Tích Đại Đức Thiện Pháp
Cittagahapativatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 73–74 Kinh Pháp Cú, phẩm Ngu, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 73 – 74)
73. “Asantaṃ bhāvanamiccheyya
Purekkhārañ ca bhikkhusu;
Āvāsesu ca issariyaṃ,
Pūjā parakulesu ca.”
“Ham danh không tương xứng,
Chức vị Tỳ khưu trưởng,
Quyền hành tại chùa chiền,
Lễ vật ngoại nhân cúng.”“
74. Mam’eva kata maññantu,
Gihī pabbajitā ubho;
Mam’eva ativasā assu,
Kiccākiccesu kismici;
Iti bālassa saṅkappo,
Icchā māno ca vaḍḍhati.”
“Mỗi việc chính ta làm,
Tăng tục cả hai ban,
Phải tùy ta sắp đặt,
Từng chi tiết nhỏ nhặt,
Người ngu chỉ bao hàm,
Càng ngã mạn tham lam.”
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài an cự tại Jetavana, đề cập đến Đại đức Thiện Pháp (Sudhamma) và một cận sự nam. Chuyện ấy phát khởi từ thành Macchikāsaṇḍa (Mạc Thi Ca), về sau chấm dứt tại thành Sāvatthī (Xá Vệ).
Quả thật, trong thành Macchikāsaṇḍa (Mạc Thi Ca), có vị cư sĩ tên là Citta (Hữu Tâm), khi trông thấy Đại đức Mahānāma, thuộc nhóm năm vị Kiều Trần Như, đang trì bình khất thực, tướng mạo trang nghiêm thì sanh lòng tín ngưỡng, bèn ra rước bát và thỉnh Đại đức vào nhà để cúng dường thực phẩm.
Sau khi Đại đức thọ thực xong, ông được Đại đức thuyết pháp cho nghe, khiến ông đắc quả Tu Đà Hườn. Với đức tin kiên cố, ông muốn kiến tạo một ngôi vườn du ngoạn của mình, mệnh danh là Ambāṇakavana, thành một cảnh Già Lam của Đại đức Tăng, nên ông làm lễ dâng cúng ngôi vườn bằng cách xối nước lên tay của Đại đức Mahānāma và phát nguyện rằng: “Ngay trong sát na nầy, xin cho Phật Pháp được thành tựu.”. Nước xối vừa hết thì khắp mặt địa cầu đều chuyển động.
Tiếp theo đó, nhà đại gia sản lo sửa sang ngôi vườn, lập nên ngôi đạo tràng đại tự, là nơi lúc nào cũng mở rộng cửa ngõ mà đón tiếp khách Tăng tứ phương. Đại đức Sudhamma được cử làm vị trụ trì ở xứ Macchikāsaṇḍa.
Khi hay tin hai vị Thượng Thinh Văn của Đức Thế Tôn đi gần đến, ông Citta ra đi một quảng đường xa nửa do tuần để nghinh tiếp và đưa Ngài về chùa mình. Lo phục dịch cho hai vị khách Tăng, tẩy trần và dâng nước giải lao xong, ông ngỏ lời xin Đức Pháp Chủ (Dhammasenāpati):
- Bạch Ngài, con ao ước được nghe thuyết pháp đã lâu. Xin Ngài từ bi hoan hỷ ban bố cho con một vài lời.
- Khi ấy, Đại đức Sārīputta đáp:
- Nầy ông thiện nam, chư Tăng chúng tôi còn mệt mỏi vì đi đường xa, nên chỉ thuyết chút ít thôi. Vậy ông hãy rán nghe.
Trong lúc vị Pháp chủ thuyết pháp, ông Citta chú ý lắng nghe và đắc quả A Na Hàm.
Đến cuối thời pháp, ông đảnh lễ hai vị Thượng Thinh Văn:
- Bạch hai Ngài, con xin cung thỉnh hai Ngài cùng với một ngàn vị Tỳ khưu, ngày mai đến thọ thực nơi nhà con.
Thỉnh những khách Tăng trước rồi, sau đó ông Citta mới thỉnh đến vị trụ trì là Đại đức Sudhamma: “Bạch Ngài, con cũng xin thỉnh Ngài, ngày mai đi chung với hai Ngài Đại đức.”.
Cho rằng mình bị mất mặt vì được thỉnh sau các vị khách Tăng, vị trụ trì nổi giận khước từ ngay. Mặc dầu thí chủ van nài khẩn khoản, Đại đức cũng không đổi ý.
Thấy vậy, ông thiện nam Citta đành ra về với lời từ giã:
- Bạch Ngài, xin Ngài thông cảm giùm con.
Ngày hôm sau, ông Citta ở nhà lo sắp đặt cuộc lễ Trai Tăng rất long trọng.
Từ mờ mờ đất, vị trụ trì ở chùa cũng không ngồi yên, nghĩ thầm rằng: “Để sáng mai ta đến nhà thí chủ coi ông ta cúng dường hai vị Thượng Thinh Văn những lễ vật thế nào cho biết.”.
Chờ khi trời sáng tỏ, Đại đức Sudhamma đắp y mang bát, đi đến nhà Citta, nhưng không chịu ngồi. Mặc dầu gia chủ có lời cầu thỉnh, Đại đức nói rằng: “Ta không ngồi đâu, ta sẽ đi trì bình khất thực.”.
Nói rồi, Đại đức đưa mắt nhìn xem những lễ vật sắp đem cúng dường đến hai vị Thượng Thinh Văn, cố ý muốn xúc phạm đến dòng dõi gia chủ, mới bảo rằng:
- Nầy gia chủ, những lễ vật cúng dường của ông trọng thể quá, nhưng hiềm vì còn thiếu một món.
- Bạch Ngài, còn thiếu món chi.
- Bánh mè (Tilasaṅkulikā), gia chủ ạ.
Nghe lời châm chích khiếm nhã, ông Citta thuật chuyện ngụ ngôn “Con quạ và con gà mái”, có ý khuyên vị trụ trì thốt ra những lời đạo đức như Phật ngôn chẳng hạn, chớ đừng dùng những tiếng lóng như tiếng “bánh mè”.
Đại đức Sudhamma bất mãn còn nóng nảy thêm, vì đổ lỗi cho ông cư sĩ, dám so sánh mình với con quạ: “Nầy, gia chủ, Ta sẽ ra khỏi đất chùa của ông liền bây giờ đây.”.
Mặc dầu ông Citta hết sức phân trần là mình không dám nói phạm thượng và yêu cầu Đại đức Sudhamma đến ba lượt, Đại đức cũng bỏ chùa, đi về Sāvatthī đảnh lễ Đức Bổn Sư và tường trình cuộc đấu khẩu giữa Đại đức và ông Citta.
Đức Bổn Sư phán rằng: “Cận sự nam của ông là người có đức tin trong sạch, mà ông lại thô lỗ cộc cằn miệt thị người ta.”. Phán rồi, Đức Bổn Sư triệu tập Tăng chúng, dạy tụng tuyên ngôn khuyến cáo, nhắc nhở (paṭisāranīyakammaṃ) Đại đức Sudhamma (bài tuyên ngôn bằng Pāḷi có ghi trong Tạng Luật, quyển thứ 9, chương 134).
