Tích Đại Đức Hộ Tăng Điệt
Saṅgharakkhitabhāgineyyattheravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 37 Kinh Pháp Cú, phẩm Tâm, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 37) “Dūraṅgamaṃ ekacaraṃ, “Tâm đi xa một mình,
Asarīraṃ guhāsayaṃ;
Ẩn hang sâu vô hình.
Ye cittaṃ saññamessanti, Ai bình tâm khéo giữ, Mokkhanti mārabandhanā.” Thoát vòng Ma kiết sử.”
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài an ngự tại Jetavana (Kỳ Viên), đề cập đến vị Tỳ khưu pháp danh là Bhāgineyya-saṅgharakkhita (Hộ Tăng Điệt).
Tương truyền rằng: Trong thành Sāvatthī (Xá Vệ), có cậu công tử sau khi nghe pháp của Đức Bổn Sư, bèn lìa bỏ gia đình xuất gia thọ Cụ túc giới, có pháp danh là Saṅgharakkhita (Hộ Tăng), Ngài đã chứng đắc quả La Hán sau vài ngày hành Sa môn pháp.
Người em út của Đại đức, khi có con trai bèn lấy pháp danh của Ngài mà đặt cho con mình, kèm thêm chữ Bhāgineyya (Điệt là cháu) thành ra đứa bé có tên là Bhāgineyyasaṅgharakkhita.
Đến tuổi trưởng thành, Bhāgineyyasaṅgharakkhita xuất gia Sa di với Sư bá, nhưng sau khi thọ Cụ túc, Tỳ khưu ấy lại đi nhập hạ ở một ngôi chùa ở một làng quê.
Khi an cư mùa mưa, Đại đức Bhāgineyyasaṅgharakkhita chia được hai lá y tắm mưa, một lá dài bảy hắc và một lá dài tám hắc tay (hattha: Độ năm tấc tây). Đại đức Saṅgharakkhita cháu nguyện rằng: “Lá y tám hắc tay ta sẽ dâng thầy tế độ, còn lá y bảy hắc tay ta sẽ giữ lại phần ta.”.
Đến khi mãn mùa an cư, Tỳ khưu Saṅgharakkhita cháu định về thăm Sư bá, nên vừa đi khất thực tự túc, đi bộ lần hồi về đến Tinh xá của Sư bá, nhằm lúc Đại đức đi vắng. Bhāgineyyasaṅgharakkhita bèn vào Tinh xá, quét dọn trai phòng của Đại đức, múc sẵn nước rửa chân, trải sẵn tọa cụ rồi ngồi nghỉ chờ Đại đức về. Khi thấy Sư bá mình về gần đến nơi, Hộ Tăng Điệt đi ra rước bát, thỉnh Đại đức vào an tọa, lấy quạt hầu Đại đức, dâng nước uống và rửa chân Đại đức, xong rồi mới lấy y tắm mưa đem đến đặt dưới chân Đại đức:
- Bạch Ngài! Xin Ngài hãy thọ lãnh y nầy.
Nói rồi Bhāgineyyasaṅgharakkhita đứng dậy quạt hầu Đại đức. Khi ấy Đại đức nói:
- Nầy Bhāgineyyasaṅgharakkhita! Y của Sư bá có đầy đủ rồi, con hãy giữ y nầy lại mà dùng đi.
- Bạch Ngài! Từ khi phát sanh con đã nguyện để dành cúng dường Ngài, xin Ngài hãy thọ dụng.
- Nầy Bhāgineyyasaṅgharakkhita, con hãy giữ lại mà dùng, Sư bá có đủ y rồi.
- Bạch Ngài, xin Ngài đừng từ chối. Xin Ngài từ bi thọ dụng cho con được nhiều phước lớn.
Mặc dù Tỳ khưu Saṅgharakkhita cháu khẩn khoản yêu cầu nhiều lượt, Đại đức Sư bá chẳng nhận lãnh y.
Thấy vậy, Tỳ khưu cháu không phải nài nỉ y nữa. Tuy đứng làm thinh quạt hầu vị Đại đức nhưng trong thâm tâm vị Tỳ khưu nầy nghĩ rằng: “Khi còn tại gia mình là cháu Đại đức Sư bá. Khi xuất gia rồi mình là đệ tử của Ngài. Thế mà Ngài không thọ lãnh vật mình dâng cúng. Ngài đã không tưởng tình bác cháu, thầy trò thì mình còn ở đây tu với Ngài làm chi nữa, thà là mình hoàn tục cho rồi.”. Nghĩ đến đây, Tỳ khưu Saṅgharakkhita cháu tính thầm: “Đời sống tại gia cũng khó sắp đặt lắm. Hoàn tục rồi, ta sẽ làm gì để sinh nhai đây?”.
