Chú giải Pháp Cú · Kệ 38–39 · Dhp 38–39

Tích Đại Đức Phục Tâm

Cittahatthattheravatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 38–39 Kinh Pháp Cú, phẩm Tâm, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 38 – 39)

“Anavaṭṭhitacittassa,
Saddhammaṃ avijānato;
Pariplavapasādassa,
Paññā na paripūrati.”
“Anavassutacittassa,
Ananvāhatacetaso;
Puññapāpapahīnassa,
Natthi jāgarato bhayaṃ.”

“Người chưa có định tâm,
Hiểu chánh pháp sai lầm,
Tín đức chẳng kiên cố,
Chẳng đắc tuệ cao thâm.”
“Người hết tâm tham ái,
Không còn ý não hại,
Phước tội đều dứt trừ,
Giác tỉnh không sợ hãi.”

Hai bài kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết khi Ngài an ngự tại Jetavana (Kỳ Viên), đề cập đến Đại đức Cittahattha (Phục Tâm).

Tương truyền rằng: Thuở ấy có một vị công tử vào rừng để tìm một con bò đi lạc, theo dấu chân con bò đi mãi cho đến cuối giờ ngọ, công tử mới tìm gặp được nó. Đuổi cho nó nhập bầy xong, công tử cảm thấy mình vừa đói lại vừa khát. Nhìn thấy cổng Tinh xá cậu nghĩ rằng: “Mình vào đây xin cơm nước, thế nào chư Tăng cũng cho.”. (Trong thời Đức Phật còn tại thế, có vô số thức ăn phụ và canh phát sanh đến chư Tăng luôn luôn.)

Sau khi ăn cơm no, uống nước đã khát, rửa tay và súc miệng rồi, công tử đảnh lễ chư Tăng:

- Bạch các Ngài! Hôm nay chắc là có thí chủ thỉnh các Ngài đến nhà thọ bát mang về.

- Không đâu, nầy ông thiện nam, chư Tăng đi khất thực hằng ngày luôn luôn đều được như thế nầy.

Công tử suy nghĩ: “Mình thức khuya dậy sớm, làm việc không hở tay, cũng chưa có được cơm ngon canh ngọt mà dùngmình nghe chư Tăng nói ngày nào cũng độ như vầy thì thật là sướng quá. Mình nên đi tu chớ ở nhà làm gì cực khổ quá.”.

Thế rồi, công tử đến xin chư Tăng cho mình được xuất gia nhập đạo.

Khi ấy, chư Tăng đáp: “Lành thay! Ông thiện nam.” Và cho công tử được xuất gia ngay.

Thọ Cụ túc giới rồi, tân Tỳ khưu cũng làm hết mọi phận sự lớn nhỏ của một vị Tỳ khưu. Nhờ được thọ hưởng đầy đủ lễ vật phát sanh lên đến chư Thánh Tăng, nên mấy ngày sau vị Sư mới nầy phát phì.

Khi ấy, vị nầy nghĩ rằng: “Thà làm người cư sĩ còn hơn là sống đi trì bình khất thực.”. Thế rồi, vị ấy lại hoàn tục trở về nhà. Ở nhà làm công việc được vài hôm thì sút ốm trở lại, thấy vậy chàng nghĩ rằng: “Thà làm vị Sa môn còn hơn ở nhà chịu cực khổ như vậy.”.

Nghĩ rồi, công tử lại đến chùa xin xuất gia. Cách vài hôm sau, nhà Sư mới lại bất mãn, nên hoàn tục nữa. Nhưng trong lúc tại gia, công tử vẫn lui tới nơi chùa làm phụ các việc hộ Tăng. Mấy bữa sau, công tử lại bất mãn nghĩ thầm: “Ta nên xuất gia chớ ở nhà làm cái gì.”.

Thế là, công tử đến đảnh lễ chư Tỳ khưu và xin xuất gia lại. Khi ấy, chư Tăng nghĩ công người hộ độ nên cũng chiều lòng cho công tử xuất gia trở lại.

Công tử nầy xuất gia đi xuất gia lại tất cả là sáu lần như vậy. Mỗi lần thấy công tử xuất gia thì vị nào cũng nói:

- Ông Sư nầy bây giờ khắc phục tâm được rồi mới xuất gia hành đạo đó.

Vì thế chư Tăng tặng cho vị nầy danh hiệu Cittahattha. Trong thời gian Đại đức Cittahattha hoàn tục rồi xuất gia trở lại nhiều lần như thế thì cô vợ có thai.

Đến kỳ muốn xuất gia lần thứ bảy, công tử từ rừng xách đồ phụ tùng mang về nhà, bỏ xuống và nói:

- Ta sẽ đắp y trở lại.

Rồi đi ngay vô buồng, nhằm lúc cô vợ chửa của công tử ngủ mê, cô ta để tuột y nội, thân thể lõa lồ mà không hay biết, mũi thì ngáy khò khò, miệng thì hả toang hoác, ngó y như thây ma chết sình. Công tử ghê tởm, tự nghĩ: “Đây là Vô thường, Khổ não. Mình đã mấy lần xuất gia lại hoàn tục, cũng tại cái nầy đây mà mình không tu làm Tỳ khưu lâu bền được.”.

Đoạn công tử lấy y buộc thắt ngang bụng rồi chạy ra khỏi nhà. Khi ấy, bà mẹ vợ đứng bên nhà kế cận, thấy công tử đi vào nhà rồi chạy trở ra, thì tự hỏi: “Thằng nầy từ rừng mới về nhà, bây giờ lại lấy y vàng buộc ngang lưng bụng chạy trở ra đi về phía chùa. Tại sao vậy cà?”.

