Tích Đại Đức Mahākassapa
Mahākassapattheravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 28 Kinh Pháp Cú, phẩm Không Phóng Dật, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN (Pháp Cú số 28)
“Pamādaṃ appamādena,
Yadā nudati paṇḍito;
Paññā pāsādamāruyha,
Asoko sokiniṃ pajaṃ;
Pabbataṭṭho va bhummaṭṭhe,
Dhīro bāle avekkhatīti”
“Trí giả lấy chuyên cần,
Đuổi tống nết phóng dật.
Lầu Bát nhã tiến thân,
Ung dung nhìn xuống đất.
Khác nào bậc siêu nhân,
Đứng trên đỉnh cao nhất,
Nhìn xuống đám ngu dân,
Đang đau khổ chật vật”
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài an ngự tại Jetavana, đề cập đến Đại đức Mahā Kassapa.
Thật vậy, trong thời gian Đại đức an cư tại động Pipphaliguhā (Lạt Tiêu). Một ngày nọ, sau khi ôm bát vào thành Rājagaha khất thực, độ xong bữa trưa rồi trở về, Đại đức ngồi tham thiền, phát huy ánh sáng, định dùng Thiên nhãn để quan sát những loại hữu tình (sattā) ở khắp các nơi như là trên đất, trên núi, dưới nước… thử xem lớp nào tử, lớp nào sinh, lớp nào chuyên cần, lớp nào phóng dật.
Trong khi ấy, Đức Bổn Sư đang ngự tại Jetavana, muốn biết: “Kassapa! Con trai của ta hiện nay đang ở Tịnh xá của ai?”. Ngài phóng tầm Thiên nhãn nhìn ra, thấy Đại đức đang ngồi yên quan sát sự sanh tử của các loài hữu tình. Biết vậy, Đức Bổn Sư phán: “Sự chết đi sanh lại của chúng sanh, dầu lấy trí tuệ mà ước lượng cũng chưa thấu đáo giới hạn được (aparicchinno). Ông không thể biết làm sao tìm ra manh mối của những chúng sanh nhập vào thai bào trong bụng mẹ, không cho cha mẹ hay biết. Nầy Kassapa việc ấy quá tầm nhận thức của ông vì phạm vi nhận thức của ông còn kém cỏi, eo hẹp lắm. Sự thấy biết chúng sanh đang chết đi và đang sanh lại thuộc về quyền hạn của chư Phật”.
Phán rồi, Đức Phật phóng hào quang, hiện ra cho Đại đức thấy như Ngài đang ngồi trước mặt Đại đức mà thuyết lên kệ ngôn”:
“Pamādaṃ appamādena,
Yadā nudati paṇḍito;
Paññā pāsādamāruyha,
Asoko sokiniṃ pajaṃ;
Pabbataṭṭho va bhummaṭṭhe,
Dhīro bāle avekkhatīti”
“Trí giả lấy hạnh chuyên cần,
Đuổi hết phóng dật bước chân lên lầu.
Trên đài Bát nhã vô sầu,
Nhìn xem nhân loại lo âu dưới trần.
Siêu nhân ngắm đám ngu dân,
Như người trên núi nhìn dân dưới đồng”
CHÚ GIẢI:
Tiếng Nudati trên đây nghĩa là tống đi, cũng như lớp nước từ trên núi chảy xuống ao hồ, làm xáo trộn lớp nước cũ không cho ở yên, như lấy đầu đụng đầu, đuổi tống lớp cũ chạy đi như thế nào. Cũng như thế ấy, bậc hiền trí sau khi phát triển chuyên cần, không cho nết phóng dật ở yên. Lúc bấy giờ mới dùng hạnh chuyên cần khử trục nết phóng dật chạy đi cho lẹ. Noi theo sự hành chánh đạo rốt ráo viên mãn, là cái cầu thang. Người tiến bước lên đài Bát nhã, là có trí tuệ phát huy cái được gọi là Thiên nhãn thuần tịnh, bẻ gãy mũi nhọn của sầu tư mà thành bậc Vô sầu (Asoko), rồi dùng Thiên nhãn nhìn xem nhân loại đang đau khổ vì chưa nhổ được cái gai ưu tư, thấy những nhóm phàm linh đang chết đi và những nhóm khác đang sanh trở lại.
Pabbataṭṭho’va bhummaṭṭhe: là ví dụ như người đứng trên dãy núi nhìn xuống người đứng dưới núi, hay đất bằng, nhìn xuống người đứng tầng trệt, thì có thể quan sát dễ dàng không khó khăn gì cả. Bậc siêu nhân cũng thế, Ngài là bậc Đại lậu tận, là bậc trí tuệ, không còn lưu trữ hạt giống luân hồi. Cho nên quan sát những chúng sanh hữu tình trong vòng tử sanh không thấy khó khăn gì cả.
Dứt bài kệ nhiều vị chứng đắc Thánh quả nhất là quả vị Tu Đà Hườn.
