceeded until he came to yet a third river. “What is the name of this river?” he asked. “The river Candabhāgā, your majesty.” “How deep is it and how wide is it?” “A league deep and a league wide, your majesty.” The rest exactly as before, except that when the king saw this river he said, “Devoted to righteousness is the Order of Disciples of the Exalted One,” and crossed by meditating on the Order.

After crossing the third river as the king continued his journey, he saw the rays of light of six colors which issued from the body of the Teacher; the branches and forks and leaves of the banyan-tree appeared as though made of pure gold. The king thought to himself, “This radiance is not that of the moon or sun, nor yet that of any mighty Nāga or Garuḍa; it must be that, setting out as I have for the sake of the Teacher, I have been seen by the great Gotama Buddha.” Accordingly he dismounted at once from his horse and inclining his body to the direction of the rays, approached the Teacher; and penetrating the circle of the Buddha’s rays as one might plunge into a sea of vermilion, he paid obeisance to the Teacher and with his retinue of a thousand courtiers seated himself respectfully on one side.

The Teacher preached the Law in orderly sequence, and at the conclusion of his discourse the king and his company of courtiers were established in the Fruit of Conversion, whereupon all of them arose with one accord and requested to be admitted to the Order. The Teacher considered within himself, “Will these noblemen receive bowls and robes created by magic?” and became aware of the following, “These noblemen gave a thousand robes to a thousand Private Buddhas, and in the dispensation of the Buddha Kassapa also gave twenty thousand robes to twenty thousand monks; it is not wonderful that they should receive bowls and robes created by magic.” Therefore he extended his right hand and said, “Come, monks, take up the religious life, that you may utterly extinguish suffering.” Straightway they were provided with the eight monastic requisites, becoming as it were Elders a century old, and first soaring into the air, they returned to earth, paid obeisance to the Teacher, and sat down.

The traders went to the royal palace, announced that they had been sent by the king, and upon being invited to enter by the queen, entered, made obeisance, and stood respectfully on one side. The queen asked them, “Sirs, on what errand have you come?” “Your majesty, we were sent to you by the king, who gave us three hundred thousand pieces of money.” “Sirs, it is a large sum of money you mention; what did you do for the king that pleased him so greatly that he gave you that amount of money?” “Nothing much, your majesty; all we did was to bring the king a certain piece of news.” “Are you permitted to tell me also what it was?” “Yes, your majesty.” “Well then, sirs, tell me.” “Your majesty, ‘The Buddha has appeared in the world.’ ”

When the queen heard this, she was affected precisely as the king had been; her body was suffused with joy, and three times she failed to grasp the meaning of what she heard. When she heard the word “Buddha” the fourth time, she inquired, “What did the king give you when he heard this word?” “A hundred thousand pieces of money, your majesty.” “Sirs, the king did not reward you suitably when he gave you only a hundred thousand pieces of money for bringing him such a message; it is a poor present I give you in presenting you with three hundred thousand pieces of money. Did you bring the king any other message?” “Such and such,” said they, repeating the two other messages. As before, the queen’s body was suffused with joy at each of the messages she heard; three times she failed to grasp the meaning of what she heard, but the fourth time she heard each message she presented them with three hundred thousand pieces of money. Thus in all they received twelve hundred thousand pieces of money.

Then the queen asked them, “Sirs, where is the king?” “Your majesty, he has departed, saying, ‘For the sake of the Teacher I will become a monk.’ ” “Did he send me any message?” “All his kingly power is given into your hands; enjoy the glory thereof at your own good pleasure.” “And where are his courtiers, sirs?” “Your majesty, they also went away, saying, ‘We will become monks with the king.’ ” Thereupon the queen summoned the wives of the courtiers and said to them, “Friends, your husbands have departed, saying, ‘We will become monks with the king;’ what will you do?” “But what message did they send to us, your majesty?” “They have given the glory they possess into your hands to enjoy according to your own good pleasure.” “But, your majesty, what do you intend to do?”

“Friends, he who but now was king made ready for the journey, and having honored the Three Jewels with three hundred thousand pieces of money and having cast off his glory as he would eject a mass of saliva, departed to become a monk. I also have learned of the appearance of the Three Jewels and have honored the Three Jewels with hundreds of thousands more. The glory which spells suffering to the king spells suffering to me also. Who would get down on his knees and take into his mouth a mass of saliva ejected by the king? I have no need of real glory; I also will go forth for the sake of the Teacher and become a nun.” “Your majesty, then we also will become nuns with you.” “Well and good, friends, if you are able.” “We are able, your majesty.”

