Chú giải Pháp Cú · Kệ 72 · Dhp 72

Tích Ngạ Quỉ Bị Búa Đập Đầu

Saṭṭhikūṭapetavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 72 Kinh Pháp Cú, phẩm Ngu, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 72)

“Yāvadeva anatthāya,
Ñattaṃ bālassa jāyati;
Hanti bālassa sukkaṃsaṃ,
Muddham assa vipātayanti.”

“Trí danh và tai hại,
Đồng đến với kẻ dại,
Phá thiện pháp để dành,
Đập đầu y tan hoại.”

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài an ngự tại Veḷuvana, đề cập đến ngạ quỉ bị búa đập đầu (Saṭṭhīkūṭapeta). Quả nhiên, cũng như trong truyện tích trước, khi Đại đức Moggallāna đang đi với Đại đức Lakkhaṇa từ trên núi Gijjhakūṭa xuống, đến một địa điểm nọ, Ngài mỉm cười. Để trả lời câu hỏi về lý do của cái cười nầy, Ngài bảo bạn đồng hành:

- Đạo hữu nên hỏi tôi trước mặt Đức Bổn Sư.

Thế rồi, sau khi đi bát xong, hai vị Đại đức đồng đến bái kiến Đức Bổn Sư. Khi ngồi xuống đã yên nơi rồi, Đại đức Lakkhaṇa nhắc lại câu hỏi buổi sáng.

Đại đức Moggallāna đáp: “Thưa đạo hữu, tôi đã thấy một con ngạ quỉ thân hình cao lối ba phần tư do tuần. Phía trên đầu nó có đến sáu muôn cái búa sắt cháy lên ngọn lửa, bay lên giáng xuống không ngớt, đập đi đập lại sọ óc của nó nát tan, rồi lại huờn như cũ. Từ trước đến giờ, tôi chưa từng gặp chúng sanh nào có hình thù như thế, nên nay thấy nó, tôi mỉm cười.”.

Trong kinh: Chuyện ngạ quỉ (Petavatthu) có bài kệ như vầy:

“Saṭṭhī kūṭasahassāni,
Paripuṇṇāni sabbaso;
Sīse tuyhaṃ nipatanti
Obhindanteva matthakanti.”
Lược dịch:
“Sáu muôn búa sắt,
Đều đủ một loạt,
Rớt xuống đầu người,
Đập cho nó nát.”
Bài kệ nầy đề cập đến con ngạ quỉ mà Đại đức

Moggallāna vừa mới ngó thấy đây vậy.

Khi nghe Đại đức Moggallāna vừa nói dứt lời, Đức Bổn Sư xác nhận rằng:

- Nầy các Tỳ khưu, Như Lai cũng đã từng thấy chúng sanh ấy từ khi đắc quả Chánh Đẳng Giác dưới cội Bồ Đề, nhưng vì lòng bi mẫn, Như Lai không hề thố lộ với những người khác, vì e có những kẻ không tin lời Như Lai sẽ gặp phải điều bất hạnh. Bây giờ, đã có Moggallāna là nhân chứng, nên Như Lai mới nói rõ ra đây.

Nghe vậy, chư Tỳ khưu bạch xin Đức Thế Tôn giải về tiền nghiệp của con ngạ quỉ nát đầu. Do đó, Đức Bổn Sư thuyết sự tích sau đây:

Tương truyền rằng: Thời quá khứ trong thành Bārāṇasī có người đàn ông què, nhưng y có tài về thuật búng giàn thun (Sālittakasippa) bá phát bá trúng.

Hằng ngày, anh ta đến ngồi dưới gốc một cây đa to tại cổng vào thành. Lũ trẻ con trong làng xúm nhau yêu cầu: “Chú lấy sạn bắn thủng lá cây da cho thành hình con voi coi chú, cho thành hình con ngựa coi chú…”.