Bà nhạc vào nhà thấy đứa con gái của mình nằm hở hang như thế thì biết ngay là: “Thằng nầy nhìn thấy tướng con nầy nằm ngủ phát chán nên bỏ ra đi.”.

Bà đánh thức con gái: “Dậy đi! Kāḷakaṇṇi (Hắc Nhi), chồng mầy thấy tướng mầy nằm ngủ, nó chán bỏ đi luôn đó. Từ nay chắc nó không thuộc quyền sở hữu của mầy nữa đâu.”.

- Má à! Anh ấy đi rồi anh ấy về nhiều lượt rồi mà, vài bữa đây anh ấy lại trở về, chớ có đi luôn đâu mà sợ.

Công tử Cittahattha đi trên đường, chân đặt bước mà miệng cứ lẩm nhẩm thầm: “Vô thường, Khổ não”, rồi chứng đạt quả Tu Đà Hườn trong lúc đang đi đường.

Đến đảnh lễ chư Tăng xin xuất gia, công tử bị từ chối:

- Chư Tăng không muốn cho ông xuất gia, ông đâu có đủ tư cách làm vị Sa môn. Đầu ông cứng như đá mài dao.

- Bạch các Ngài, xin các Ngài hoan hỷ từ bi giúp con một lần nầy nữa mà thôi.

Chư Tăng lại chiều lòng, cho công tử xuất gia, mấy ngày sau Tỳ khưu Cittahattha chứng đắc A La Hán cùng với Tuệ phân tích, chư Tăng không biết việc nầy, hỏi vị Thánh Tăng mới:

- Nầy đạo hữu! Kỳ nầy sao lâu quá đạo hữu chưa trở về nhà.

- Bạch các Ngài! Hễ còn luyến ái trong tâm thì còn trở về nhà. Ai dứt được tâm luyến ái thì không còn muốn trở về nhà nữa chứ sao!

Chư Tăng kéo đến bạch cùng Đức Thế Tôn:

- Bạch Ngài! Tỳ khưu nầy đã dám nói với chư Tăng như thế. Ông nói như thế tức là nói tráo trở, giả dối phạm đại vọng ngữ.

Nhưng Đức Bổn Sư xác nhận: “Nầy các Tỳ khưu! Ông ấy nói đúng sự thật, con trai Ta trong lúc tâm còn bất định, không thông hiểu chánh pháp thì còn đi đi về về. Nhưng bây giờ thì dứt cả việc phước việc tội.”.

Nói rồi Đức Bổn Sư ngâm hai bài kệ như sau:
“Anavaṭṭhitacittassa,
Saddhammaṃ avijānato;
Pariplavapasādassa,
Paññā na paripūrati.”

“Người tâm bất định xôn xao,
Không thông Chánh pháp tối cao lạ thường.
Đức tin chẳng được kiên cường,
Thì trí Bát nhã không phương viên thành.”

“Anavassutacittassa,
Ananvāhatacetaso;
Puññapāpapahīnassa,
Natthi jāgarato bhayaṃ.”
“Người mà tâm đã tịnh thanh,
Không còn tham ái, gian manh thù hằn.
Phước tội đều dứt tận căn,
Giác tỉnh chẳng sợ lẽ hằng tử sanh.”

CHÚ GIẢI:

Anavaṭṭhitacitassa (Người tâm bất định): Tâm phàm là không có chút gì chơn thường, hay là bất biến. Nó giao động luôn luôn không khi nào đứng yên, cũng như trái bí đặt trên lưng ngựa, như cây đòn xóc dựng trên đống trấu, cũng như bông Kadamba để trên đầu trọc vậy. Người nào lúc thì làm nô lệ, lúc thì làm tu sĩ ngoại đạo Ājīvaka, lúc thì tu theo Nigantha, lúc thì tu đạo sĩ, không nhất định theo mãi một con đường nào thì gọi là người tâm bất định.

Saddhammaṃ avijānato (Người không thông Chánh pháp): Người có tâm bất định thì không phân tích được ba mươi bảy pháp trợ Bồ đề (Sattatiṃsabodhipakkhiya).

Paññā na paripūrati (Không đầy đủ trí tuệ): Không có trí tuệ cao siêu để hiểu biết, phân tích được các pháp trong cõi Dục, cõi Sắc… Nội trong cõi Dục còn chưa biết cho đầy đủ, có đâu mà hiểu biết tới cõi Sắc, rồi từ cõi Sắc mà hiểu biết cho đầy đủ cõi Vô sắc và Siêu thế được.

Anavassutacittassa (Người hết tâm tham ái): Là người đã dứt trừ được tham ái.

Ananvāhatacetaso (Không còn ý não hại): Là không có tâm muốn dùng cây đánh đập, dầu đang lúc giận, không có ý gì muốn đánh đập làm thiệt hại ai.

Puññapāpapahīnassa (Phước tội đều dứt trừ): Là dứt bỏ bốn đạo, gọi là dứt phước, và diệt tận phiền não gọi là dứt tội.

Natthi jāgarato bhayaṃ (Giác tỉnh không sợ hãi): Đây là nói trạng thái giác tỉnh, vô úy của bậc Lậu tận, bậc đã giác tỉnh, thấy được năm pháp giác tỉnh là: Tín, tấn, niệm, định và tuệ, cho nên dầu thức hay ngủ cũng không sợ phiền não là sự sợ hãi, những phiền não người đã đoạn trừ bằng bốn Thánh đạo, không còn theo đuổi người nữa, nghĩa là những phiền não người đã đoạn trừ bằng Tu Đà Hườn đạo là ba kiết sử thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ không còn trở lại theo người nữa, những phiền não nào người đã đoạn trừ bằng Tu Đà Hàm, A Na Hàm và A La Hán đạo, những phiền não ấy có bảy kiết sử, không còn trở lại đeo níu người ấy nữa.

