Chú giải Pháp Cú · Kệ 26–27 · Dhp 26–27

Tích Cái Tết Thác Loạn

Bālanakkhattasaṅghuṭṭhavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 26–27 Kinh Pháp Cú, phẩm Không Phóng Dật, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú 26-27)

“Pamādamanuyañjanti,
Bālā dummedhino janā;
Appamādañca medhāvī,

“Kẻ vô trí bất nhân,
Đắm mình trong phóng dật.
Trí giả giữ chuyên cần,

Dhanaṃ seṭṭhaṃ va rakkhati” Như kho tàng quí nhất” “Mā pamādamanuyuñjetha, “Chớ tham cấu phóng dật,

Mā kāmaratisanthavaṃ;
Appamatto hi jhāyanto,

Dục lạc chớ nên gần.
Người tu thiền chuyên nhất,

Pappoti vipulaṃ sukhanti” Đắc quả phúc chẳng mất”

Hai câu kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài ngự tại Jetavana, đề cập về cái Tết thác loạn của bọn người ngu dốt.

Tương truyền rằng: Có một thời nọ, trong thành Sāvatthī nổi lên phong trào ăn Tết thác loạn.

Trong dịp nầy, những kẻ ngu si vô trí lấy tro và phân bò thoa khắp mình mẩy suốt bảy ngày. Họ đi ngông nghênh ngoài đường, nói toàn những lời tục tỉu. Dầu gặp thân quyến hay bạn bè, tại gia hoặc xuất gia, họ cũng chẳng biết hổ thẹn. Họ đến trước cửa nhà người mà văng tục, chủ nhà nghe những lời bất nhã của họ chịu không nổi phải tùy theo sức mình mà bố thí cho họ nửa đồng hoặc một đồng bạc (pāda), hoặc đến cả 1 đồng vàng (kahāpaṇa) để tống họ đi chỗ khác. Từ nhà này sang nhà kế cận, lại trổ ra những tràng thô ác ngữ, khi nhận lãnh tiền thí rồi họ lại tiếp tục đi nữa.

Bấy giờ, trong thành Sāvatthī, có đến năm mươi triệu Thánh Thinh Văn, những vị Thánh đệ tử cư sĩ của Đức Bổn Sư nhận lời thỉnh Đức Thế Tôn rằng:

- Bạch Thế Tôn! Xin Ngài cùng với chư Tăng ở trong Tịnh xá đừng vào thành khất thực trong thời gian bảy ngày, kể từ hôm nay.

Sau khi sắp đặt sự cúng dường, cơm cháo để hộ độ chư Tăng trong bảy ngày tết thác loạn xong, không ai bước chân ra khỏi nhà của mình nữa.

Khi hết Tết, đến ngày thứ tám, chư Thinh Văn thỉnh Tăng chúng có Đức Bổn Sư dẫn đầu vào thành làm lễ đại thí, xong rồi ngồi qua một bên và bạch rằng:

- Bạch Ngài! Trong bảy ngày qua chúng con khổ tâm hết sức, ngày nào cũng phải nghe những lời thô tục của kẻ ngu si. Thật muốn bịt cả hai tai. Bọn họ không một ai biết xấu hổ cả. Vì vậy, chúng con không dám thỉnh Ngài và Tăng chúng vào thành và chúng con cũng không dám ra khỏi nhà nữa.

Nghe lời phân trần của chư Thinh Văn. Đức Bổn Sư kết luận rằng: “Những kẻ ngu si vô trí thì hành động cẩu thả như thế. Còn bậc trí giả thì lo giữ gìn hạnh chuyên cần. Như giữ một kho tàng quí báu và đắc chứng bất tử đại Níp Bàn”.

Rồi Ngài ngâm tiếp bài kệ sau đây:
“Pamādamanuyañjanti,
Bālā dummedhino janā;
Appamādañca medhāvī,
Dhanaṃ seṭṭhaṃ va rakkhati”
“Mā pamādamanuyuñjetha,
Mā kāmaratisanthavaṃ;
Appamatto hi jhāyanto,
Pappoti vipulaṃ sukhanti”

“Kẻ ngu vô trí đắm mình,
Trong vòng phóng dật mặc tình đảo điên.
Như gìn kho báu ưu tiên,
Người trí giữ hạnh cần chuyên làm đầu”
“Chớ nên phóng dật tham cầu,
Chớ tìm dục lạc ngõ hầu vui chơi.
Người tu thiền định chẳng lơi,
Chứng phương quảng phúc vui chơi Níp Bàn”

CHÚ GIẢI:

Tiếng Bālā trên đây chỉ những kẻ ngu si, khờ khạo, ngây ngô, không hiểu biết sự lợi ích đời nầy và đời vị lai.