Sau khi sám hối giữa chư Tăng, Đại đức còn phải vâng lời Đức Bổn Sư trở về chùa để chịu lỗi với ông Citta nữa.
Về chỗ cũ, đến giáp mặt ông thiện nam Citta, Đại đức nói:
- Nầy gia chủ, ta đã biết lỗi, người hãy miễn lỗi cho ta.
Nhưng gia chủ Citta từ chối không chịu tha thứ, nói rằng:
- Con không thể tha thứ.
Đại đức Sudhamma ngỡ ngàng quá, không mở miệng được, vì nhớ lại chuyện mình đã cương quyết bác bỏ lời thỉnh cầu của ông ta. Đại đức làm thinh quay về Sāvatthī một lần nữa.
Vẫn biết vị Tỳ khưu nầy cống cao ngã mạn, nhứt định không chịu lỗi với thiện nam, thà là đi suốt quãng đường xa ba mươi do tuần rồi trở về không, nên Đức Bổn Sư cứ để cho đi mà không chỉ dạy cách thức xin lỗi làm sao cả.
Khi Đại đức trở về Jetavana, Đức Bổn Sư phái một Tỳ khưu khác cùng đi với Đại đức để giúp cho Đại đức tự thắng được tánh ngã mạn và dạy rằng:
- Ông hãy đi chung với ông nầy đi xin lỗi ông thiện nam.
Đức Bổn Sư còn nhấn mạnh thêm rằng:
- Hễ là Sa môn thì không nên nghĩ quấy như vầy:
Chùa của ta, đạo tràng của ta, thiện nam của ta, tín nữ của ta hoặc lộ vẻ kiêu căng, tật đố. Vì làm như thế thì các thứ phiền não, nhất là tật đố và ngã mạn tự nhiên tăng trưởng thêm lên.
Kết luận xong, Đức Bổn Sư thuyết pháp, đoạn Ngài chấm dứt bằng kệ ngôn rằng:
73. “Asantaṃ bhāvanamiccheyya
Purekkhārañ ca bhikkhusu;
Āvāsesu ca issariyaṃ,
Pūjā parakulesu ca.”
“Ham danh không xứng đức tài,
Chức vị Sư trưởng quyền oai nhất chùa.
Gồm thâu đệ tử tín đồ,
Lễ vật dâng cúng dư thừa cũng cam.”
74. “Mam’eva kata maññantu,
Gihī pabbajitā ubho;
Mam’eva ativasā assu,
Kiccākiccesu kismici;
Iti bālassa saṅkappo,
Icchā māno ca vaḍḍhati.”
“Việc nầy do chính ta làm,
Việc lớn, việc nhỏ bao hàm tự ta…
Người ngu cứ tưởng sai ngoa,
Muốn cho Tăng tục biết qua việc mình.
Nên lòng ngạo mạn phát sinh,
Lòng tham lam cũng mặc tình gia tăng.”
CHÚ GIẢI:
Asantaṃ…: (Là danh không xứng): Nghĩa là Tỳ khưu ngu dốt lại ham muốn danh vọng mà mình không xứng đáng vì thật không có tài đức, ví dụ mình không có chánh tín mà tuyên bố: Tôi là người có chánh tín và muốn cho ai nấy cũng nhìn nhận mình là người có chánh tín. Do tà dục, người ngu nói ra những lời tương tự như vậy, chẳng hạn mình là người tà tín, phá giới, ít kiến văn, không thích độc cư, biếng nhác, tâm bất định, trí tuệ kém, chưa dứt trừ lậu hoặc mà vẫn tuyên bố: “Hãy biết rằng tôi là người ai cũng tán dương: Đây là bậc chánh tín, bậc giới đức, bậc đa văn, bậc độc cư, bậc tinh tấn, bậc có tâm thanh tịnh, có đầy đủ trí tuệ, là bậc Lậu Tận.”. Như vậy gọi là ham danh không xứng đáng.
Purekkhāraṃ: Chức vị Tỳ khưu trưởng (dẫn đầu cả nhóm), nghĩa là ham muốn chỗ ngồi trên trước cả đoàn Tỳ khưu trong chùa, để Tăng chúng hộ tống mình và bẩm bạch hỏi han mọi công việc.
Āvāsesu: (Quyền hành tại chùa chiền, nơi đạo tràng): Là trong chỗ ngụ của Tăng chúng, như ở giữa vườn chùa có chỗ ngồi cao sang thì mình dành riêng cho các Tỳ khưu bạn mới bạn cũ của mình. Chính mình chiếm địa điểm quí báu nhất. Còn đối với các khách Tăng thì chỉ định những chỗ ngụ dơ bẩn, bất tiện, ở bên ranh vườn chùa và chỗ có phi nhơn giữ gìn. Như vậy là muốn chiếm độc quyền về chỗ ngự trong chùa.
Pūjā parakulesu ca: (Lễ vật ngoại nhân cúng): Tỳ khưu có tâm tham tứ vật dụng của tín thí cúng dường, muốn rằng: “Cha, phải chi họ chỉ dưng đến một mình ta, chớ đừng dưng cho ai khác hết.”.
Mam’eva kata maññantu, gihī pabbajitā ubho: (Mọi việc chính ta làm, Tăng tục cả hai ban): Người ngu hằng tư duy, tự lập công trạng như vầy: Tất cả hai bên Cư sĩ và Xuất gia phải biết rằng: Bất cứ việc chi lớn nhỏ trong chùa từ việc quét tước, sắp đặt trong chỗ Tăng phát lộ cho đến việc kiến thiết những cơ sở mới đều do Đại đức của ta đứng ra chỉ huy mới thành tựu, mới kết quả mỹ mãn.
Mam’eva ativasā assu, kiccākiccesu kismici: (Phải tùy theo ta sắp đặt, từng chi tiết nhỏ nhặt.) Người ngu tư duy như vầy: Tất cả hai hạng Cư sĩ và Xuất gia đều nhờ quyền lực ảnh hưởng của ta mới có được nào là xe cộ, bò bê, dao mác, búa rìu. Dầu là việc nhỏ nhen như việc nấu cháo ăn sáng, tất cả mọi công việc lớn nhỏ phải làm cách nào đều phải hỏi lại ta để ta định đoạt.
Iti bālassa saṅkappo, icchā māno ca vaḍḍhati: (Người ngu nghĩ như vậy, càng ngã mạn tham lam). Khi tà tư duy đã phát sanh lên như vậy thì không bao giờ có được Tuệ minh sát hay là Đạo quả tăng tiến được nữa. Trái lại, ái dục (taṇhā) sẽ dấy lên theo sáu cửa và đồng tăng trưởng với tâm ngã mạn như toàn thể nước thủy triều dưng lên trong dục hải.
Khi thời pháp chấm dứt, nhiều vị Tỳ khưu chứng đắc Thánh quả, nhứt là Dự Lưu.
Đại đức Sudhamma nghe Đức Thế Tôn ban huấn từ xong, đảnh lễ Ngài, rời khỏi chỗ ngồi, đứng lên nhiễu quanh Ngài ba vòng, đoạn cùng vị Tỳ khưu bạn lên đường đi Macchikāsaṇḍa.