Nghe dứt hai bài kệ đại chúng đều hưởng được lợi ích và đắc Thánh quả.

Sau đó, có một hôm chư Tỳ khưu đề khởi Pháp luận trong giảng pháp đường như vậy:

- Nầy chư huynh đệ, những phiền não nầy quả thật là đáng sợ, một vị công tử có đầy đủ căn lành để đắc A La Hán mà còn bị nó lung lạc, tu rồi hoàn tục đến bảy lần như thế.

Đức Bổn Sư nghe được Pháp thoại đề khởi giữa chư Tỳ khưu, bèn ngự hành vào giảng đường, ngự lên Phật tọa xong, Ngài phán hỏi:

- Nầy chư Tỳ khưu! Hôm nay các ông hội thảo chuyện chi thế?

- Bạch Ngài như vầy…

Nghe vậy, Đức Bổn Sư xác nhận: “Nầy các Tỳ khưu! Những phiền não đáng sợ là thế, nếu nó phát sanh lên rồi thì ai cũng bị nó chi phối tất cả. Khắp cõi Sa bà từ chư Thiên, Phạm Thiên đến những chúng sanh ti tiện, không một ai thoát khỏi quyền lực của nó. Cả những người đầy đủ trí tuệ như Ta thuở trước, cũng bị bao gồm trong vòng vây của nó, đừng nói chi là ai khác. Quả thật, Ta cũng đã từng vì nửa gáo hột giống và một cái cuốc mà đã hoàn tục, xuất gia cả bảy lần như thế.”.

- Bạch Ngài! Lúc nào vậy?

- Nầy các Tỳ khưu! Các ông có muốn nghe chăng?

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

- Thế thì hãy lắng nghe đây.

Đức Bổn Sư thuật lại tiền tích rằng:
Trong thời quá khứ, khi vua Brahmadatta đóng đô

tại thành Bārāṇasī, có một thanh niên tên là Kuddālapaṇḍita (Tráp hiền sĩ), xuất gia làm đạo sĩ. Ở tu tám tháng trong miền Tuyết Sơn, đến mùa mua thấy đất ướt Kuddāla nghĩ rằng: “Ở nhà còn nửa gáo hột giống bí ngô, với cái cuốc cùn. Ta đừng để cho mất giống…”.

Nghĩ rồi, chàng hoàn tục, trở về nhà lấy cuốc xới một thửa đất, xới dọn, đem hạt giống bí ngô đi gieo, cắm rào chung quanh để gìn giữ. Đến mùa bí già, hái ăn xong còn tiếc nuối để dành một gáo hột giống mới nữa.

Hết mùa mưa, Kuddāla hiền trí lại tự nghĩ: “Bây giờ ta ở nhà làm gì? Thôi ta hãy xuất gia tu tám tháng nữa đi.”.

Thế là hiền trí Kuddāla lìa nhà, vào tu ở trong miền Tuyết Sơn và đến mùa mưa năm sau lại về. Cứ như thế tất cả sáu lần và cũng về nhà sáu lần, cũng vì đạo sĩ tiếc nuối nửa gáo hột giống với cây cuốc cùn. Đến lần thứ bảy, vị hiền trí ấy nghĩ rằng: “Ta đã sáu lần hoàn tục, sáu lần xuất gia lại cũng tại cây cuốc cùn nầy. Cứ giữ nó hoài tu không được, ta hãy đem liệng bỏ nó đi cho rồi.”.

Xách cuốc tới bờ sông, hiền trí Kuddāla nghĩ rằng: “Nếu ta thấy biết chỗ nó rớt xuống thì sợ e mình còn lượm lấy lại được, chi bằng mình liệng đừng dòm thấy chỗ nó rơi xuống mới nên.”.

Nghĩ kỹ rồi, chàng lấy vải gói gáo hạt giống, đoạn cột gáo hột giống vào cây cuốc, cầm đầu cán cuốc đứng trên bờ sông, nhắm hai mắt lại, quay cái cuốc trên đầu ba vòng cho có trớn chàng ném mạnh nó ra giữa dòng sông. Khi quay đầu mở mắt ra không nhìn thấy dấu vết của cuốc rơi xuống chỗ nào. Hiền sĩ vui thích reo lên ba lần: “Ta đã thắng, ta đã thắng…”.

Trong khi ấy, Quốc vương xứ Bārāṇasī ngự giá thân chinh để bình giặc loạn ở biên cương, ban sư khải hoàn vừa ngự đến bờ sông. Đức vua khoác lên long thể chiếc dục y quí giá, ngự xuống sông để tắm, thì nghe tiếng reo của Kuddāla.

(Các vị lãnh chúa thì không ưa thích tiếng reo: “Ta đã thắng…” như vậy.)

Quốc vương đến gần bậc hiền trí và phán hỏi:

- Trẫm đi bình phiên dẹp loạn, đắc thắng khải hoàn về đến đây. Vừa nghe đạo nhân hô to ba lần: “Ta đã thắng” chẳng hay đạo nhân đã thắng là thắng cái chi?

- Tâu đại vương! Đại vương tuy chiến thắng kẻ tặc loạn bên ngoài, bây giờ tuy nó chịu thua, nhưng cũng có ngày nó dấy binh thắng ngược lại đại vương, còn tôi đã chiến thắng kẻ tặc loạn bên trong là tâm tham ái, không còn sợ bị nó thắng ngược lại. Sự toàn thắng vĩnh viễn như thế mới thật là vẻ vang.