Dummedhino là kẻ vô trí, không có trí tuệ vì không thấy tội lỗi trong sự phóng dật, họ đắm mình trong dục lạc buông lung. Phung phí thời giờ của họ một cách cẩu thả.

Medhāvī là những bậc hiền minh, có trí Bát nhã, nhờ nếm hương vị chánh pháp, hằng giữ gìn hạnh chuyên cần như kho tàng thất bảo ưu thắng của tổ phụ di truyền.

Thật vậy, cũng như người được sự phước lợi của kho tàng vô giá, ta sẽ được hưởng thụ ngũ trần dục lạc, ta sẽ cấp dưỡng cho con ta đầy đủ. Ta sẽ quét sạch sẽ con đường cho vợ con ta đầy đủ, sẽ đưa ta sang thế giới khác, rồi chăm lo kho tàng như thế nào. Cũng như thế ấy, bậc hiền trí thấy được sự phước lợi của hạnh chuyên cần thì nghĩ rằng: “Người chuyên cần tu tập hằng đắc từ Sơ thiền đến Bát thiền, từ Sơ đến Tứ quả, có đủ Tam minh, Lục thông…”.

Mā pamādaṃ: Bởi cớ ấy, các ông chớ nên tham cầu, phóng dật, chớ nên phung phí thời giờ.

Mā kāmaratisanthavaṃ: Chớ nên vui theo dục lạc ngũ trần: sắc, thinh, hương vị, xúc là những vật ô nhiễm, là món ăn của ái dục (taṇhā).

Mā anuyuñjetha: Chớ tham cầu, là chớ mong mỏi đua đòi, chớ tìm kiếm hưởng thụ.

Appamatto: Người chuyên cần là người có đầy đủ pháp ghi nhớ chánh niệm kiên cố, người chuyên cần tu thiền định, giác ngộ được Níp Bàn tịnh lạc, quảng đại vô lượng vô biên.

Khi bài kệ chấm dứt, nhiều Tỳ khưu đắc chứng Thánh quả, nhất là quả Dự Lưu. Kỳ dư đại chúng thính pháp đều hưởng được nhiều lợi ích.

Người ngu ăn tết cũng ngu kỳ!
Thác loạn, điên khùng nghĩa lý chi?
Mình trét phân tro, tay nhám nhớp,
Miệng văng tục tỉu, mặt chai lỳ.
Được tiền xá nghĩ do người trọng,
Mất đức nào lo bị chúng khi!
Bẩy bữa tung hoành trong Xá Vệ,
Ngàn năm tiếng xấu vẫn còn ghi!

DỨT TÍCH CÁI TẾT THÁC LOẠN

Bālanakkhattasaṅghuṭṭhavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Pamādamanuyuñjantīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto bālanakkhattaṃ ārabbha kathesi.

Ekasmiñhi samaye sāvatthiyaṃ bālanakkhattaṃ nāma saṅghuṭṭhaṃ. Tasmiṃ nakkhatte bālā dummedhino janā chārikāya ceva gomayena ca sarīraṃ makkhetvā sattāhaṃ asabbhaṃ bhaṇantā vicaranti. Kiñci ñāti suhajjaṃ vā pabbajitaṃ vā disvā lajjantā nāma natthi. Dvāre dvāre ṭhatvā asabbhaṃ bhaṇanti. Manussā tesaṃ asabbhaṃ sotuṃ asakkontā yathābalaṃ aḍḍhaṃ vā pādaṃ vā kahāpaṇaṃ vā pesenti. Te tesaṃ dvāre laddhaṃ laddhaṃ gahetvā pakkamanti. Tadā pana sāvatthiyaṃ pañca koṭimattā ariyasāvakā vasanti, te satthu santikaṃ sāsanaṃ pesayiṃsu – “bhagavā, bhante, sattāhaṃ bhikkhusaṅghena saddhiṃ nagaraṃ appavisitvā vihāreyeva hotū”ti. Tañca pana sattāhaṃ bhikkhusaṅghassa vihāreyeva yāgubhattādīni sampādetvā pahiṇiṃsu, sayampi gehā na nikkhamiṃsu. Te nakkhatte pana pariyosite aṭṭhame divase buddhappamukhaṃ bhikkhusaṅghaṃ nimantetvā nagaraṃ pavesetvā mahādānaṃ datvā ekamantaṃ nisinnā, “bhante, atidukkhena no satta divasāni atikkantāni, bālānaṃ asabbhāni suṇantānaṃ kaṇṇā bhijjanākārappattā honti, koci kassaci na lajjati, tena mayaṃ tumhākaṃ antonagaraṃ pavisituṃ nādamha, mayampi gehato na nikkhamimhā”ti āhaṃsu. Satthā tesaṃ kathaṃ sutvā, “bālānaṃ dummedhānaṃ kiriyā nāma evarūpā hoti, medhāvino pana dhanasāraṃ viya appamādaṃ rakkhitvā amatamahānibbānasampattiṃ pāpuṇantī”ti vatvā imā gāthā abhāsi –

“Pamādamanuyuñjanti, bālā dummedhino janā;
Appamādañca medhāvī, dhanaṃ seṭṭhaṃva rakkhati.