Nhớ đến hai lá y, Tỳ khưu Saṅgharakkhita cháu phác họa một chương trình: “Mình sẽ đem lá y tám hắc bán lấy tiền mua một con dê cái, dê cái thì mau sanh con lắm, hễ nó đẻ ra bao nhiêu thì ta bán hết bấy nhiêu, góp nhóp tiền bạc cho khá nhiều, rồi mình sẽ cưới vợ, vợ mình sẽ sanh cho mình một đứa con. Khi ấy, mình sẽ lấy tên bác mình đặt tên cho con, để nó ngồi trong cỗ xe nhỏ, rồi mình đưa cả vợ con đến chào bác mình. Đang đi giữa đường, mình bảo vợ mình rằng: “Em trao con qua cho anh bế.”, vợ mình bảo: “Anh ẵm con mà chi, anh hãy đẩy cỗ xe đi.”, rồi vợ mình bế xốc con lên và nói: “Để em ẵm nó.”, nhưng vợ mình bồng con không quen, buông nó té xuống dưới đường, bánh xe lăn qua cán ngang mình đứa bé. Mình mắng vợ: “Con tao mà mầy không bao giờ chịu trao cho tao, để mầy ẵm một mình không nổi vậy đó, đồ đàn bà hư nói không biết nghe. Mắng rồi, mình xách gậy đập lên lưng vợ mình.”. Nghĩ miên man đến đó, Tỳ khưu Bhāgineyyasaṅgharakkhita quên hẳn là mình đang đứng quạt hầu Sư bá, nên cầm cây quạt đánh lên đầu Đại đức Saṅgharakkhita. Đại đức dùng Tha tâm thông quán xem tại sao Đại đức bị cháu đánh lên đầu như thế. Khi biết rõ nguyên nhân, Đại đức nói:
- Nầy Hộ Tăng điệt, ông đánh phụ nữ không được thì thôi. Chớ Đại đức Trưởng lão nầy đâu có mắc mớ gì?
Tỳ khưu Saṅgharakkhita cháu hoảng hốt: “Chết ta rồi! Đại đức Sư bá Ngài có Tha tâm thông, biết rõ dự định của ta hết. Vậy ta còn mặc y Sa môn làm chi nữa.”.
Nghĩ vậy, Saṅgharakkhita cháu quăng cây quạt xuống đất và phát bỏ chạy đi. Khi ấy Hộ Tăng Điệt bị các Tỳ khưu và Sa di trẻ đuổi theo bắt lại, dắt đến trước mặt Đức Bổn Sư.
Thấy chư Tăng ấy, Ngài phán hỏi: “Nầy các Tỳ khưu, các ông đến đây có việc chi cần yếu? Các ông ví được một Tỳ khưu phải không?”.
- Vâng, bạch Ngài, ông Sư nầy bất mãn bỏ chạy đi. Chúng con bắt lại, dắt đến cho Ngài liệu định.
- Nầy Tỳ khưu! Chư Tăng nói vậy có đúng không?
- Bạch Ngài, đúng vậy.
- Nầy Tỳ khưu! Ông làm như thế này có lợi ích chi, chỉ gây tội lỗi nặng nề thì có. Ông há chẳng phải là đứa con trai của một vị Phật tinh cần hay sao? Xuất gia trong giáo pháp của một vị Phật như ta, ông đã không khiến được mọi người nhắc nhở đến ông với một Thánh quả nào? Một bậc Tu Đà Hườn hoặc bậc Tư Đà Hàm, A Na Hàm hay A La Hán ư. Tại sao ông lại tạo nghiệp nặng nề như thế?
- Bạch Ngài, vì con bất mãn.
- Tại sao ông lại bất mãn?
Tỳ khưu Bhāgineyyasaṅgharakkhita đem hết mọi sự trình bày với Đức Bổn Sư, từ lúc mình an cư được hai lá y tắm mưa cho đến lúc đánh quạt lên đầu Sư bá. Thuật hết rồi, Bhāgineyyasaṅgharakkhita bạch rằng: “Bạch Ngài, vì lẽ đó mà con bỏ chạy.”.