Nói xong, đạo sĩ ngâm lên kệ ngôn rằng:
“Na taṃ jitaṃ sādhu jitaṃ,
Yaṃ jitaṃ avajīyati;
Taṃ kho jitaṃ sādhu jitaṃ,
Yaṃ jitaṃ nāvajīyati.”
Giao tranh trên bãi chiến trường,
Thắng rồi lại bại lẽ thường xưa nay.
Toàn thắng mới thật là hay,
Thắng không còn bại vì tay địch thù…”

Ngâm kệ rồi, đạo sĩ nhìn xuống dòng sông, lấy nước làm đề mục niệm, đắc Thần túc thông, bay lên ngồi kiết già giữa hư không.

Quốc vương được nghe Pháp của đại nhân thuyết rồi, liền phủ phục long thể xin Ngài nhận làm đệ tử. Đức vua xuất gia cùng với tướng sĩ tùng chinh, thành một đoàn đạo sĩ ở trong một đạo tràng rộng cả một do tuần.

Nghe tin Quốc vương Bārāṇasī đã xuất gia, Quốc vương nước láng giềng cử đại binh định sang đánh chiếm nước nầy. Nhưng khi tiến binh vào giữa thành đô nguy nga tráng lệ mà không hề có quân phòng thủ, Quốc vương xâm lăng nghĩ thầm: “Một kinh đô như vầy mà Quốc vương Bārāṇasī còn bỏ đi xuất gia, thì việc xuất gia nầy không phải là việc thấp hèn đâu. Vậy trẫm cũng nên xuất gia cho rồi.”.

Nghĩ vậy, Quốc vương bèn ngự giá thân hành đến tận đạo tràng, xin đại nhân cho mình được xuất gia và đã xuất gia với đoàn quân hộ giá. Lần lượt có tất cả bảy Quốc vương đều xuất gia như trên, thành ra đạo tràng chiếm trọn một vùng đất bảy do tuần. Bảy nhà vua đã phế thải cơ đồ, sự nghiệp, xuất gia chỉ đem theo những người tâm phúc của mình mà thôi.

Đại nhân Kuddāla sống đời phạm hạnh đến khi lâm chung sanh về cõi Phạm Thiên giới.

Thuật hết câu chuyện tiền thân, Đức Bổn Sư dẫn giải rằng:

- Nầy các Tỳ khưu! Ta là hiền trí Kuddāla thuở xưa và những phiền não quả thật là đáng sợ như thế đó.

Cuốc cùn, hột giống tiếc mà chi?
Tạo nghiệp dây dưa chẳng định kỳ?
Đất thịt sáu lần còn nghĩ đến,
Rừng thiêng bảy lượt mãi ra đi.
Tham sân tội lớn nên kinh cụ,
Tín, tấn căn sâu khá chủ trì.
Quyết thắng được mình là đại thắng,
Phục tâm hiền sĩ cũng tướng y.

DỨT TÍCH ĐẠI ĐỨC CITTAHATTHA

Cittahatthattheravatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Anavaṭṭhitacittassāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā sāvatthiyaṃ viharanto cittahatthattheraṃ ārabbha kathesi.

Eko kira sāvatthivāsī kulaputto naṭṭhagoṇaṃ pariyesanto araññaṃ pavisitvā majjhanhike kāle goṇaṃ disvā goyūthe vissajjetvā, “avassaṃ ayyānaṃ santike āhāramattaṃ labhissāmī”ti khuppipāsāpīḷito vihāraṃ pavisitvā bhikkhūnaṃ santikaṃ gantvā vanditvā ekamantaṃ nisīdi. Tasmiṃ kho pana samaye bhikkhūnaṃ avakkārapātiyaṃ bhuttāvasesakaṃ bhattaṃ hoti, te taṃ chātakapīḷitaṃ disvā, “ito bhattaṃ gahetvā bhuñjāhī”ti vadiṃsu. Buddhakāle ca pana anekasūpabyañjanaṃ bhattaṃ uppajjati, so tato yāpanamattaṃ gahetvā bhuñjitvā pānīyaṃ pivitvā hatthe dhovitvā bhikkhū vanditvā, “kiṃ, bhante, ajja, ayyā, nimantanaṭṭhānaṃ agamaṃsū”ti pucchi. “Natthi, upāsaka, bhikkhū imināva nīhārena nibaddhaṃ labhantī”ti. So “mayaṃ uṭṭhāya samuṭṭhāya rattindivaṃ nibaddhaṃ kammaṃ karontāpi evaṃ madhurabyañjanaṃ bhattaṃ na labhāma, ime kira nibaddhaṃ bhuñjanti, kiṃ me gihibhāvena, bhikkhu bhavissāmī”ti cintetvā bhikkhū upasaṅkamitvā pabbajjaṃ yāci. Atha naṃ bhikkhū “sādhu upāsakā”ti pabbājesuṃ.

So laddhūpasampado sabbappakāraṃ vattapaṭivattaṃ akāsi. So buddhānaṃ uppannena lābhasakkārena katipāhaccayena thūlasarīro ahosi. Tato cintesi – “kiṃ me bhikkhāya caritvā jīvitena, gihī bhavissāmī”ti. So vibbhamitvā gehaṃ pāvisi. Tassa gehe kammaṃ karontassa katipāheneva sarīraṃ milāyi. Tato “kiṃ me iminā dukkhena, samaṇo bhavissāmī”ti cintetvā puna gantvā pabbaji. So katipāhaṃ vītināmetvā puna ukkaṇṭhitvā vibbhami, pabbajitakāle pana bhikkhūnaṃ upakārako hoti. So katipāheneva punapi ukkaṇṭhitvā, “kiṃ me gihibhāvena, pabbajissāmī”ti gantvā bhikkhū vanditvā pabbajjaṃ yāci. Atha naṃ bhikkhū upakāravasena puna pabbājayiṃsu. Evaṃ so iminā niyāmeneva chakkhattuṃ pabbajitvā uppabbajito. Tassa bhikkhū “esa cittavasiko hutvā vicaratī”ti cittahatthattheroti nāmaṃ kariṃsu.