Vừa trông thấy ông thiện nam Citta, Đại đức đã lên tiếng chịu lỗi và xin ông miễn thứ. Ông Citta đáp:
- Bạch Ngài, con xin miễn lỗi cho Ngài. Nếu con có lỗi chi, xin Ngài tha thứ cho con.
Sau khi sám hối với ông thiện nam, Đại đức Sudhamma lấy huấn từ của Đức Bổn Sư làm đề tài suy niệm và ngày sau Đại đức đã giác ngộ đắc ngay quả A La Hán với Tuệ phân tích.
Còn ông thiện nam nghĩ thầm: “Từ lúc đắc quả Tu Đà Hườn ta chưa gặp được Đức Bổn Sư, kế đến đắc quả A Na Hàm ta cũng chưa gặp được Ngài. Vậy ta phải đến bái yết Ngài mới được.”.
Thế rồi, ông Citta chuẩn bị lễ vật cúng dường như là gạo, mè, đường, sữa, khăn… chất đầy năm trăm cỗ xe bò. Ông thỉnh chư Tăng vị nào muốn đến bái yết Đức Bổn Sư thì nên đi chung đoàn, khỏi lo đi bát cực nhọc. Ông thỉnh Tỳ khưu Tăng, Ni, và luôn cả cận sự nam, nữ nữa.
Thành ra tất cả năm trăm Tỳ khưu, năm trăm Tỳ khưu ni, năm trăm Thiện nam và năm trăm Tín nữ nữa, vầy đoàn cùng đi với ông Citta cùng với ba ngàn tùy tùng của ông. Với con số của đoàn lữ hành cùng với con đường dài ba mươi do tuần đông đảo như thế, mà ông lo lắng sắp đặt mọi việc rất chu đáo, không để cho ai phải thiếu cơm, vật thực chi hết.
Khi hay đoàn hành hương đã lên đường, chư Thiên lập trại cách khoảng đường từng mỗi do tuần một, để khoản đãi đại chúng bằng những vật thực như cháo, cơm, bánh, nước… của cõi Trời. Do đó, không ai thiếu thốn món chi cả.
Được chư Thiên đón đưa như thế, đoàn hành hương đi mỗi ngày được một do tuần. Đúng một tháng họ mới đến kinh thành Sāvatthī. Số đồ vật đem theo còn đầy nguyên trên năm trăm cỗ xe bò, chư Thiên và nhân loại đồng dốc tay cho hết tặng phẩm rồi mới từ biệt.
Hôm ấy, Đức Bổn Sư bảo Đại đức Ānanda: “Nầy Ānanda, chiều nay, khi bóng xế tà, gia chủ Citta dắt theo năm trăm Thiện nam, sẽ đến đảnh lễ Như Lai.”.
- Bạch Ngài, trong lúc ông đảnh lễ Ngài, sẽ có hiện tượng huyền diệu chi chăng?
- Nầy Ānanda, sẽ có.
- Lúc đảnh lễ Như Lai, thì khắp một vùng vương thổ rộng độ tám sào, sẽ có chư Thiên làm mưa hoa dày đặc rơi xuống, bề cao ngập lút đầu gối.
Kim ngôn nầy được dân chúng trong thành nghe được, họ truyền tin cho nhau: “Nghe nói có một gia trưởng tên là Citta, là bậc đại phước sẽ đến đây hôm nay để đảnh lễ Đức Bổn Sư. Nghe nói sẽ có hiện tượng huyền diệu như vầy. Chúng ta cũng nên đi xem cho biết mặt nhà đại phúc ấy.”. Thiên hạ mang theo quà biếu, ra đứng chờ hai bên lề đường.
Khi đến gần chùa Jetavana, năm trăm vị Tỳ khưu vào trước nhứt, gia trưởng Citta dặn đoàn Tín nữ: “Quí bà quí cô hãy rán chờ vào sau.”, rồi tự mình dắt cả đoàn năm trăm thiện nam đi đến chỗ Đức Bổn Sư đang ngự.
(Theo lệ thường, ngay trước mặt Đức Thế Tôn không có ai dám đứng hoặc ngồi hay làm cái chi khác, luôn luôn người ta chừa trống con đường trước mặt Đức Thế Tôn và chỉ đứng thành hàng ở hai bên.)
Thấy chỗ trống rộng rãi, gia trưởng Citta đi ngay vào đó.
Những Thánh Thinh Văn đắc từ Tam quả trở xuống, lấy mắt nhìn nhau, hồi hộp, đại chúng cũng chăm chú nhìn, họ kháo nhau: “Ông ta là gia trưởng Citta phải không?”.
Đến chỗ Đức Thế Tôn đang ngự, ông Citta đi vào trong vòng hào quang sáu màu của Ngài, rồi sụp xuống đảnh lễ và ôm chân của Ngài.
Ngay trong giây phút ấy, hoa trời rơi xuống như mưa. Muôn ngàn tiếng chúc: “Lành thay! Lành thay!” Vang dậy.
Ông Citta lưu lại bên Đức Thế Tôn trong thời gian một tháng. Lúc ấy, mỗi ngày đều có lễ Trai Tăng trong chùa Jetavana, do Thiện tín cúng dường cho toàn thể chư Tỳ khưu Tăng có Đức Phật làm tọa chủ. Ông Citta và đoàn tùy tùng của ông cũng được thiết đãi tại chùa. Không có ngày nào mà ông phải đi lấy vật dụng chi để trên xe bò của ông cả. Chư Thiên trong nhân loại mang tặng phẩm đến Trai Tăng và đảm đang tất cả mọi việc cúng dường.
Đến giáp tháng, ông Citta vào đảnh lễ Đức Bổn Sư và bạch rằng:
- Bạch Ngài, con đến đây với mục đích cúng dường, nhưng con không lấy được món gì trên xe con đem theo mà cúng dường đến Ngài được cả, vì đã có chư Thiên và nhân loại mang lễ vật đến cúng dường suốt một tháng qua. Dầu cho con có nán ở lại đây một năm nữa, nhắm con không có thể dâng cúng lễ vật của con được bao giờ. Nay con định về xứ, xin Ngài chỉ định chỗ nào cho con chất hết đồ đạc trên xe bò xuống, để trở về xe không.
Đức Bổn Sư dạy Đại đức Ānanda: “Nầy Ānanda! Ông hãy chỉ cho ông Thiện nam nầy địa điểm để ông ấy chất đồ trên xe bò xuống, để trở về xe không.”.
Đức Bổn Sư bảo Đại đức Ānanda, Đại đức vâng lịnh, chọn một địa điểm thích nghi, rồi họp Tăng tụng tuyên ngôn, nhìn nhận địa điểm đúng theo Luật (Kappiyabhūmi). Tương truyền rằng: Đức Bổn Sư cho phép chỉ định địa điểm thích hợp là do nơi lời yêu cầu của gia trưởng Citta vậy.
Sau khi dốc hết đồ vật trên xe bò xuống, ông thiện nam Citta cùng với ba ngàn tùy tùng lên đường trở về xứ. Nhưng chư Thiên và nhân loại đồng nói “Thưa Ngài, chẳng lẽ Ngài đi xe không mà về hay sao?”. Nói rồi đồng đem đồ thất bảo làm quà tặng chất đầy các cỗ xe bò.
Ông Citta đích thân đứng ra phân phát bố thí các tặng phẩm cho quần chúng, hết rồi mới đi.