Đức Bổn Sư bảo rằng:
- Lại đây, Tỳ khưu đừng lo vớ vẩn. Tâm phàm thì nó hay chạy theo cảnh nào mà nó vừa lòng, dầu cho xa vời mấy cũng vậy. Phải ráng tinh tấn thoát khỏi ràng buộc của tham, sân, si.
Rồi Đức Bổn Sư ngâm tiếp kệ ngôn rằng:
“Dūraṅgamaṃ ekacaraṃ,
Asarīraṃ guhāsayaṃ;
Ye cittaṃ saññamessanti,
Mokkhanti mārabandhanā.”
“Tâm phàm lén lúc âm thầm,
Ra đi biệt tích vắng tăm một mình.
Hang sâu như ẩn dạng hình,
Người nào điều phục tâm bình mới hay.
Vòng Ma đã thoát ra ngoài,
Không còn trăn trối miệt mài trần lao.”
CHÚ GIẢI:
Dūraṅgamaṃ: Đi xa. Thật vậy, dù không có những chỉ tơ mảnh mai như tơ nhện, phát đi tứ hướng đông, tây, nam, bắc để liên lạc với cảnh, nhưng hễ có cảnh vừa lòng, dẫu xa cách mấy, tâm cũng nhận bắt được cho nên gọi là tâm đi xa.
Ekacaraṃ (đi một mình): Không bao giờ có bảy hay tám tâm nhập chung lại một bó, đồng phát sanh trong một sát na. Lúc sanh thì tâm sanh từng cái một, lúc diệt thì tâm cũng diệt từng cái một, cho nên gọi là tâm đi một mình.
Asarīraṃ (vô hình): Tâm thì không có hình ảnh màu sắc chi cả.
Guhā (hang động): Là tứ đại đất, nước, lửa, gió. Nơi đây chỉ cho sắc trái tim (hadayarūpa), là chỗ tâm nương gá và phát sanh.
Ye cittaṃ (người nào): Chỉ những người nam nữ, tại gia hay xuất gia mà giữ không cho Tùy phiền não phát sanh lên được, dứt trừ được phiền não đã phát sanh, vì sự mất trí hay đã lãng quên.
Saññamessanti: Có ý thức giữ được tâm bình thản, không điên đảo rộn ràng.
Mokkhanti mārabandhanā: Được giải thoát khỏi vòng luân hồi trong tam giới, khỏi cái gọi là Ma phược (Mārabandhanā), là tất cả những dây trói buộc của phiền não Ma vương.
Bài kệ vừa dứt, Tỳ khưu Hộ Tăng Điệt chứng đắc Tu Đà Hườn quả. Nhiều vị khác cũng chứng đác Thánh quả, nhất là Sơ quả, kỳ dư thính chúng đều hưởng được sự lợi ích.
Một lá y choàng chửa bán ra,
Mà Sư Điệt đã tính non già!
Mua dê, để giống, gom tiền bạc,
Cưới vợ, sanh con, viếng Bác nhà.
Quạt đó, nhưng quên Thầy tế độ,
Gậy đâu, lại nhớ bạn quần thoa?
Tỉnh rồi mới biết tâm đi lạc,
Đắc quả nhờ nghe pháp Phật Đà.
DỨT TÍCH ĐẠI ĐỨC HỘ TĂNG ĐIỆT
Saṅgharakkhitabhāgineyyattheravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Dūraṅgamanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā sāvatthiyaṃ viharanto saṅgharakkhitaṃ nāma bhikkhuṃ ārabbha kathesi.
Sāvatthiyaṃ kireko kulaputto satthu dhammadesanaṃ sutvā nikkhamitvā pabbajito laddhūpasampado saṅgharakkhitatthero nāma hutvā katipāheneva arahattaṃ pāpuṇi. Tassa kaniṭṭhabhaginī puttaṃ labhitvā therassa nāmaṃ akāsi. So bhāgineyyasaṅgharakkhito nāma hutvā vayappatto therasseva santike pabbajitvā laddhūpasampado aññatarasmiṃ gāmakārāme vassaṃ upagantvā, “ekaṃ sattahatthaṃ, ekaṃ aṭṭhahattha”nti dve vassāvāsikasāṭake labhitvā aṭṭhahatthaṃ “upajjhāyassa me bhavissatī”ti sallakkhetvā “sattahatthaṃ mayhaṃ bhavissatī”ti cintetvā vuṭṭhavasso “upajjhāyaṃ passissāmī”ti āgacchanto antarāmagge piṇḍāya caranto āgantvā there vihāraṃ anāgateyeva vihāraṃ pavisitvā therassa divāṭṭhānaṃ sammajjitvā pādodakaṃ upaṭṭhapetvā āsanaṃ paññapetvā āgamanamaggaṃ olokento nisīdi. Athassāgamanabhāvaṃ disvā paccuggamanaṃ katvā pattacīvaraṃ paṭiggahetvā, “nisīdatha, bhante”ti theraṃ nisīdāpetvā tālavaṇṭaṃ ādāya bījitvā pānīyaṃ datvā pāde dhovitvā taṃ sāṭakaṃ ānetvā pādamūle ṭhapetvā, “bhante, imaṃ paribhuñjathā”ti vatvā bījayamāno aṭṭhāsi.