Tassevaṃ aparāparaṃ vicarantasseva bhariyā gabbhinī ahosi. So sattame vāre araññato kasibhaṇḍamādāya gehaṃ gantvā bhaṇḍakaṃ ṭhapetvā “attano kāsāvaṃ gaṇhissāmī”ti gabbhaṃ pāvisi. Tasmiṃ khaṇe tassa bhariyā nipajjitvā niddāyati. Tassā nivatthasāṭako apagato hoti, mukhato ca lālā paggharati, nāsā ghuraghurāyati, mukhaṃ vivaṭṭaṃ, dantaṃ ghaṃsati, sā tassa uddhumātakasarīraṃ viya upaṭṭhāsi. So “aniccaṃ dukkhaṃ ida”nti saññaṃ labhitvā, “ahaṃ ettakaṃ kālaṃ pabbajitvā imaṃ nissāya bhikkhubhāve saṇṭhātuṃ nāsakkhi”nti kāsāyakoṭiyaṃ gahetvā udare bandhitvā gehā nikkhami.

Athassa anantaragehe ṭhitā sassu taṃ tathā gacchantaṃ disvā, “ayaṃ paṭiukkaṇṭhito bhavissati, idāneva araññato āgantvā kāsāvaṃ udare bandhitvāva gehā nikkhanto vihārābhimukho gacchati, kiṃ nu kho”ti gehaṃ pavisitvā niddāyamānaṃ dhītaraṃ passitvā “imaṃ disvā so vippaṭisārī hutvā gato”ti ñatvā dhītaraṃ paharitvā “uṭṭhehi kāḷakaṇṇi, sāmiko te taṃ niddāyamānaṃ disvā vippaṭisārī hutvā gato, natthi so ito paṭṭhāya tuyha”nti āha. “Apehi apehi, amma, kuto tassa gamanaṃ atthi, katipāheneva punāgamissatī”ti āha. Sopi “aniccaṃ dukkha”nti vatvā gacchanto gacchantova sotāpattiphalaṃ pāpuṇi. So gantvā bhikkhū vanditvā pabbajjaṃ yāci. “Na sakkhissāma maṃyaṃ taṃ pabbājetuṃ, kuto tuyhaṃ samaṇabhāvo, satthakanisānapāsāṇasadisaṃ tava sīsa”nti. “Bhante, idāni maṃ anukampāya ekavāraṃ pabbājethā”ti. Te taṃ upakāravasena pabbājayiṃsu. So katipāheneva saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇi.

Tepi naṃ āhaṃsu – “āvuso cittahattha, tava gamanasamayaṃ tvameva jāneyyāsi, imasmiṃ vāre te cirāyita”nti. “Bhante, saṃsaggassa atthibhāvakāle gatamhā, so no saṃsaggo chinno, idāni agamanadhammā jātamhā”ti. Bhikkhū satthu santikaṃ gantvā, “bhante, ayaṃ bhikkhu amhehi evaṃ vutto evaṃ nāma kathesi, aññaṃ byākaroti, abhūtaṃ vadatī”ti āhaṃsu. Satthā “āma, bhikkhave, mama putto attano anavaṭṭhitacittakāle saddhammaṃ ajānanakāle gamanāgamanaṃ akāsi, idānissa puññañca pāpañca pahīna”nti vatvā imā dve gāthā āha –

“Anavaṭṭhitacittassa, saddhammaṃ avijānato;
Pariplavapasādassa, paññā na paripūrati.

“Anavassutacittassa, ananvāhatacetaso;
Puññapāpapahīnassa, natthi jāgarato bhaya”nti.

Tattha anavaṭṭhitacittassāti cittaṃ nāmetaṃ kassaci nibaddhaṃ vā thāvaraṃ vā natthi. Yo pana puggalo assapiṭṭhe ṭhapitakumbhaṇḍaṃ viya ca thusarāsimhi koṭṭitakhāṇuko viya ca khallāṭasīse ṭhapitakadambapupphaṃ viya ca na katthaci saṇṭhāti, kadāci buddhasāvako hoti, kadāci ājīvako, kadāci nigaṇṭho, kadāci tāpaso. Evarūpo puggalo anavaṭṭhitacitto nāma. Tassa anavaṭṭhitacittassa. Saddhammaṃ avijānatoti sattatiṃsabodhipakkhiyadhammabhedaṃ imaṃ saddhammaṃ avijānantassa parittasaddhatāya vā uplavasaddhatāya vā pariplavapasādassa kāmāvacararūpāvacarādibhedā paññā na paripūrati. Kāmāvacarāyapi aparipūrayamānāya kutova rūpāvacarārūpāvacaralokuttarapaññā paripūrissatīti dīpeti. Anavassutacittassāti rāgena atintacittassa. Ananvāhatacetasoti “āhatacitto khilajāto”ti (dī. ni. 3.319; vibha. 941; ma. ni. 1.185) āgataṭṭhāne dosena cittassa pahatabhāvo vutto, idha pana dosena appaṭihatacittassāti attho. Puññapāpapahīnassāti catutthamaggena pahīnapuññassa ceva pahīnapāpassa ca khīṇāsavassa. Natthi jāgarato bhayanti khīṇāsavassa jāgarantasseva abhayabhāvo kathito viya. So pana saddhādīhi pañcahi jāgaradhammehi samannāgatattā jāgaro nāma. Tasmā tassa jāgarantassāpi ajāgarantassāpi kilesabhayaṃ natthi kilesānaṃ apacchāvattanato. Na hi taṃ kilesā anubandhanti tena tena maggena pahīnānaṃ kilesānaṃ puna anupagamanato. Tenevāha – “sotāpattimaggena ye kilesā pahīnā, te kilese na puneti na pacceti na paccāgacchati, sakadāgāmianāgāmiarahattamaggena ye kilesā pahīnā, te kilese na puneti na pacceti na paccāgacchatī”ti (cūḷani. mettagūmāṇavapucchāniddesa 27).