Trí Thinh Văn giác có bao mà,
Đại đức toan nhìn rõ thật ra!
Muốn biết phàm linh qua tử lộ,
Mong đem Thiên nhãn rọi sanh hà.
Phải lên nóc thượng lầu Bát nhã,
Mới đắc minh cao có Phật Đà,
Nguyện lớp viên thành Tam Thập độ,
Trong trần nào dễ mấy ai a?
DỨT TÍCH ĐẠI ĐỨC MAHĀKASSAPA
Mahākassapattheravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Pamādaṃ appamādenāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto mahākassapattheraṃ ārabbha kathesi.
Ekasmiñhi divase thero pipphaliguhāyaṃ viharanto rājagahe piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkanto ālokaṃ vaḍḍhetvā pamatte ca appamatte ca udakapathavīpabbatādīsu cavanake upapajjanake ca satte dibbena cakkhunā olokento nisīdi. Satthā jetavane nisinnakova “kena nu kho vihārena ajja mama putto kassapo viharatī”ti dibbena cakkhunā upadhārento “sattānaṃ cutūpapātaṃ olokento viharatī”ti ñatvā “sattānaṃ cutūpapāto nāma buddhañāṇenapi aparicchinno, mātukucchiyaṃ paṭisandhiṃ gahetvā mātāpitaro ajānāpetvā cavanasattānaṃ paricchedo kātuṃ na sakkā, te jānituṃ tava avisayo, kassapa, appamattako tava visayo, sabbaso pana cavante ca upapajjante ca jānituṃ passituṃ buddhānameva visayo”ti vatvā obhāsaṃ pharitvā sammukhe nisinno viya hutvā imaṃ gāthamāha –
“Pamādaṃ appamādena, yadā nudati paṇḍito;
Paññāpāsādamāruyha, asoko sokiniṃ pajaṃ;
Pabbataṭṭhova bhūmaṭṭhe, dhīro bāle avekkhatī”ti.
Tattha nudatīti yathā nāma pokkharaṇiṃ pavisantaṃ navodakaṃ purāṇodakaṃ khobhetvā tassokāsaṃ adatvā taṃ attano matthakamatthakena palāyantaṃ nudati nīharati, evameva paṇḍito appamādalakkhaṇaṃ brūhento pamādassokāsaṃ adatvā yadā appamādavegena taṃ nudati nīharati, atha so panunnapamādo accuggatatthena parisuddhaṃ dibbacakkhusaṅkhātaṃ paññāpāsādaṃ tassa anucchavikaṃ paṭipadaṃ pūrento tāya paṭipadāya nisseṇiyā pāsādaṃ viya āruyha pahīnasokasallatāya asoko, appahīnasokasallatāya sokiniṃ pajaṃ sattanikāyaṃ cavamānañceva upapajjamānañca dibbacakkhunā avekkhati passati. Yathā kiṃ? Pabbataṭṭhova bhūmaṭṭheti pabbatamuddhani ṭhito bhūmiyaṃ ṭhite, uparipāsāde vā pana ṭhito pāsādapariveṇe ṭhite akicchena avekkhati, tathā sopi dhīro paṇḍito mahākhīṇāsavo asamucchinnavaṭṭabīje bāle cavante ca upapajjante ca akicchena avekkhatīti.
Gāthāpariyosāne bahū sotāpattiphalādīni sacchikariṃsūti.
Mahākassapattheravatthu pañcamaṃ.
II. 5. Kassapa The Great
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
28. When the wise man banishes heedlessness by heedfulness...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the Elder Mahā Kassapa.
For on a certain day, while the Elder was in residence at Pipphali Cave, he made his round of Rājagaha for alms, and after he had returned from his round for alms and had eaten his breakfast, he sat down and developed Insight, surveying with Supernatural Vision all living beings, both heedless and heedful, in the water, on the earth, on the mountains, and elsewhere, both coming into existence and passing out of existence.
The Teacher, seated at Jetavana, exercised Supernatural Vision and pondered within himself, “With what is my son Kassapa occupied to-day?” Straightway he became aware of the following, “He is contemplating the rising and falling of living beings.” And he said, “Knowledge of the rising and falling of living beings may not be compassed even with the Knowledge of a Buddha. Living beings pass from one existence to another and obtain a new conception in a mother’s womb without the knowledge of mother or father, and knowledge thereof may not be compassed. To know them is beyond your range, Kassapa, for your range is very slight. It comes within range of the Buddhas alone to know and to see in their totality the rising and falling of living beings.” So saying, he sent forth a radiant image of himself, and as it were sitting down face to face with Kassapa, pronounced the following Stanza,
28. When the wise man banishes heedlessness by heedfulness,
He climbs the terrace of wisdom, and free from sorrow, looks upon the sorrowing folk of the world.
Steadfast, as though standing on a mountain-top, he gazes upon the simpletons standing on the ground below.
- Text: N i. 258-260.
- From here on if the story is short, only the opening line of the verse or verses will be quoted.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 1, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.