Atha naṃ thero āha – “saṅgharakkhita, mayhaṃ cīvaraṃ paripuṇṇaṃ, tvameva paribhuñjā”ti. “Bhante, mayā laddhakālato paṭṭhāya ayaṃ tumhākameva sallakkhito, paribhogaṃ karothā”ti. “Hotu, saṅgharakkhita, paripuṇṇaṃ me cīvaraṃ, tvameva paribhuñjā”ti. “Bhante, mā evaṃ karotha, tumhehi paribhutte mayhaṃ mahapphalaṃ bhavissatī”ti. Atha naṃ tassa punappunaṃ kathentassapi thero na icchiyeva.
Evaṃ so bījayamāno ṭhitova cintesi – “ahaṃ therassa gihikāle bhāgineyyo, pabbajitakāle saddhivihāriko, evampi mayā saddhiṃ upajjhāyo paribhogaṃ na kattukāmo. Imasmiṃ mayā saddhiṃ paribhogaṃ akaronte kiṃ me samaṇabhāvena, gihi bhavissāmī”ti. Athassa etadahosi – “dussaṇṭhāpito gharāvāso, kiṃ nu kho katvā gihibhūto jīvissāmī”ti. Tato cintesi – “aṭṭhahatthasāṭakaṃ vikkiṇitvā ekaṃ eḷikaṃ gaṇhissāmi, eḷikā nāma khippaṃ vijāyati, svāhaṃ vijātaṃ vijātaṃ vikkiṇitvā mūlaṃ karissāmi, mūle bahū katvā ekaṃ pajāpatiṃ ānessāmi, sā ekaṃ puttaṃ vijāyissati. Athassa mama mātulassa nāmaṃ katvā cūḷayānake nisīdāpetvā mama puttañca bhariyañca ādāya mātulaṃ vandituṃ āgamissāmi, āgacchante antarāmagge mama bhariyaṃ evaṃ vakkhāmi – ‘ānehi tāva me puttaṃ vahissāmina’nti. Sā ‘kiṃ te puttena, ehi, imaṃ yānakaṃ pājehī’ti vatvā puttaṃ gahetvā, ‘ahaṃ nessāmi na’nti netvā sandhāretuṃ asakkontī cakkapathe chaḍḍessati. Athassa sarīraṃ abhiruhitvā cakkaṃ gamissati, atha naṃ ‘tvaṃ mama puttaṃ neva mayhaṃ adāsi, naṃ sandhāretuṃ nāsakkhi nāsitosmi tayā’ti vatvā patodayaṭṭhiyā piṭṭhiyaṃ paharissāmī”ti.
So evaṃ cintentova ṭhatvā bījayamāno therassa sīse tālavaṇṭena pahari. Thero “kiṃ nu kho ahaṃ saṅgharakkhitena sīse pahato”ti upadhārento tena cintitacintitaṃ sabbaṃ ñatvā, “saṅgharakkhita, mātugāmassa pahāraṃ dātuṃ nāsakkhi, ko ettha mahallakattherassa doso”ti āha. So “aho naṭṭhomhi, ñātaṃ kira me upajjhāyena cintitacintitaṃ, kiṃ me samaṇabhāvenā”ti tālavaṇṭaṃ chaḍḍetvā palāyituṃ āraddho.