Desanā mahājanassa sātthikā saphalā ahosi.

Athekadivasaṃ bhikkhū dhammasabhāyaṃ kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ “bhāriyā vatime, āvuso, kilesā nāma, evarūpassa arahattassa upanissāyasampanno kulaputto kilesehi āloḷito sattavāre gihī hutvā sattavāre pabbajito”ti. Satthā tesaṃ taṃ kathāpavattiṃ sutvā taṅkhaṇānurūpena gamanena dhammasabhaṃ gantvā buddhāsane nisinno “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā, “imāya nāmā”ti vutte evameva, bhikkhave, kilesā nāma bhāriyā, sace ete rūpino hutvā katthaci pakkhipituṃ sakkā bhaveyyuṃ, cakkavāḷaṃ atisambādhaṃ, brahmaloko atinīcakoti okāso nesaṃ na bhaveyya, mādisampi nāmete paññāsampannaṃ purisājāneyyaṃ āloḷenti, avasesesu kā kathā? “Ahañhi aḍḍhanāḷimattaṃ varakacorakaṃ kuṇṭhakudālañca nissāya cha vāre pabbajitvā uppabbajitapubbo”ti. “Kadā, bhante, kadā sugatā”ti? “Suṇissatha, bhikkhave”ti. “Āma, bhante”ti. “Tena hi suṇāthā”ti atītaṃ āhari –

Atīte bārāṇasiyaṃ brahmadatte rajjaṃ kārente kudālapaṇḍito nāma bāhirakapabbajjaṃ pabbajitvā aṭṭha māse himavante vasitvā vassārattasamaye bhūmiyā tintāya “gehe me aḍḍhanāḷimatto varakacorako ca kuṇṭhakudālako ca atthi, varakacorakabījaṃ mā nassī”ti uppabbajitvā ekaṃ ṭhānaṃ kudālena kasitvā taṃ bījaṃ vapitvā vatiṃ katvā pakkakāle uddharitvā nāḷimattabījaṃ ṭhapetvā sesaṃ khādi. So “kiṃ me dāni gehena, puna aṭṭha māse pabbajissāmī”ti cintetvā nikkhamitvā pabbaji. Imināva nīhārena nāḷimattaṃ varakacorakañca kuṇṭhakudālañca nissāya sattavāre gihī hutvā sattavāre pabbajitvā sattame pana vāre cintesi – “ahaṃ cha vāre imaṃ kuṇṭhakudālaṃ nissāya gihī hutvā pabbajito, katthacideva naṃ chaḍḍessāmī”ti. So gaṅgāya tīraṃ gantvā, “patitaṭṭhānaṃ passanto otaritvā gaṇheyyaṃ, yathāssa patitaṭṭhānaṃ na passāmi, tathā naṃ chaḍḍessāmī”ti cintetvā nāḷimattaṃ bījaṃ pilotikāya bandhitvā pilotikaṃ kudālaphalake bandhitvā kudālaṃ aggadaṇḍake gahetvā gaṅgāya tīre ṭhito akkhīni nimīletvā uparisīse tikkhattuṃ āvijjhitvā gaṅgāyaṃ khipitvā nivattitvā olokento patitaṭṭhānaṃ adisvā “jitaṃ me, jitaṃ me”ti tikkhattuṃ saddamakāsi.

Tasmiṃ khaṇe bārāṇasirājā paccantaṃ vūpasametvā āgantvā nadītīre khandhāvāraṃ nivāsetvā nhānatthāya nadiṃ otiṇṇo taṃ saddaṃ assosi. Rājūnañca nāma “jitaṃ me”ti saddo amanāpo hoti, so tassa santikaṃ gantvā, “ahaṃ idāni amittamaddanaṃ katvā ‘jitaṃ me’ti āgato, tvaṃ pana ‘jitaṃ me, jitaṃ me’ti viravasi, kiṃ nāmeta”nti pucchi. Kudālapaṇḍito “tvaṃ bāhirakacore jini, tayā jitaṃ puna avajitameva hoti, mayā pana ajjhattiko lobhacoro jito, so puna maṃ na jinissati, tasseva jayo sādhū”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Na taṃ jitaṃ sādhu jitaṃ, yaṃ jitaṃ avajīyati;
Taṃ kho jitaṃ sādhu jitaṃ, yaṃ jitaṃ nāvajīyatī”ti. (jā. 1.1.70);