Thấy vậy, Đại đức Ānanda đảnh lễ Đức Bổn Sư và bạch rằng:
- Bạch Ngài, trong lúc gia chủ Citta từ nhà đến yết kiến Ngài, ông đã đi suốt một tháng, và ở đây mãn một tháng ông lại trở về, suốt cả thời gian ấy, ông không ngớt nhận tặng phẩm mỗi ngày. Hôm nay, biết tin ông cúng dường hết tặng phẩm trên xe bò để trở về với xe không, chư Thiên và nhân loại lại dâng rằng: “Thưa Ngài, chẳng lẽ Ngài đi về xe không?”, rồi đem đồ thất bảo làm quà tặng chất đầy các cỗ xe bò cho ông và nghe nói đích thân ông đứng ra bố thí hết tặng phẩm đến đại chúng rồi mới đi. Bạch Ngài, có phải là ông chỉ được danh dự như thế trong khi đến hầu Ngài mà thôi, hay khi đến hầu vị nào khác, ông cũng được như vậy?
- Nầy Ānanda! Dầu là đến với Như Lai hay đến với vị nào khác, danh dự cũng phát sanh lên cho ông thiện nam nầy. Quả thật vậy, vì ông là người có đức tin trong sạch, có đầy đủ giới hạnh. Người như thế đi đến xứ nào cũng được sự tôn kính của mọi người.
Thuyết đến đây, Đức Bổn Sư đọc bài kệ nầy, về sau được xếp vào phẩm Tạp Lục (Pakiṇṇaka vagga).
“Saddho sīlena sampanno
Yaso bhogasamappito;
Yaṃ yaṃ padesaṃ bhajati,
Tattha tattheva pūjitoti.”
“Bậc chánh tín, giới hạnh,
Hữu danh, tài sản Thánh,
Dầu đến ở xứ nào,
Cũng được người tôn kính.”
Nghĩa lý của bài kệ nầy sẽ được giải thích rõ ràng nơi phẩm Tạp Lục.
Nghe vậy, Đại đức Ānanda bạch xin Đức Thế Tôn thuật tiền nghiệp của gia chủ Citta.
Đức Bổn Sư bèn nhắc tích rằng:
“Nầy Ānanda! Citta đã từng phát nguyện dưới chân Đức Phật Padumuttara. Sau khi luân hồi lên xuống trong các cõi trời và người hết một trăm ngàn đại kiếp (kappa), đến thời Đức Phật Kassapa ông thọ sanh vào dòng thợ săn nai (Migaluddaka). Đến tuổi trưởng thành, ông cũng sống về nghề săn bắn.
Một hôm nhằm lúc trời mưa, ông cầm lao đi vào rừng để săn thịt. Đang lúc nhìn kiếm nai, chợt trông thấy vị Tỳ khưu đầu trùm y, đang ngồi sườn núi, ông nghĩ thầm: “Đây chắc là vị Sa môn đang hành Sa môn pháp, ta hãy đem cơm đến dâng cúng Ngài.”.
Ông thợ săn nai hối hả trở về nhà bảo vợ nhóm lò lửa, một lò nấu thịt săn được hôm qua, một lò nấu cơm. Khi ấy, vật thực đã sẵn sàng, ông thấy những Tỳ khưu khác đang đi trì bình khất thực, ông cũng ra thỉnh bát, dọn chỗ mời các vị ngồi, rồi dặn người nhà lo hộ độ các vị Đại đức trì bình, còn mình thì lấy giỏ đựng cơm bát đem đi. Dọc đường, ông hái nhiều thứ hoa đậy trên nắp bát rồi đi ngay đến chỗ vị Đại đức đang tịnh tọa.
- Bạch Ngài, xin Ngài từ bi tế độ cho con.
Nói rồi, ông rước lấy bát, sớt đầy cơm canh xong, dâng hai tay đến Đại đức và cúng dường luôn những hoa tươi mới hái.
Khi ấy, ông phát nguyện rằng: “Do tâm con thỏa thích trong khi cúng dường bát cơm ngon lành cùng với những đóa hoa tươi đẹp như vầy như thế nào, xin cho con tái sanh lên cõi nào, bất cứ nơi đâu cũng được hằng ngàn quà tặng đem đến cho con và có mưa hoa ngũ sắc trên trời rơi xuống, làm cho tâm con thỏa thích cũng như thế ấy.”. Nhờ tạo thiện nghiệp suốt đời, đến lúc hết tuổi thọ ông được siêu sanh lên Thiên giới. Nơi ông sanh ra, có hoa trời mưa xuống, cao tới đầu gối. Bây giờ cũng như ngày ông chào đời, lúc ông đến nơi đây, ông được hoa trời rơi xuống đón mừng, được vô số tặng phẩm đem đến biếu và được bảy vật báu chất đầy xe bò như thế, là do nơi quả phước cúng dường của tiền nghiệp ấy vậy.”.
Vì chút si mê muốn đứng đầu,
Trụ trì Thiện Pháp nặng lo âu,
Danh cao chẳng trọn, công đành bỏ,
Chức lớn không toàn, lợi miễn thâu.
Trách kẻ hữu tâm, lời nhã nhặn,
Quên mình vô ý, tánh câu mâu,
Nhờ kinh Pháp Cú, thầy khuyên dứt,
Diệt ngã hành thâm đắc đạo mầu.
DỨT TÍCH ĐẠI ĐỨC THIỆN PHÁP
Cittagahapativatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Asantaṃ bhāvanamiccheyyāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto sudhammattheraṃ ārabbha kathesi. Desanā macchikāsaṇḍe samuṭṭhāya sāvatthiyaṃ niṭṭhitā.
Macchikāsaṇḍanagarasmiñhi citto nāma gahapati pañcavaggiyānaṃ abbhantaraṃ mahānāmattheraṃ nāma piṇḍāya caramānaṃ disvā tassa iriyāpathe pasīditvā pattaṃ ādāya gehaṃ pavesetvā bhojetvā bhattakiccāvasāne dhammakathaṃ suṇanto sotāpattiphalaṃ patvā acalasaddho hutvā ambāṭakavanaṃ nāma attano uyyānaṃ saṅghārāmaṃ kattukāmo therassa hatthe udakaṃ pātetvā niyyādesi. Tasmiṃ khaṇe “patiṭṭhitaṃ buddhasāsana”nti udakapariyantaṃ katvā mahāpathavī kampi. Mahāseṭṭhi uyyāne mahāvihāraṃ kāretvā sabbadisāhi āgatānaṃ bhikkhūnaṃ vivaṭadvāro ahosi. Macchikāsaṇḍe sudhammatthero nāma nevāsiko ahosi.