Nhờ biểu diễn tài bắn đạn cho nhóm nhi đồng coi thỏa thích, nhà thiện xạ què được chúng đem cơm bánh, vật thực đến cho anh ta ăn.

Một hôm, có đoàn xa giá đức vua ngự đi đến tại gốc cây da tại cổng thành. Lũ trẻ lôi anh què vào giữa những chùm rễ phụ của cây da rồi bỏ chạy trốn hết.

Đức vua ngự vào đứng tại gốc cây da để nghỉ mát, Ngài thấy bóng râm phủ lên long thể loang lổ khác thường. Ngài tự nghĩ: “Sao kỳ lạ thế?”. Khi ngước nhìn lên thấy những hình voi, ngựa… theo các lỗ thủng trong tàng lá cây, đức vua phán hỏi: “Ai đã làm việc nầy?”.

Khi nghe thị thần đáp là: “Anh què làm.”, đức vua cho đòi anh ta đến trước long nhan và phán rằng: “Viên Ngự sử (purohito) của trẫm rất già hàm lợi khẩu. Dầu trẫm có cố gắng khuyên nhủ nhiều phen, ông ta vẫn cứ lắm lời, khiến trẫm phải bực bội khó chịu. Nhà ngươi có thể bắn chừng một gáo phân dê vào miệng ông ta được không?”

- Tâu hoàng thượng, được. Xin hoàng thượng cho người đặt con ngồi sau bức rèm có khoét lỗ nhỏ. Rồi hoàng thượng cùng ngồi với quan Ngự sử phía ngoài. Con sẽ có cách thừa hành thánh lịnh.

Đức vua làm y theo kế của anh què.

Anh nầy lấy mũi dao nhọn khoét một lỗ trống trong bức rèm, rồi theo đó phóng viên phân dê vào miệng vừa hả ra của viên Ngự sử đang ngồi lý luận với đức vua. Mải mê hùng biện để thuyết phục đức vua, vị quan già không hay biết có chuyện khác thường. Hễ lọn phẩn nào lọt vào miệng là ông ta nuốt luôn viên phẩn ấy với nước miếng.

Khi đã bắn hết phân dê, anh què lay động bức rèm. Đức vua nhận được mật hiệu của anh ta, biết là phân dê đã hết, bèn phán bảo viên Ngự sử: “Nầy khanh Đại học sĩ (ācariya), quả nhân chịu thua, không thể nào biện luận hơn khanh nổi, vì khanh già hàm lợi khẩu quá! Nuốt hết gáo phân dê rồi mà khanh chưa chịu ngậm miệng làm thinh.”.

Vị quan Bà la môn hết sức hổ thẹn, từ đó không thể mở miệng nói thêm lời nào với đức vua nữa.

Đức vua hài lòng, triệu anh què vào cung và phán rằng:

- Nhờ khanh mà trẫm mới được an vui.

Đoạn nhà vua ban thưởng cho anh ta đủ thứ phẩm vật, và còn ân tứ thêm bốn làng trù phú (gāmavara) ở bốn phía thành.

Khi hay biết chuyện nầy, vị quân sư (amacco) đắc lực của đức vua có thuyết kệ rằng:

“Sādhu kho sippakannāma,
Api yādisakīdisaṃ;
Passa khañjappahārena,
Laddhā gāmā catuddisāti.”
“Nếu tập luyện cho tinh,
Nghề nào cũng là vinh,
Như anh què bắn sạn,
Được làng bốn phương thành.”

Vị quân sư lúc bấy giờ chính là Như Lai ngày nay vậy.

Thời ấy, có gã nam tử (puriso) trông thấy anh què được hiển vinh phú túc, tự nói thầm rằng: “Ông què nầy còn được tài sản lớn lao, chỉ nhờ vào tài bắn sạn. Vậy ta cũng cần học tập nghề ấy.”.

Nghĩ rồi, thanh niên đến bái kiến ông què để xin thọ giáo.

Chàng nói:

- Xin giáo sư (ācariya) truyền nghề bắn sạn cho con.