Taṃ khaṇaṃyeva ca gaṅgaṃ olokento āpokasiṇaṃ nibbattetvā adhigataviseso ākāse pallaṅkena nisīdi. Rājā mahāpurisassa dhammakathaṃ sutvā vanditvā pabbajjaṃ yācitvā saddhiṃ balakāyena pabbaji. Yojanamattā parisā ahosi. Aparopi sāmantarājā tassa pabbajitabhāvaṃ sutvā, “tassa rajjaṃ gaṇhissāmī”ti āgantvā tathā samiddhaṃ nagaraṃ suññaṃ disvā, “evarūpaṃ nagaraṃ chaḍḍetvā pabbajito rājā orake ṭhāne na pabbajissati, mayāpi pabbajituṃ vaṭṭatī”ti cintetvā tattha gantvā mahāpurisaṃ upasaṅkamitvā pabbajjaṃ yācitvā saparivāro pabbaji. Eteneva nīhārena satta rājāno pabbajiṃsu. Sattayojaniko assamo ahosi. Satta rājāno bhoge chaḍḍetvā ettakaṃ janaṃ gahetvā pabbajiṃsu. Mahāpuriso brahmacariyavāsaṃ vasitvā brahmalokūpago ahosi.

Satthā imaṃ dhammadesanaṃ āharitvā, “ahaṃ, bhikkhave, tadā kudālapaṇḍito ahosiṃ, kilesā nāmete evaṃ bhāriyā”ti āha.

Cittahatthattheravatthu pañcamaṃ.

III. 5. Elder Thought-Controlled

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

38. He whose heart abides not steadfast,
He who knows not the Good Law,
He whose faith flounders about,
Such a man lacks perfect wisdom.

39. He whose heart is unwetted by the rain of lust,
He whose heart is unsinged by the fire of ill-will,
He who has renounced both good and evil,
He who is vigilant, – such a man has nothing to fear.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Sāvatthi with reference to Elder Thought-controlled, Cittahattha.

The story goes that a certain youth of respectable family, living at Sāvatthi, went into the forest to look for an ox that was lost. When it was midday, he saw the ox and released the herds, and being oppressed by hunger and thirst, thought to himself, “I can surely get something to eat from the noble monks.” So he entered the monastery, went to the monks, bowed to them, and stood respectfully on one side. Now at that time the food which remained over and above to the monks who had eaten lay in the vessel used for refuse. When the monks saw that youth, exhausted by hunger as he was, they said to him, “Here is food; take and eat it.” (When a Buddha is living in the world, there is always a plentiful supply of rice-porridge, together with various sauces and curries.) So the youth took and ate as much food as he needed drank water, washed his hands, and then bowed to the monks and asked them, “Reverend Sirs, did you go to some house by invitation to-day?” “No, lay disciple; monks always receive food in this way.”

The youth thought to himself, “No matter how busy and active we may be, though we work continually both by night and by day, we never get rice-porridge so deliciously seasoned. But these monks, according to their own statement, eat it continually. Why should I remain a layman any longer? I will become a monk.” Accordingly he approached the monks and asked to be received into the Order. The monks said to him, “Very well, lay disciple,” and received him into the Order. After making his full profession, he performed all the various major and minor duties; and in but a few days, sharing in the rich offerings which accrue to the Buddhas, he became fat and well-liking.

Then he thought to himself, “Why should I live on food obtained by making alms-pilgrimages? I will become a layman once more.” So back he went and entered his house. After working in his house for only a few days, his body languished. Thereupon he said to himself, “Why should I endure this suffering any longer? I will become a monk.” So back he went and became a monk again. But after spending a few days as a monk, becoming discontented once more, off he went again. Now when he was a monk, he was a helper of the other monks. After a few days he became discontented again and said to himself, “Why should I live the life of a layman any longer? I will become a monk.” So saying, he went to the monks, bowed, and asked to be received into the Order. Because he had helped them, the monks received him into the Order once more. In this manner he entered the Order and left it again six times in succession. The monks said to themselves, “This man lives under the sway of his thoughts.” So they gave him the name Thought-controlled, Elder Cittahattha.

As he was thus going back and forth, his wife became pregnant. The seventh time he returned from the forest with his farming implements he went to the house, put his implements away, and entered his own room, saying to himself, “I will put on my yellow robe again.” Now his wife happened to be abed and asleep at the time. Her undergarment had fallen off, saliva was flowing from her mouth, she was snoring, her mouth was wide open; she appeared to him like a swollen corpse. Grasping the thought, “All that is in this world is transitory, is involved in suffering,” he said to himself, “To think that because of her, all the time I have been a monk, I have been unable to continue steadfast in the monastic life!” Straightway taking his yellow robe by the hem, he ran out of the house, binding the robe about his belly as he ran.

Now his mother-in-law lived in the same house with him. When she saw him departing in this wise, she said to herself, “This renegade, who but this moment returned from the forest, is running from the house, binding his yellow robe about him as he runs, and is making for the monastery. What does this mean?” Entering the house and seeing her daughter asleep, she knew at once, “It was because he saw her asleep that he became disgusted and went away.” So she shook her daughter and said to her, “Rise, hag. Your husband saw you asleep, became disgusted, and went away. You will have him no more for your husband henceforth.” “Begone, mother. What matters it whether he has gone or not? He will be back again in but a few days.”

As Cittahattha proceeded on his way, repeating the words, “All that is in this world is transitory, is involved in suffering,” he obtained the Fruit of Conversion. Continuing his journey, he went to the monks, bowed to them, and asked to be received into the Order. “No,” said the monks, “we cannot receive you into the Order. Why should you become a monk? Your head is like a grindstone.” “Reverend Sirs, receive me into the Order just this once.” Because he had helped them, they received him into the Order. After a few days he attained Arahatship, together with the Supernatural Faculties.