Aparena samayena cittassa guṇakathaṃ sutvā dve aggasāvakā tassa saṅgahaṃ kattukāmā macchikāsaṇḍaṃ agamaṃsu. Citto gahapati tesaṃ āgamanaṃ sutvā aḍḍhayojanamaggaṃ paccuggantvā te ādāya attano vihāraṃ pavesetvā āgantukavattaṃ katvā, “bhante, thokaṃ dhammakathaṃ sotukāmomhī”ti dhammasenāpatiṃ yāci. Atha naṃ thero, “upāsaka, addhānena āgatāmhā kilantarūpā. Apica thokaṃ suṇāhī”ti tassa dhammaṃ kathesi. So therassa dhammaṃ suṇantova anāgāmiphalaṃ pāpuṇi. So dve aggasāvake vanditvā, “bhante, sve bhikkhusahassena saddhiṃ mama gehe bhikkhaṃ gaṇhathā”ti nimantetvā pacchā nevāsikaṃ sudhammattheraṃ “tumhepi, bhante, sve therehi saddhiṃ āgaccheyyāthā”ti nimantesi. So “ayaṃ maṃ pacchā nimantetī”ti kuddho paṭikkhipitvā punappunaṃ yāciyamānopi paṭikkhipi eva. Upāsako “paññāyissatha, bhante”ti pakkamitvā punadivase attano nivesane mahādānaṃ sajjesi. Sudhammattheropi paccūsakāleyeva “kīdiso nu kho gahapatinā aggasāvakānaṃ sakkāro sajjito, sve gantvā passissāmī”ti cintetvā pātova pattacīvaraṃ ādāya tassa gehaṃ agamāsi.
So gahapatinā “nisīdatha, bhante”ti vuccamānopi “nāhaṃ nisīdāmi, piṇḍāya carissāmī”ti vatvā aggasāvakānaṃ paṭiyāditaṃ sakkāraṃ oloketvā gahapatiṃ jātiyā ghaṭṭetukāmo “uḷāro te, gahapati, sakkāro, apicettha ekaññeva natthī”ti āha. “Kiṃ, bhante”ti? “Tilasaṃguḷikā, gahapatī”ti vatvā gahapatinā kākopamāya apasādito kujjhitvā “eso te, gahapati, āvāso, pakkamissāmaha”nti vatvā yāvatatiyaṃ vāriyamānopi pakkamitvā satthu santikaṃ gantvā cittena ca attanā ca vuttavacanaṃ ārocesi. Satthā “tayā upāsako saddho pasanno hīnena khuṃsito”ti tasseva dosaṃ āropetvā paṭisāraṇīyakammaṃ kārāpetvā “gaccha, cittagahapatiṃ khamāpehī”ti pesesi. So tattha gantvā, “gahapati, mayhameva so doso, khamāhi me”ti vatvāpi “nāhaṃ khamāmī”ti tena paṭikkhitto maṅkubhūto taṃ khamāpetuṃ nāsakkhi. Punadeva satthu santikaṃ paccāgamāsi. Satthā “nāssa upāsako khamissatī”ti jānantopi “mānathaddho esa, tiṃsayojanaṃ tāva maggaṃ gantvā paccāgacchatū”ti khamanūpāyaṃ anācikkhitvāva uyyojesi. Athassa punāgatakāle nihatamānassa anudūtaṃ datvā “gaccha, iminā saddhiṃ gantvā upāsakaṃ khamāpehī”ti vatvā “samaṇena nāma ‘mayhaṃ vihāro, mayhaṃ nivāsaṭṭhānaṃ, mayhaṃ upāsako, mayhaṃ upāsikā’ti mānaṃ vā issaṃ vā kātuṃ na vaṭṭati. Evaṃ karontassa hi icchāmānādayo kilesā vaḍḍhantī”ti anusandhiṃ ghaṭṭetvā dhammaṃ desento imā gāthā abhāsi –
“Asantaṃ bhāvanamiccheyya, purekkhārañca bhikkhusu;
Āvāsesu issariyaṃ, pūjā parakulesu ca.
“Mameva kata maññantu, gihī pabbajitā ubho.
Mamevātivasā assu, kiccākiccesu kismici;
Iti bālassa saṅkappo, icchā māno ca vaḍḍhatī”ti.
Tattha asantanti yo bālo bhikkhu avijjamānaṃ sambhāvanaṃ iccheyya, “assaddhova samāno ‘saddhoti maṃ jano jānātū’ti icchatī”ti. Pāpicchatāniddese (vibha. 851) vuttanayeneva bālo “asaddho dussīlo appassuto appavivitto kusīto anupaṭṭhitassati asamāhito duppañño akhīṇāsavova samāno ‘aho vata maṃ jano ayaṃ saddho, sīlavā, bahussuto, pavivitto, āraddhavīriyo, upaṭṭhitassati, samāhito, paññavā, khīṇāsavo’ti jāneyyā”ti idaṃ asantasambhāvanaṃ icchati. Purekkhāranti parivāraṃ. “Aho vata maṃ sakalavihāre bhikkhū parivāretvā pañhaṃ pucchantā vihareyyu”nti evaṃ icchācāre ṭhatvā purekkhārañca bhikkhūsu icchati. Āvāsesūti saṅghikesu ca āvāsesu yāni vihāramajjhe paṇītasenāsanāni, tāni attano sandiṭṭhasambhattādīnaṃ bhikkhūnaṃ “tumhe idha vasathā”ti vicārento sayampi varataraṃ senāsanaṃ palibodhento, sesānaṃ āgantukabhikkhūnaṃ paccantimāni lāmakasenāsanāni ceva amanussapariggahitāni ca “tumhe idha vasathā”ti vicārento āvāsesu issariyaṃ icchati. Pūjā parakulesu cāti neva mātāpitūnaṃ na ñātakānaṃ paresuyeva kulesu “aho vatime mayhameva dadeyyuṃ, na aññesa”nti evaṃ catuppaccayehi pūjaṃ icchati.
Mameva kata maññantūti yassa ca bālassa “yaṃkiñci vihāre uposathāgārādikaraṇavasena kataṃ navakammaṃ, taṃ sabbaṃ amhākaṃ therena katanti evaṃ gihī ca pabbajitā ca ubhopi mameva nissāya kataṃ parikammaṃ niṭṭhitaṃ maññantū”ti saṅkappo uppajjati. Mamevātivasā assūti “gihī ca pabbajitā ca sabbepi mameva vase vattantu, sakaṭagoṇavāsipharasuādīni vā laddhabbāni hontu, antamaso yāgumattampi tāpetvā pivanādīni vā, evarūpesu kiccākiccesu khuddakamahantesu karaṇīyesu kismiñci ekakiccepi mameva vase vattantu, mameva āpucchitvā karontū”ti saṅkappo uppajjati. Iti bālassāti yassa bālassa sā ca icchā ayañca evarūpo saṅkappo uppajjati, tassa neva vipassanā, na maggaphalāni vaḍḍhanti. Kevalaṃ panassa candodaye samuddassa udakaṃ viya chasu dvāresu uppajjamānā taṇhā ceva navavidhamāno ca vaḍḍhatīti.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Sudhammattheropi imaṃ ovādaṃ sutvā satthāraṃ vanditvā uṭṭhāyāsanā padakkhiṇaṃ katvā tena anudūtena bhikkhunā saddhiṃ gantvā upāsakassa cakkhupathe āpattiṃ paṭikaritvā upāsakaṃ khamāpesi. So upāsakena “khamāmahaṃ, bhante, sace mayhaṃ doso atthi, khamatha me”ti paṭikhamāpito satthārā dinne ovāde ṭhatvā katipāheneva saha paṭisambhidāhi arahattaṃ pāpuṇi. Upāsakopi cintesi – “mayā satthāraṃ adisvāva sotāpattiphalaṃ pattaṃ, adisvā eva anāgāmiphale patiṭṭhito, satthāraṃ me daṭṭhuṃ vaṭṭatī”ti. So tilataṇḍulasappiphāṇitavatthacchādanādīhi paripūrāni pañca sakaṭasatāni yojāpetvā “satthāraṃ daṭṭhukāmā āgacchantu, piṇḍapātādīhi na kilamissantī”ti bhikkhusaṅghassa ārocāpetvā bhikkhunīsaṅghassāpi upāsakānampi upāsikānampi ārocāpesi. Tena saddhiṃ pañcasatā pañcasatā bhikkhū ca bhikkhuniyo ca upāsakā ca upāsikāyo ca nikkhamiṃsu. So tesañceva attano parisāya cāti tiṇṇaṃ janasahassānaṃ yathā tiṃsayojane magge yāgubhattādīhi kiñci vekallaṃ na hoti, tathā saṃvidahi. Tassa pana nikkhantabhāvaṃ ñatvā yojane yojane devatā khandhāvāraṃ bandhitvā dibbehi yāgukhajjakabhattapānakādīhi taṃ mahājanaṃ upaṭṭhahiṃsu, kassaci kenaci vekallaṃ na hoti. Evaṃ devatāhi upaṭṭhiyamāno devasikaṃ yojanaṃ gacchanto māsena sāvatthiṃ pāpuṇi, pañca sakaṭasatāni yathāpūritāneva ahesuṃ. Devatāhi ceva manussehi ca abhihaṭaṃ paṇṇākāraṃ vissajjentova agamāsi.