- Ta không thể truyền nghề bắn sạn cho chú em được.

Tuy bị từ chối, thanh niên cũng không nản chí, cứ lân la chìu chuộng, đấm bóp tay chân, phục thị ông thầy què, quyết làm cho ông hài lòng mà thâu nạp mình làm đệ tử. Lâu lâu, mỗi khi thấy thầy có vẻ vui, chàng nhắc lại lời yêu cầu.

Về sau, ông xạ sư cũng siêu lòng, không nỡ phụ rẫy công lao khó nhọc của người hầu hạ, ông mới đem hết sở trường của mình truyền lại cho y. Khi thanh niên đã tinh thông nghề bắn sạn, giáo sư hỏi chàng: “Bây giờ con đã thành nghề, vậy con định sẽ làm gì sau khi xuất sư?”.

- Thưa thầy, con sẽ ra đi để thực hiện tài nghệ của con.

- Nghĩa là con sẽ làm gì?

- Dạ thưa, con sẽ hạ sát bò cái hay là người ta bằng một phát đạn.

- Con ơi, con bắn chết bò cái thì phải bồi thường một trăm đồng vàng, còn bằng bắn chết người thường dân thì phải bồi thường ngàn đồng vàng nhân mạng. Con đem bán vợ đợ con mà mang tai họa đó con. Trừ khi vật gì không gia tộc, cha mẹ vợ con chi, khi bị bắn thì không có ai đòi tiền thiệt hại.

- Thưa sư phụ, vâng.

Đoạn chàng ta lượm sạn bỏ đầy một cái bao nhỏ mang theo kè trên bắp vế, ra đi tìm mồi. Gặp con bò cái, gã không dám hạ sát, vì nghĩ rằng: “Con bò nầy có chủ.”.

Thời bấy giờ, có vị Độc Giác Phật (Paccekabuddha) hồng danh là Thiện Nhân, Ngài an cư trong một thảo xá ở phụ cận thành. Lúc ấy, Ngài đi vào thành khất thực, còn đang đứng tại cổng thành.

Thấy Ngài, thanh niên nghĩ rằng: “Ông nầy không cha, không mẹ, không bà con họ hàng chi cả, có bắn chết ông ta cũng không ai đòi bồi thường nhân mạng. Vậy để ta bắn ông nầy thí nghiệm tài nghệ của ta.”.

Giương giàn thun thẳng cánh, thanh niên nhắm ngay lỗ tai phải của Đức Phật Độc Giác, bắn ra một phát. Viên sạn bay vào lỗ tai phải, rồi lọt ra ngoài theo lỗ tai trái. Đức Phật Độc Giác thọ khổ thái quá, không đi bát được nữa, nên bay về thảo xá và Vô dư Níp Bàn.

Dân chúng thấy vắng bóng Đức Phật đi trì bình, nghĩ: “Chắc có lẽ Ngài đau yếu chi chăng?”.

Khi đến thảo xá, trông thấy Ngài đã viên tịch, ai cũng thở than, khóc lóc.

Thấy thiên hạ kéo nhau đến thảo xá, thanh niên cũng đi theo. Đến chỗ nhục thể của Đức Độc Giác, chàng tự thú nhận rằng mình đã hạ sát Ngài: “Ông nầy đi vào thành khất thực, còn đang đứng giữa cổng, ngay trước mặt tôi. Hôm nay là ngày tôi xuất sư, nên tôi bắn ông ta để thử tay nghề đó.”.

Đại chúng đồng thanh la ó: “Giữ chặt nó lại, giữ chặt nó lại. Hắn đã tự xưng là thủ phạm bắn chết Đức Phật Độc Giác của chúng ta.”. Thế rồi, phần đông xúm nhau đánh đập gã thanh niên sát nhân cho đến khi y mệnh chung. Chết rồi, chàng ta bị đọa vào hỏa ngục Vô Gián (Avīci), bị thiêu đốt rất lâu, cho đến thời địa cầu nầy dày thêm một do tuần, mới thoát khỏi nơi đó. Do quả còn dư sót, chàng ta hóa sanh làm con ngạ quỉ bị búa đập đầu ở trên núi Gijjhakūṭa.