Thereupon they said to him, “Brother Cittahattha, doubtless you alone will decide when it is time for you to go away again; you have tarried here a long while this time.” “Reverend Sirs, when I was attached to the world, I went away; but now I have put away attachment to the world; I have no longer any desire to go away.” The monks went to the Teacher and said, “Reverend Sir, we said such and such to this monk, and he said such and such to us in reply. He utters falsehood, says what is not true.” The Teacher replied, “Yes, monks, when my son’s mind was unsteady, when he knew not the Good Law, then he went and came. But now he has renounced both good and evil.” So saying, he pronounced the following Stanzas,

38. He whose heart abides not steadfast,
He who knows not the Good Law,
He whose faith flounders about,
Such a man lacks perfect wisdom.

39. He whose heart is unwetted by the rain of lust,
He whose heart is unsinged by the fire of ill-will,
He who has renounced both good and evil,
He who is vigilant, – such a man has nothing to fear.

Now one day the monks began a discussion: “Brethren, grievous indeed are these evil passions of ours. So noble a youth as this, predestined to attain Arahatship, swayed by evil passions, became a monk seven times, and seven times returned to the world.” The Teacher heard them discussing this matter, went at an opportune moment, entered the Hall of Truth, sat down in the Seat of the Buddha, and asked them, “Monks, what is it you are sitting here now talking about?” When they told him, he said, “It is precisely so, monks. The evil passions are indeed grievous. If they could take on material forms, so that they could be put away somewhere, a World would be too restricted for them and the Heaven of Brahmā too low for them. There would not be room for them anywhere. They bewilder even one like me, possessed of wisdom, a being of noble birth. Who can describe their effect on others? For in a previous state of existence even I, all because of half a pint-pot of seed-beans and a blunt spade, became a monk six times and returned to the world six times.” “When did that happen, Reverend Sir?” “Do you wish to hear about it, monks?” “Yes, Reverend Sir.” “Well then, listen.” So saying, the Teacher related the following

5 a. Story of the Past: Kuddāla and his spade

Once upon a time, when Brahmadatta reigned at Benāres, there dwelt at Benāres a certain wise man named Spade Sage, Kuddāla. He became a monk of an heretical Order and dwelt for eight months in the Himālaya country. One night during the season of the rains, when the ground was wet, he thought to himself, “I have in my house half a pint-pot of seed-beans and a blunt spade; my seed-beans must not be lost.” So he returned to the world, tilled a certain plot of ground with his spade, planted that seed, and put a fence around it. When the beans were ripe, he pulled them up, and setting aside a pint-pot of beans for seed, he used the rest for food. Then he thought to himself, “Why should I live the life of a layman any longer? I will reside in the Himālaya country for eight months more as a monk.” So he departed from his house and became a monk once more. In this manner, all because of half a pint-pot of seed-beans and a blunt spade, he became a monk seven times, and seven times returned to the world.

The seventh time he thought to himself, “Seven times I have returned to the world after becoming a monk, all because of this blunt spade. I will throw it away somewhere.” So he went to the bank of the Ganges, carrying the pint-pot of seed-beans and the blunt spade with him. As he stood on the bank of the river, he thought to himself, “If I see the spot where these things fall, I may be tempted to descend into the river and fish them out. Therefore I will take care to throw them in such a way that I shall not see where they fall.” Accordingly he wrapped the pint-pot of seeds in a cloth, tied the cloth to the handle of the spade, and grasped the spade by the tip of the handle. And standing there on the bank of the Ganges, he closed his eyes, whirled the spade three times round over his head, and flung it into the Ganges. Then he faced about so that he might not see where the spade fell and cried three times with a loud voice, “I have conquered! I have conquered!”

Just at that moment the king of Benāres, who had returned from suppressing disorder on his frontier and pitched camp on the bank of the river and descended into the stream to bathe, heard that cry. Now the cry, “I have conquered!” is a cry kings do not like to hear. The king of Benāres therefore went to Cittahattha and said, “I have but just put my enemy under my feet and have returned with the thought in my mind, ‘I have conquered!’ But you have just cried out, ‘I have conquered! I have conquered!’ What do you mean by this?” Said Spade Sage, “You have conquered bandits that are without. The victory you have won will have to be won again. But I have conquered an enemy that is within, the bandit of desire. He will never conquer me again. Victory over him is the only true victory,” So saying, he pronounced the following Stanza,

That victory is no true victory which must be won again;
That victory is true victory which need not be won again.

At that moment, gazing upon the Ganges and meditating upon the element of water. Spade Sage acquired Specific Attainment, whereupon he rose from the ground and sat cross-legged in the air. The king after hearing the religious instruction of the Great Being, paid obeisance to him, requested him to receive him as a monk, and became a monk, together with his entire force; his retinue extended for a distance of a league. Another king who was his neighbor, hearing that he had become a monk, thought to himself, “I will seize his kingdom,” and went thither, intending to do so. But when he saw that prosperous city empty, he thought to himself, “A king who would give up so beautiful a city to become a monk would certainly not become a monk to his own hindrance. I also ought to become a monk.” Therefore he went to where the Great Being was, paid obeisance to him, requested him to receive him as a monk, and became a monk, together with his retinue. In like manner seven kings in all became monks; their hermitage was seven leagues long; seven kings renounced their worldly possessions and became monks. Having won over all this numerous company, the Great Being lived the holy life and went to the Heaven of Brahmā. End of Story of the Past.

When the Teacher had finished this lesson, he said, “Monks, at that time I was Spade Sage. Learn from this story how grievous the evil passions are.”

  1. This is a free version of Jātaka 70: i. 311-315. The Jātaka, however, quotes not Dhammapada 38, but Dhammapada 35. Text: N i. 305-313.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.