Atha naṃ daharā ca sāmaṇerā ca anubandhitvā ādāya satthu santikaṃ agamaṃsu. Satthā te bhikkhū disvāva “kiṃ, bhikkhave, āgatattha, eko vo bhikkhu laddho”ti pucchi. “Āma, bhante, imaṃ daharaṃ ukkaṇṭhitvā palāyantaṃ gahetvā tumhākaṃ santikaṃ āgatamhā”ti. “Evaṃ kira bhikkhū”ti? “Āma, bhante”ti. “Kimatthaṃ te bhikkhu evaṃ bhāriyaṃ kammaṃ kataṃ, nanu tvaṃ āraddhavīriyassa ekassa buddhassa putto, mādisassa nāma buddhassa sāsane pabbajitvā attānaṃ dametvā sotāpannoti vā sakadāgāmīti vā anāgāmīti vā arahāti vā vadāpetuṃ nāsakkhi, kimatthaṃ evaṃ bhāriyaṃ kammamakāsī”ti? “Ukkaṇṭhitosmi, bhante”ti. “Kiṃ kāraṇā ukkaṇṭhitosī”ti? So evaṃ vassāvāsikasāṭakānaṃ laddhadivasato paṭṭhāya yāva therassa tālavaṇṭena pahārā sabbaṃ taṃ pavattiṃ ārocetvā, “iminā kāraṇena palātosmi, bhante”ti āha. Atha naṃ satthā “ehi bhikkhu, mā cintayi cittaṃ nāmetaṃ dūre hontampi ārammaṇaṃ sampaṭicchanakajātikaṃ, rāgadosamohabandhanā muccanatthāya vāyamituṃ vaṭṭatī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Dūraṅgamaṃ ekacaraṃ, asarīraṃ guhāsayaṃ;
Ye cittaṃ saṃyamessanti, mokkhanti mārabandhanā”ti.
Tattha dūraṅgamanti cittassa hi makkaṭasuttamattakampi puratthimādidisābhāgena gamanāgamanaṃ nāma natthi, dūre santampi pana ārammaṇaṃ sampaṭicchatīti dūraṅgamaṃ nāma jātaṃ. Sattaṭṭhacittāni pana ekato kaṇṇikabaddhāni ekakkhaṇe uppajjituṃ samatthāni nāma natthi. Uppattikāle ekekameva cittaṃ uppajjati, tasmiṃ niruddhe puna ekekameva uppajjatīti ekacaraṃ nāma jātaṃ. Cittassa sarīrasaṇṭhānaṃ vā nīlādippakāro vaṇṇabhedo vā natthīti asarīraṃ nāma jātaṃ. Guhā nāma catumahābhūtaguhā, idañca hadayarūpaṃ nissāya pavattatīti guhāsayaṃ nāma jātaṃ. Ye cittanti ye keci purisā vā itthiyo vā gahaṭṭhā vā pabbajitā vā anuppajjanakakilesassa uppajjituṃ adentā satisammosena uppannakilesaṃ pajahantā cittaṃ saṃyamessanti saṃyataṃ avikkhittaṃ karissanti. Mokkhanti mārabandhanāti sabbete kilesabandhanābhāvena mārabandhanasaṅkhātā tebhūmakavaṭṭā muccissantīti.
Desanāpariyosāne bhāgineyyasaṅgharakkhitatthero sotāpattiphalaṃ pāpuṇi, aññepi bahū sotāpannādayo jātā, mahājanassa sātthikā dhammadesanā ahosīti.
Saṅgharakkhitabhāgineyyattheravatthu catutthaṃ.
III. 4. Nephew Saṅgharakkhita
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
37. Thoughts wander afar, wander alone, are bodiless, seek a hiding place;
Whoso restrain their thoughts will obtain release from the bond of Māra.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Sāvatthi with reference to Saṅgharakkhita.
The story goes that a certain youth of respectable family living at Sāvatthi, after hearing a sermon of the Teacher, retired from the world, was received into the Order, made his full profession, and in but a few days attained Arahatship. He was known as Elder Saṅgharakkhita. When his youngest sister gave birth to a son, she named him after the Elder, and thus he came to be known as Nephew Saṅgharakkhita. When Nephew Saṅgharakkhita came of age, he entered the Order under the Elder, and after making his full profession, entered upon residence for the period of the rains at a certain village monastery. Receiving two sets of robes such as are worn by monks during the period of the rains, one seven cubits long, the other eight cubits long, he decided to present the robe eight cubits long to his preceptor and to keep the robe seven cubits long for himself. When he had completed residence, he set out for the purpose of seeing his preceptor and journeyed from place to place, receiving alms by the way.