Satthā ānandattheraṃ āha – “ānanda, ajja vaḍḍhamānakacchāyāya citto gahapati pañcahi upāsakasatehi parivuto āgantvā maṃ vandissatī”ti. “Kiṃ pana, bhante, tassa tumhākaṃ vandanakāle kiñci pāṭihāriyaṃ bhavissatī”ti? “Bhavissati, ānandā”ti. “Kiṃ, bhante”ti? Tassa āgantvā “maṃ vandanakāle rājamānena aṭṭhakarīsamatte padese jaṇṇukamattena odhinā pañcavaṇṇānaṃ dibbapupphānaṃ ghanavassaṃ vassissatī”ti. Taṃ kathaṃ sutvā nagaravāsino “evaṃ mahāpuñño kira citto nāma gahapati āgantvā ajja satthāraṃ vandissati, evarūpaṃ kira pāṭihāriyaṃ bhavissati, mayampi taṃ mahāpuññaṃ daṭṭhuṃ labhissāmā”ti paṇṇākāraṃ ādāya maggassa ubhosu passesu aṭṭhaṃsu. Vihārasamīpe āgatakāle pañca bhikkhusatāni paṭhamaṃ āgamiṃsu. Citto gahapati, “ammā, tumhe pacchato āgacchathā”ti mahāupāsikāyo ṭhapetvā pañcahi upāsakasatehi parivuto satthu santikaṃ agamāsi. Buddhānaṃ sammukhaṭṭhāne pana ṭhitā vā nisinnā vā ito vā etto vā na honti, buddhavīthiyā dvīsu passesu niccalāva tiṭṭhanti. Citto gahapati mahantaṃ buddhavīthiṃ okkami. Tīṇi phalāni pattena ariyasāvakena olokitolokitaṭṭhānaṃ kampi. “Eso kira citto gahapatī”ti mahājano olokesi. So satthāraṃ upasaṅkamitvā chabbaṇṇānaṃ buddharasmīnaṃ anto pavisitvā dvīsu gopphakesu satthu pāde gahetvā vandi. Taṃ khaṇaññeva vuttappakāraṃ pupphavassaṃ vassi, sādhukārasahassāni pavattayiṃsu. So ekamāsaṃ satthu santike vasi, vasamāno ca sakalaṃ buddhappamukhaṃ bhikkhusaṅghaṃ vihāreyeva nisīdāpetvā mahādānaṃ adāsi, attanā saddhiṃ āgatepi antovihāreyeva katvā paṭijaggi. Ekadivasampi attano sakaṭesu kiñci gahetabbaṃ nāhosi, devamanussehi ābhatapaṇṇākāreneva dānaṃ adāsi, sabbakiccāni akāsi. So satthāraṃ vanditvā āha – “bhante, ahaṃ ‘tumhākaṃ dānaṃ dassāmī’ti āgacchanto māsaṃ antarāmagge ahosiṃ. Idheva me māso vītivatto, mayā ābhataṃ paṇṇākāraṃ kiñci gahetuṃ na labhāmi, ettakaṃ kālaṃ devamanussehi ābhatapaṇṇākāreneva dānaṃ adāsiṃ, sohaṃ sacepi idha saṃvaccharaṃ vasissāmi, neva mama deyyadhammaṃ dātuṃ labhissāmi. Ahaṃ sakaṭāni otāretvā gantuṃ icchāmi, paṭisāmanaṭṭhānaṃ me ārocāpethā”ti.
Satthā ānandattheraṃ āha – “ānanda, upāsakassa ekaṃ padesaṃ tucchaṃ kāretvā dehī”ti. Thero tathā akāsi. Kappiyabhūmi (mahāva. 295) kira cittassa gahapatino anuññātā. Upāsakopi attanā saddhiṃ āgatehi tīhi janasahassehi saddhiṃ tucchasakaṭehi puna maggaṃ paṭipajji. Devamanussā uṭṭhāya, “ayya, tayā tucchasakaṭehi gamanakammaṃ kata”nti sattahi ratanehi sakaṭāni pūrayiṃsu. So attano ābhatapaṇṇākāreneva mahājanaṃ paṭijagganto agamāsi. Ānandatthero satthāraṃ vanditvā āha – “bhante, tumhākaṃ santikaṃ āgacchantopi māsena āgato, idhāpi māsameva vuṭṭho, ettakaṃ kālaṃ devamanussehi abhihaṭapaṇṇākāreneva mahāvadānaṃ adāsi, idāni pañca sakaṭasatāni tucchāni katvā māseneva kira gamissati, devamanussā panassa uṭṭhāya, ‘ayya, tayā tucchasakaṭehi gamanakammaṃ kata’nti pañca sakaṭasatāni sattaratanehi pūrayiṃsu. So puna attano ābhatapaṇṇākāreneva kira mahājanaṃ paṭijagganto gamissatī”ti. “Kiṃ pana, bhante, etassa tumhākaṃ santikaṃ āgacchantassevāyaṃ sakkāro uppajjati, udāhu aññattha gacchantassāpi uppajjatī”ti? “Ānanda, mama santikaṃ āgacchantassāpi aññattha gacchantassāpi etassa uppajjateva. Ayañhi upāsako saddho pasanno sampannasīlo, evarūpo puggalo yaṃ yaṃ padesaṃ bhajati, tattha tatthevassa lābhasakkāro nibbattatī”ti vatvā satthā imaṃ pakiṇṇakavagge gāthamāha –
“Saddho sīlena sampanno, yaso bhogasamappito;
Yaṃ yaṃ padesaṃ bhajati, tattha tattheva pūjito”ti. (dha. pa. 303);
Attho panassā tattheva āvibhavissati.