“Mā pamādamanuyuñjetha, mā kāmaratisanthavaṃ;
Appamatto hi jhāyanto, pappoti vipulaṃ sukha”nti.

Tattha bālāti bālyena samannāgatā idhalokaparalokatthaṃ ajānantā. Dummedhinoti nippaññā. Te pamāde ādīnavaṃ apassantā pamādaṃ anuyuñjanti pavattenti, pamādena kālaṃ vītināmenti. Medhāvīti dhammojapaññāya samannāgato pana paṇḍito kulavaṃsāgataṃ seṭṭhaṃ uttamaṃ sattaratanadhanaṃ viya appamādaṃ rakkhati. Yathā hi uttamaṃ dhanaṃ nissāya “kāmaguṇasampattiṃ pāpuṇissāma, puttadāraṃ posessāma, paralokagamanamaggaṃ sodhessāmā”ti dhane ānisaṃsaṃ passantā taṃ rakkhanti, evaṃ paṇḍitopi appamatto “paṭhamajjhānādīni paṭilabhissāmi, maggaphalādīni pāpuṇissāmi, tisso vijjā, cha abhiññā sampādessāmī”ti appamāde ānisaṃsaṃ passanto dhanaṃ seṭṭhaṃva appamādaṃ rakkhatīti attho. Mā pamādanti tasmā tumhe mā pamādamanuyuñjetha mā pamādena kālaṃ vītināmayittha. Mā kāmaratisanthavanti vatthukāmakilesakāmesu ratisaṅkhātaṃ taṇhāsanthavampi mā anuyuñjetha mā cintayittha mā paṭilabhittha. Appamatto hīti upaṭṭhitassatitāya hi appamatto jhāyanto puggalo vipulaṃ uḷāraṃ nibbānasukhaṃ pāpuṇātīti.

Gāthāpariyosāne bahū sotāpannādayo ahesuṃ. Mahājanassa sātthikā dhammadesanā jātāti.

Bālanakkhattasaṅghuṭṭhavatthu catutthaṃ.

II. 4. Simpletons’ Holiday

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

26. Simpletons are given to heedlessness...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Simpletons’ Holiday, Bālanakkhatta.

For on a certain date there was a festival celebrated in Sāvatthi called Simpletons’ Holiday, and on the occasion of this festival foolish, unintelligent folk used to smear their bodies with ashes and cow-dung and for a period of seven days go about uttering all manner of coarse talk. At this time people showed no respect for kinsfolk or friends or monks when they met them, but stood in the doorways and insulted them with coarse talk. Those who could not endure the coarse talk would pay the holiday-makers a half or a quarter or a penny, according to their means, and the holiday-makers would take the money and depart from their houses.

Now at this time there were in Sāvatthi five crores of Noble Disciples, and they sent word to the Teacher, “Reverend Sir, let the Exalted One refrain for a period of seven days from entering the city with the Congregation of Monks; let him instead remain at the monastery.” And for a period of seven days the Noble Disciples caused food to be prepared for the Congregation of Monks at the monastery and sent it to them, but did not themselves leave their houses. On the eighth day, however, when the festival was at an end, they invited the Congregation of Monks to be their guests, escorted them into the city, and gave abundant offerings. And having seated themselves respectfully on one side, they said to the Teacher, “Reverend Sir, we have spent the past seven days most unpleasantly. Our ears had like to burst from hearing the coarse talk of foolish folk. No one showed any respect for anybody else, and for this reason we did not permit you to enter the city. We ourselves did not go out of the house.” The Teacher listened to what they said, and then replied, “After this manner do foolish, unintelligent men conduct themselves. But they that are intelligent preserve heedfulness as their greatest treasure, and by so doing at last attain the attainment of the Deathless, Great Nibbāna.” So saying, he pronounced the following Stanzas,

26. Simpletons, folk of little intelligence, are given to heedlessness;
But the intelligent man preserves heedfulness as his greatest treasure.

27. Give not yourselves up to heedlessness; indulge not in lust and sensual pleasure;
For he that is heedful and practices meditation attains profound happiness.

  1. Text: N i. 256-258.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 1, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp cùng chủ đề