Chú giải Pháp Cú · Kệ 78 · Dhp 78

Tích Đại Đức Sa Nặc

Channattheravatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 78 Kinh Pháp Cú, phẩm Hiền Trí, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

Kệ ngôn: (Pháp Cú số 78)

“Na bhaje pāpake mitte,
Na bhaje purisādhame;
Bhajetha mitte kalyāṇe,
Bhajetha purisuttameti.”

“Đừng thân cận bạn ác,
Đừng thân kẻ tiểu nhân,
Tìm bạn lành, hiệp tác,
Gặp quân tử cầu thân.”

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài an ngự tại Jetavana, đề cập đến Đại đức Channa (Sa Nặc).

Tương truyền rằng: Đại đức có lần thốt ra lời mai mỉa hai vị Thượng Thinh Văn như sau: “Trong khi Thái tử, con đại vương ta phát nguyện xuất gia tu hành khổ hạnh, thì Ngài ra đi chỉ có một mình, ta chẳng thấy có mặt nào khác. Thế mà, bây giờ có người đi đâu cũng tự xưng tên: Ta là Sārīputta, ta là Moggallāna. Chúng ta là Thượng Thủ Thinh Văn…”.

Đức Bổn Sư được chư Tỳ khưu bạch lại việc nầy, bèn cho gọi Đại đức đến khuyên răn, dạy. Đại đức nín nhịn được ba lần như vậy, nhưng sau đó lại vẫn mỉa mai hai vị Thượng Thủ Thinh Văn như trước.

Trong khi đang mỉa mai như thế, lần thứ ba Đại đức bị Đức Bổn Sư đòi đến và phán dạy rằng:

- Nầy Channa, hai Tỳ khưu ấy là Thượng Thinh Văn, chính là bậc đại trượng phu quân tử, là những bạn lành của ông. Ông nên thân cận giao kết với những bạn lành như thế.

Nói rồi, Đức Bổn Sư nhân đó thuyết một thời pháp, Ngài kết luận bằng bài kệ nầy:

“Na bhaje pāpake mitte,
Na bhaje purisādhame;
Bhajetha mitte kalyāṇe,
Bhajetha purisuttameti.”
“Đừng thân cận bạn ác, ngu,
Đừng gần gũi kẻ thất phu tục tằn.
Chỉ nên kết nghĩa kim bằng,
Với bậc hiền đức, trí năng hơn đời.”

CHÚ GIẢI:

Bài kệ trên đây có ý khuyên các Tỳ khưu không nên giao thiệp với hai hạng bạn ác: Một là bọn người truy hoan trong các bất thiện pháp, nhất là thân tà hạnh (kāyaduccaritā) như hành động trộm cướp chẳng hạn. Và hai là hạng đê tiện thấp hèn trong số hai mươi mốt hạng người không nên thân cận. Trái lại, những người lành, thuộc hạng trượng phu quân tử thì nên tìm đến mà cầu thân giao kết.

Sau thời pháp, có nhiều Tỳ khưu chứng đắc Thánh quả, nhứt là Tu Đà Hườn quả.

Đại đức Channa mặc dù nghe được huấn từ, sau đó cũng vẫn còn tiếp tục mỉa mai, nhiếc móc các Tỳ khưu. Chư Tăng lại bạch lên Đức Thế Tôn việc làm khiếm nhã nầy. Đức Thầy phán rằng: “Nầy các Tỳ khưu, trong lúc Như Lai còn tại thế, các ông không thể nào bắt buộc Channa vâng giữ điều học được. Rán chờ khi Như Lai Níp Bàn rồi, các ông sẽ dạy dỗ ông ta.”.

Và khi Ngài sắp Níp Bàn, nghe Đại đức Ānanda bạch hỏi:

- Bạch Ngài, chúng con phải dùng pháp nào để cảm hóa Đại đức Channa?

Ngài dạy rằng:
- Nầy Ānanda, hãy dùng hình phạt Phạm Đàn

(Brahmmadaṇḍa) một cách phạm tội là tuyệt giao, không tiếp xúc chuyện trò chi với vị Sư phạm tội cả, mà phạt Tỳ khưu Channa.

Trong lúc Đức Bổn Sư Níp Bàn, vừa nghe tiếng Đại đức Ānanda đã tuyên bố phạt Phạm Đàn mình, Đại đức Channa đang buồn khổ phải ngất xỉu đến ba lần, tỉnh lại thì kêu than:

- Bạch các Ngài, xin đừng hủy diệt.

Sau khi hối ngộ không bao lâu, Đại đức thực hành tròn đủ Phạm hạnh nên đắc quả A La Hán với Tuệ phân tích.

Thép còn bị lửa đốt mềm thay,
Sa Nặc đành thua một phép nầy,
Phật tại, phạm hình chưa đúng lúc,
Nhân sanh, nghiệp quả phải chờ ngày.
Vố đòn tâm lý, sao mà nặng,
Bài học ưu sầu, nghĩ cũng hay,
Cái bịnh cống cao vừa trị dứt,
Thì ngôi La Hán đã phô bày.