Evaṃ vutte ānandatthero cittassa pubbakammaṃ pucchi. Athassa satthā ācikkhanto āha –
Ānanda, ayaṃ padumuttarassa bhagavato pādamūle katābhinīhāro kappasatasahassaṃ devamanussesu saṃsaritvā kassapabuddhakāle migaluddakakule nibbatto vuddhimanvāya ekadivasaṃ deve vassante migānaṃ māraṇattāya sattiṃ ādāya araññaṃ gantvā mige olokento ekasmiṃ akaṭapabbhāre sasīsaṃ pārupitvā ekaṃ bhikkhuṃ nisinnaṃ disvā “eko, ayyo, samaṇadhammaṃ karonto nisinno bhavissati, bhattamassa āharissāmī”ti vegena gehaṃ gantvā ekasmiṃ uddhane hiyyo, ābhatamaṃsaṃ, ekasmiṃ bhattaṃ pacāpetvā aññe piṇḍapātacārike bhikkhū disvā tesampi patte ādāya paññattāsane nisīdāpetvā bhikkhaṃ sampādetvā, “ayye, parivisathā”ti aññaṃ āṇāpetvā taṃ bhattaṃ puṭake pakkhipitvā ādāya gacchanto antarāmagge nānāpupphāni ocinitvā pattapuṭe katvā therassa nisinnaṭṭhānaṃ gantvā “mayhaṃ, bhante, saṅgahaṃ karothā”ti vatvā pattaṃ ādāya pūretvā therassa hatthe ṭhapetvā tehi pupphehi pūjaṃ katvā “yathā me ayaṃ rasapiṇḍapāto pupphapūjāya saddhiṃ cittaṃ tosesi, evaṃ nibbattanibbattaṭṭhāne paṇṇākārasahassāni ādāya āgantvā mayhaṃ cittaṃ tosentu, pañcavaṇṇakusumavassañca vassatū”ti patthanaṃ paṭṭhapesi. So yāvajīvaṃ kusalaṃ katvā devaloke nibbatti, nibbattaṭṭhāne jaṇṇukamattena odhinā dibbapupphavassaṃ vassi. Idānipissa jātadivase ceva idha ca āgatassa pupphavassavassanañca paṇṇākārābhihāro ca sattahi ratanehi sakaṭapūraṇañca tasseva kammassa nissandoti.
Cittagahapativatthu cuddasamaṃ.
V. 14. Citta and Sudhamma
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
73. The simpleton will seek for false reputation, for precedence among the monks,
For authority in the monasteries, for honors among other folk.
74. “Let layman and monk both think that it was I, and I alone, who did this;
Let them be subject to my will, both in everything that ought to be done, and in everything that ought not to be done!”
Thus resolves the simpleton; so do his desire and pride increase.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the Elder Sudhamma. The story begins at Macchikāsaṇḍa and ends at Sāvatthi.
For a householder named Citta, residing in the city of Macchikāsaṇḍa, observed the Elder Mahānāma, one of the Band of Five, making his round for alms; and pleased with his deportment, took his bowl, invited him into his house, provided him with food, and at the conclusion of the meal listened to the Law and obtained the Fruit of Conversion. Now Citta, possessed of immovable faith, desiring to make his own pleasure-garden Ambāṭaka Grove a place of residence for the Order, poured water into the right hand of the Elder and made the grove over to the Order. The moment he uttered the words, “The Religion of the Buddha is firmly established,” the great earth shook to its ocean boundary. The great treasurer caused a splendid monastery to be erected in the grove, and thereafter the door stood open to monks who came from all four quarters. At Macchikāsaṇḍa also resided the Elder Sudhamma.
Some time afterwards, the two Chief Disciples, hearing the rumor of Citta’s good qualities, decided to pay their respects to him and therefore went to Macchikāsaṇḍa. Citta the householder, hearing that they were coming, proceeded forth half a league to meet them, escorted them to the monastery, invited them within, performed the usual duties for visitors, and then made the following request of the Captain of the Faith, “Reverend Sir, we desire to listen to a short discourse on the Law.” The Elder replied, “Lay disciple, we are weary with the journey; nevertheless listen for a short while.” Citta, merely by listening to the Elder’s discourse on the Law, obtained the Fruit of the Second Path. Then he bowed to the two Chief Disciples and invited them to be his guests, saying, “Reverend Sirs, pray take a meal in my house to-morrow with your thousand monks.” Then he turned to the resident monk, the Elder Sudhamma, and invited him, saying to him, “Reverend Sir, you also come to-morrow with the Elders.” Angry at the thought, “He invited me last,” Sudhamma refused the invitation; and although Citta repeated the invitation again and again, he still refused. The lay disciple said, “Pray be present, Reverend Sir,” and went out. On the following day he prepared splendid offerings in his own residence. Very early in the morning the Elder Sudhamma thought to himself, “What manner of food has the householder prepared for the Chief Disciples? I will go see.” So very early in the morning he took bowl and robe and went to his house.
“Pray sit down, Reverend Sir,” said the householder. “I will not sit down,” replied Sudhamma; “I am about to set out on my round for alms.” The Elder surveyed the offerings prepared for the Chief Disciples, and seeking to annoy the householder about the varieties of food provided, said, “Householder, your food is most excellent, but there is one thing you have omitted.” “What is that, Reverend Sir?” “Sesame-cake, householder.” Thereupon the householder rebuked him, comparing him to a crow. Angered at this, the Elder said, “This is your residence, householder; I will depart.” Three times the householder strove to prevail upon the Elder to remain, but each time the latter refused. Finally he left the house, went to the Teacher, and related the words that had passed between Citta and himself. Said the Teacher, “You, an inferior, have insulted a faithful, believing disciple.” Having thus put the blame solely on the Elder, the Teacher sent him back to beg pardon of the disciple, saying, “Go beg pardon of Citta the householder.” The Elder went to Citta and said, “Householder, it was all my fault; pardon me.” But the householder refused to pardon him and said, “I will not pardon you.”
Provoked at his failure to obtain pardon, he returned to the Teacher. The Teacher, although he knew that the householder would pardon Sudhamma, thought, “This Elder is stubborn in his pride; now let him go thirty leagues and come back.” And so, without telling him how he might gain pardon, he just dismissed him. The Elder returned with pride humbled. The Teacher then gave the Elder a companion and said to the Elder, “Go with this companion and ask pardon of the householder.” Said the Teacher, “A religious ought not to give way to pride or ill-will, thinking, ‘This dwelling is mine, this residence is mine, this male lay disciple is mine, this female lay disciple is mine.’ For if he so do, ill-will and pride and the other Depravities increase.” And joining the connection and preaching the Law, he pronounced the following Stanzas,
73. The simpleton will seek for false reputation, for precedence among the monks,
For authority in the monasteries, for honors among other folk.
74. “Let layman and monk both think that it was I, and I alone, who did this;
Let them be subject to my will, both in everything that ought to be done, and in everything that ought not to be done!”
Thus resolves the simpleton; so do his desire and pride increase.
After listening to this admonition Elder Sudhamma bowed to the Teacher, rose from his seat, walked sunwise about the Teacher, and then, accompanied by his companion-monk, went within sight of the lay disciple, atoned for his fault, and begged the disciple’s pardon. The lay disciple both pardoned him and in turn asked his pardon, saying, “I pardon you, Reverend Sir; if I am to blame, pray pardon me also.” The Elder abode steadfast in the admonition given by the Teacher, and in but a few days attained Arahatship together with the Supernatural Faculties.