“Well then, come,” said the queen. So she caused a thousand chariots to be harnessed, mounted her chariot and departed, accompanied by her retinue. Coming to the first river on the journey, she asked the same questions the king had asked and received the same answers, whereupon she said to her companions, “Look for the way taken by the king.” They replied, “Your majesty, we see no footprints of Sindh horses.” Said the queen, “The king must have pronounced an Act of Truth, saying, ‘For the sake of the Three Jewels I have renounced the world and so crossed. I also have renounced the world for the sake of the Three Jewels; by their supernatural power may this water be to me unlike water.” And meditating thus on the power of the Three Jewels, she ordered her thousand chariots to go forward. The water was like a flat rock, insomuch that not even the outer rims of the wheels were wetted. In like manner also she crossed the remaining two rivers.

When the Teacher became aware of her approach, he rendered the monks invisible that they might not be seen sitting with him. As she drew nearer and nearer and saw the rays of light issuing from the body of the Teacher, the same thought came to her as had previously come to the king. Having approached the Teacher, she paid obeisance to him, stood respectfully on one side, and asked him, “Reverend Sir, methinks Kappina the Great has come to you and told you that he has renounced the world for your sake. Where is he? Show him to us.” “Just sit down; you will presently see him even here.” The hearts of all those women were filled with joy at the thought that while seated even there they should see their husbands. So they sat down.

The Teacher preached the Law in orderly sequence. At the conclusion of his discourse the queen and her retinue were established in the Fruit of Conversion. The Elder Kappina the Great and his retinue, who heard the Teacher preach the Law to the women, attained Arahatship together with the Supernatural Faculties. At that moment the Teacher showed the monks to the women. We are told that the reason why the Teacher did not show the monks to the women at the very moment when they arrived, was for fear that should they see their husbands with yellow robes and shaven heads, their minds would be disturbed and they would therefore be unable to attain the Path and the Fruits. Hence it was that he waited until the women were firmly grounded in faith to show them the monks in their state as Arahats.

When the women saw the monks, they paid obeisance to them with the Five Rests, and said, “Reverend Sirs, now have you reached the goal of your religious life.” Having so said, they paid obeisance to the Teacher, stood respectfully on one side, and requested to be admitted to the Order. We are told that when they made this request, some of the monks said, “The Teacher thought of the coming of Uppalavaṇṇā.” But the Teacher said to those female lay disciples, “Go to Sāvatthi and enter the religious life in the Convent of Nuns.” So those female lay disciples started out on foot and journeyed from place to place, the populace everywhere offering them hospitality and bestowing honor upon them, and after a journey of a hundred and twenty leagues they reached the Convent of Nuns, were admitted to the Order, and attained Arahatship. The Teacher taking the thousand monks with him, flew through the air to Jetavana.

At Jetavana Venerable Kappina the Great went about the night-quarters and the day-quarters breathing forth the solemn utterance, “Oh happiness! oh happiness!” The monks reported the matter to the Exalted One, saying, “Reverend Sir, Venerable Kappina the Great is going about saying, ‘Oh happiness! oh happiness!’ Presumably he is talking about the happiness of his own rule as king.” The Teacher sent for him and said to him, “Kappina, is it true, as they say, that you are breathing forth utterances regarding the happiness of love and the happiness of rule?” “Reverend Sir, the Exalted One himself knows whether or not I am breathing forth utterances regarding happiness of that kind.”

The Teacher said to the monks, “Monks, it is not with reference to the happiness of ruling that my son is breathing forth solemn utterances. He that drinks the Law delights in the Law. It is with reference to Nibbāna the Deathless that he is breathing forth these solemn utterances of joy.” And having so spoken, the Teacher joined the connection and instructed them in the Law by pronouncing the following Stanza,

79. He that drinks the Law sleeps happily, with mind serene;
The wise man ever delights in the Law as taught by holy men.

  1. Parallels: Thera-Gāthā Commentary, ccxxxv; Aṅguttara Commentary on Etadagga Vagga, Story of Mahā Kappina; Rogers, Buddhaghosa’s Parables, viii, pp. 78-86. Text: N ii. 112-127.
  2. For a discussion of this charm, see my paper, The Act of Truth (Saccakiriyā); a Hindu Spell and its Employment as a Psychic Motif in Hindu Fiction, JRAS., July, 1917. For other occurrences of the charm, see stories i. 3 a, xiii. 6 and xvii. 3 b.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.