DỨT TÍCH ĐẠI ĐỨC CHANNA

Channattheravatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Na bhaje pāpake mitteti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto channattheraṃ ārabbha kathesi.

So kira āyasmā “ahaṃ amhākaṃ ayyaputtena saddhiṃ mahābhinikkhamanaṃ nikkhanto tadā aññaṃ ekampi na passāmi, idāni pana ‘ahaṃ sāriputto nāma, ahaṃ moggallāno nāma, mayaṃ aggasāvakamhā’ti vatvā ime vicarantī”ti dve aggasāvake akkosati. Satthā bhikkhūnaṃ santikā taṃ pavattiṃ sutvā channattheraṃ pakkosāpetvā ovadati. So taṅkhaṇeyeva tuṇhī hutvā puna gantvā there akkosatiyeva. Evaṃ yāvatatiyaṃ akkosantaṃ pakkosāpetvā satthā ovaditvā “channa, dve aggasāvakā nāma tuyhaṃ kalyāṇamittā uttamapurisā, evarūpe kalyāṇamitte sevassu bhajassū”ti vatvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –

“Na bhaje pāpake mitte, na bhaje purisādhame;
Bhajetha mitte kalyāṇe, bhajetha purisuttame”ti.

Tassattho – kāyaduccaritādiakusalakammābhiratā pāpamittā nāma. Sandhicchedanādike vā ekavīsatianesanādibhede vā aṭṭhāne niyojakā purisādhamā nāma. Ubhopi vā ete pāpamittā ceva purisādhamā ca, te na bhajeyya na payirupāseyya, viparītā pana kalyāṇamittā ceva sappurisā ca, te bhajetha payirupāsethāti.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Channatthero pana taṃ ovādaṃ sutvāpi purimanayeneva bhikkhū akkosati paribhāsati. Punapi satthu ārocesuṃ. Satthā, “bhikkhave, mayi dharante channaṃ sikkhāpetuṃ na sakkhissatha, mayi pana parinibbute sakkhissathā”ti vatvā parinibbānakāle āyasmatā ānandena, “bhante, kathaṃ channatthere amhehi paṭipajjitabba”nti vutte, “ānanda, channassa bhikkhuno brahmadaṇḍo dātabbo”ti āṇāpesi. So satthari parinibbute ānandattherena ārocitaṃ brahmadaṇḍaṃ sutvā dukkhī dummano tikkhattuṃ mucchito patitvā “mā maṃ, bhante, nāsayitthā”ti yācitvā sammā vattaṃ pūrento na cirasseva saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇīti.

Channattheravatthu tatiyaṃ.

VI. 3. Channa, Elder

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

78. One should not cultivate the friendship of evildoers...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the Elder Channa.

The story goes that the Elder Channa once reviled the two Chief Disciples, saying, “Ever since I went forth with our Noble Master and made the Great Renunciation, I have looked at no one else; but now these two Elders go about saying, ‘I am Sāriputta, I am Moggallāna; we are the Chief Disciples.’ ” Learning from the monks what the Elder Channa was doing, the Teacher sent for him and admonished him. For a moment he was silent, but immediately afterwards went out and resumed his abuse of the Elders. The Teacher sent for him and admonished him the second time and again the third time, saying, “Channa, in the two Chief Disciples you have friends who are good men, the best of men; make friends of such good men and follow only such.” So saying, he preached the Law by pronouncing the following Stanza,

78. One should not cultivate the friendship of evildoers; one should not cultivate fellows of the baser sort.
Cultivate the friendship of men that are good, cultivate the best of men.

But the Elder Channa, even after he had heard the Teacher’s admonition, went out and reviled and abused the Elders precisely as before. The monks reported the matter to the Teacher. The Teacher said, “Monks, so long as I remain alive, you will not be able to teach Channa. After my decease, however, you will succeed.” When the Great Decease was at hand, the Venerable Ānanda asked the Teacher, “Reverend Sir, how shall we deal with the Elder Channa?” Then the Teacher directed Ānanda to inflict upon Channa the punishment known as “brahmadaṇḍa.” After the decease of the Teacher Channa was summoned. Ānanda pronounced sentence. Hearing the sentence, Channa was overwhelmed with sorrow and sadness at the thought of having fallen after being freed three times. He cried out, “Do not ruin me, Reverend Sir,” and thereafter performed his duties faithfully, in no long time becoming an Arahat endowed with the Supernatural Faculties.

  1. Derived from the Vinaya, Culla Vagga, xi. i. 12-16: ii. 29009-29229. Cf. Dīgha, ii. 15417-22. See also Thera-Gāthā Commentary, lxix. Text: N ii. 110-112.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp cùng chủ đề