The lay disciple thought to himself, “Even without seeing the Teacher I have attained the Fruit of Conversion; even without seeing him I have attained the Fruit of the Second Path. I ought to see the Teacher.” So he ordered yoked five hundred carts full of sesame, rice, ghee, sugar, garments, coverlets, and other offerings, and sent word to the Congregation of Monks, to the Congregation of Nuns, and to the lay disciples both male and female, “Let those who wish to see the Teacher come; they will lack nothing for offerings, whether of food or aught else.” With him went forth, of monks and nuns and lay disciples both male and female, five hundred each. That neither they nor his own retinue, three thousand souls in all, might lack broth or rice or aught else on the thirty-league journey, the householder Citta made ample provision. The deities, knowing that he had set out, posted themselves at intervals of a league along the way, and served that great multitude with rice-porridge, hard food, drink, and other necessities; there was no lack of aught for any. Proceeding at the rate of a league a day, waited upon in this manner by deities, the householder Citta and his retinue reached Sāvatthi in a month. There were five hundred carts filled as described above; and as the householder proceeded, deities and men brought presents, which he gave away.
The Teacher addressed Elder Ānanda, “Ānanda, as the shadows of evening draw on, the householder Citta will arrive with five hundred carts and will pay obeisance to me.” “Reverend Sir, when he pays obeisance to you, will any miracle take place?” “Yes, Ānanda, a miracle will take place.” “What miracle, Reverend Sir?” “When he arrives and pays obeisance to me, a rain of celestial flowers will begin and will continue without interruption until a space eight karīsas in extent is covered with a glistening mass of flowers knee-deep.” Hearing rumor of this, the residents of the city said, “So great, they say, is the merit of the householder Citta who will to-day come and pay obeisance to the Teacher. Such, they say, is the miracle that will take place. We must without fail obtain the privilege of seeing this person of great merit.” So they took presents and stood on both sides of the way.
As the procession approached the monastery, five hundred monks led the way. The householder Citta said to the eminent female lay disciples, “Reverend Sisters, you follow in the rear.” So saying, accompanied by five hundred male lay disciples, he went into the presence of the Teacher. (Now those that stand or sit in the presence of the Buddhas move not hither and thither, but stand on both sides immovable in the street of the Buddhas.) The householder Citta, a Noble Disciple who had attained the Three Fruits, entered the street trod by the Buddhas; whereupon every place he looked at trembled. “That must be the householder Citta,” said the multitude and gazed at him. The householder Citta, penetrating the six-colored rays of light of the Buddha, approached the Teacher, and grasping the Teacher’s feet by the two ankles, paid obeisance to him. At that very moment a rain of flowers fell precisely as the Teacher had predicted, and thousands of cries of applause went up.
For one month the householder Citta abode with the Teacher. While he there abode, he provided seats for the Congregation of Monks presided over by the Buddha within the monastery and bestowed rich offerings upon them. He also housed and cared for within the monastery those that came with him. Not for a single day was it necessary for him to use what he had in his own carts; he performed all his duties of almsgiving solely with the presents brought by gods and men. Finally he paid obeisance to the Teacher and said, “Reverend Sir, when I said to myself, ‘I will give alms to you,’ and set out on my journey, I was a month on the way. Here I have spent a month, and I find it impossible to present to you anything which I have myself brought. All this time have I presented to you alms solely of presents brought to me by gods and men. Even were I to remain here a year, I should not receive the privilege of bestowing alms of my own upon you. I desire to empty my carts and go; tell me where I can put away the offerings which I have brought.”
Said the Teacher to Elder Ānanda, “Ānanda, empty some place for the lay disciple and assign it to him.” The Elder did so and is said to have assigned a suitable place to Citta the householder. Then the lay disciple, accompanied by the three thousand persons who had come with him, set out with empty carts on the return journey. Gods and men arose, saying, “Noble sir, your journey is made with empty carts;” and so saying, filled the carts with the seven kinds of jewels. As Citta the householder returned, he ministered to the needs of the multitude solely with the presents brought to himself.
Elder Ānanda bowed to the Teacher and said, “Reverend Sir, when Citta the householder came hither, he occupied a month traveling, spent just a month here, and all that time gave alms solely of presents brought him by gods and men. Now, having emptied five hundred carts, he will be an entire month going; but gods and men have arisen, saying, ‘Noble sir, your journey is made with empty carts,’ and so saying, have filled his carts with the seven kinds of jewels. On the return journey, they say, he will minister to the multitude solely with the presents which have thus been brought to him. Now, Reverend Sir, was it solely because he came to visit you, that he received all this honor? Or would he also have received it, had he gone elsewhere?” “Ānanda, he would have received it just the same, no matter whether he had come to visit me or had gone elsewhere. For this lay disciple is faithful and believing and virtuous. No matter what place such a man resorts to, there, wherever it is, he receives gain and honor.” So saying, the Teacher pronounced the following Stanza in the Pakiṇṇaka Vagga,
303. If a man be faithful, endued with virtue, possessed of fame and wealth.
No matter what place he resorts to, there, wherever it may be, he is honored.
14 a. Story of the Past: Citta’s deed in a former birth
When the Teacher had thus spoken. Elder Ānanda asked about Citta’s deed in a former birth. In reply the Teacher said, “Ānanda, Citta the householder made his Earnest Wish at the feet of the Exalted Padumuttara, and after passing through the round of existences among gods and men for a hundred thousand cycles of time, was reborn in the dispensation of the Buddha Kassapa as a hunter. One rainy day, after he had grown to be a man, he went to hunt in the forest with spear in hand. As he looked this way and that in search of quarry, he saw a certain monk seated in a natural cave with his upper robe drawn over his head. “This must be some noble monk who is seated engaged in meditation,” thought he; “I will bring him food.” So he went home quickly and caused flesh brought the day before to be cooked on one brazier, and rice on another. Then, seeing some monks going their rounds for alms, he took their bowls also, seated them on seats prepared for the purpose, procured food for them, and invited them in, saying, “Help yourselves, noble sirs.”
Then he ordered additional food to be brought, placed it in a basket, and taking it with him, set out. On the way he plucked various kinds of flowers, placed them in a leaf-basket, and went on to the place where the Elder sat. “Reverend Sir,” said he, “bestow your favor upon me.” So saying, he took the Elder’s bowl, filled it, and placed it in his hand. Then honoring the Elder with those flowers, he made the following Earnest Wish, “Even as this portion of choice food, together with the gift of flowers, has pleased my heart, even so, in the various places where I shall be reborn, may my heart rejoice over the thousands of presents which I shall receive, and may rain of the five kinds of flowers rain upon my head.” During the term of life allotted to him he performed works of merit, and after his death he was reborn in the World of the Gods. In the place where he was reborn celestial flowers rained upon him knee-deep. In his present existence, both on the day of his birth and on the day when he came hither, a rain of flowers rained upon him and presents were offered to him and his carts were filled with the seven kinds of jewels. This was the result solely of his deed in a former birth.
- This story is derived from the Vinaya, Culla Vagga, i. 18: ii. 1529-1830. Aṅguttara Commentary (citations at HOS. 28, p. 50). Text: N ii. 74-83.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.