He arrived at the monastery before the Elder arrived. Entering the monastery, he swept the Elder’s day-quarters, set out water for bathing the feet, prepared a seat, and then sat down, watching the road by which the Elder would approach. When he saw the Elder approach, he advanced to meet him, took his bowl and robe, seated the Elder with the words, “Pray be seated, Reverend Sir,” took a palm-leaf fan and fanned him, gave him water to drink, and bathed his feet. Finally he brought forth the robe, laid it at the Elder’s feet, and said, “Reverend Sir, pray wear this robe.” Having so done, he resumed fanning him. Said the Elder to the nephew, “Saṅgharakkhita, I have a complete set of robes; you wear this robe yourself.” “Reverend Sir, from the moment I received this robe I set my heart on giving it to you alone. Pray make use of it.” “Never mind, Saṅgharakkhita, my set of robes is complete; you wear this robe yourself.” “Reverend Sir, pray do not refuse the robe, for if you wear it, great will be the fruit I shall receive thereby.”
Although the younger monk repeated his request several times, the Elder refused to accept the present of the robe. So, as the younger monk stood there fanning the Elder, he thought to himself, “While the Elder was a layman, I stood in the relation of nephew to him. Since he has been a monk, I have been his fellow-resident. But in spite of this he is not willing as my preceptor to share my possessions. If he is not willing to share my possessions with me, why should I longer remain a monk? I will become a householder once more.” Then the following thought occurred to him, “It is a hard thing to live the house-life. Suppose I become a householder once more; how shall I gain a living?” Finally the following thought occurred to him,
“I will sell this robe eight cubits long and buy me a she-goat. Now she-goats are very prolific, and as fast as the she-goat brings forth young, I will sell them, and in this way accumulate some capital. As soon as I have accumulated some capital, I will fetch me a wife. My wife will bear me a son, and I will name him after my uncle. I will put my son in a go-cart, and taking son and wife with me, will go to pay my respects to my uncle. As I journey by the way, I will say to my wife, ‘Just bring me my son; I wish to carry him.’ She will reply, ‘Why should you carry this boy? Come, push this go-cart.’ So saying, she will take the boy in her arms, thinking to herself, ‘I will carry him myself.’ But lacking the necessary strength to carry him, she will let him fall in the path of the wheels, and the go-cart will run over him. Then I will say to her, ‘You would not even give me my own son to carry, although you were not strong enough to carry him yourself. You have ruined me.’ So saying, I will bring down my stick on her back.”
Thus pondered the younger monk as he stood fanning the Elder. As he concluded his reflections, he swung his palm-leaf fan and brought it down on the head of the Elder. The Elder considered within himself, “Why did Saṅgharakkhita strike me on the head?” Immediately becoming aware of every single thought that had passed through the mind of his nephew, he said to him, “Saṅgharakkhita, you did not succeed in hitting the woman; but what has an old Elder done to deserve a beating?” The younger monk thought to himself, “Oh, I am ruined! My preceptor, it appears, knows every thought that has passed through my mind. What have I to do with the life of a monk any longer?” Straightway he threw his fan away and started to run off. But the probationers and novices ran after him, caught him, and led him to the Teacher.
When the Teacher saw those monks, he asked them, “Monks, why have you come here? Have you captured a monk?” “Yes, Reverend Sir. This probationer became discontented and ran away, but we captured him and have brought him to you.” “Monk, is what they say true?” “Yes, Reverend Sir.” “Monk, why did you commit so grievous a fault? Are you not the son of a Buddha the powers of whose will are ever active? And once having retired from the world in the Religion of a Buddha like me, though you failed through self-conquest to win for yourself the title of one who has attained the Fruit of Conversion or the Fruit of the Second Path or the Fruit of the Third Path or Arahatship, yet for all that, why did you commit so grievous a fault as this?”
“I am discontented, Reverend Sir.” “Why are you discontented?” In reply the younger monk related the whole story of his experiences, from the day he received the robes worn by monks in residence to the moment when he struck the Elder on the head with his palm-leaf fan. “Reverend Sir,” said he, “that is why I ran away.” Said the Teacher, “Come, monk; be not disturbed. The mind has a way of dwelling on subjects that are far off. One should strive to free it from the bonds of Lust, Hatred, and Delusion.” So saying, he pronounced the following Stanza,
37. Thoughts wander afar, wander alone, are bodiless, seek a hiding place;
Whoso restrain their thoughts will obtain release from the bond of Māra.
- Text: N i. 300-305.
- Cf. Panchatantra: Pūrṇabhadra’s recension, v. vii; Tantrākhyāyika, v. i.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.