Thuật dứt câu chuyện nầy, Đức Bổn Sư kết luận rằng:

- Nầy các Tỳ khưu! Phàm là người ngu mà được nghề nghiệp thiện xảo hoặc của tiền quyền chức, thì họ tự hại lấy bản thân như thế.

Đức Bổn Sư thuyết pháp giải rộng thêm nghĩa lý, rồi đọc kệ ngôn rằng:

“Yāvadeva anatthāya,
Ñattaṃ bālassa jāyati;
Hanti bālassa sukkaṃsaṃ,
Muddham assa vipātayanti.”
“Người ngu được trí danh nhiều,
Tài cao để khiến tự chiêu tội tình.
Làm tiêu thiện pháp để dành,
Đầu y cũng phá tan tành chẳng sai.”

CHÚ GIẢI:

Yāvadeva: Là tiếng liên từ hay tiếp tục từ (nipāto) có ý nghĩa là vô lượng vô biên (avaddipanicchedana).

Ñattaṃ: Là trạng thái của người có kiến thức, có danh tiếng, người nào có nghề nghiệp hay nghiệp giỏi hoặc có quyền cao chức trọng thì bao giờ cũng được tiền của danh vọng, từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội. Ai ai cũng nghe biết đến thân thế của họ một cách rõ ràng. Tiếng Ñattaṃ hàm cả hai ý nghĩa như trên.

Đối với người ngu, hễ tài năng, chức nghiệp hoặc là của tiền quyền thế phát sanh lên lúc nào thì tai họa cũng đồng thời phát sanh lên y lúc ấy. Bởi vì y ỷ vào trí danh ấy mà tự chiêu lấy tội vào thân.

Hanti: Phá hủy, tiêu diệt.
Sukkaṃsaṃ: Là thiện pháp để dành, tức là phước

tích trữ do nghiệp lành quá khứ.

Quả nhiên, trong lúc trí danh bắt đầu phát sanh lên cho kẻ ngu thì vốn thiện pháp để dành từ trước của y cũng bắt đầu suy sụp, tiêu hoại.

Muddhaṃ: Là cái đầu hay cân não, nghĩa bóng là trí tuệ.

Vipātayaṃ: Là tiêu diệt, phá tan, đập vỡ ra. Quả nhiên, người ngu bị trí danh phá tan vỡ thiện pháp của họ, phá tan vỡ luôn cái gọi là trí tuệ, đầu não của họ nữa.

Thời pháp vừa dứt, nhiều vị Tỳ khưu đắc Thánh quả, nhứt là quả Tu Đà Hườn.

Người ngu được thế dám làm ngang,
Gặp bậc chân tu bắn giết càng,
Sạn nhỏ một viên vào óc Phật,
Búa to muôn cái đập đầu chàng.
Phô danh chưa thấy danh thêm rạng,
Tạo khổ nào hay khổ lại mang,
Hỏa ngục thiêu còn dư sót lại,
Làm thân ngạ quỉ đỉnh Linh Sơn.

DỨT TÍCH NGẠ QUỈ BỊ BÚA ĐẬP ĐẦU

Saṭṭhikūṭapetavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Yāvadeva anatthāyāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā veḷuvane viharanto saṭṭhikūṭapetaṃ ārabbha kathesi.

Purimanayeneva hi mahāmoggallānatthero lakkhaṇattherena saddhiṃ gijjhakūṭā orohanto aññatarasmiṃ padese sitaṃ pātvākāsi. Therena sitakāraṇaṃ puṭṭho “bhagavato santike maṃ puccheyyāsī”ti vatvā piṇḍāya caritvā satthāraṃ upasaṅkamitvā vanditvā nisinnakāle puna puṭṭho āha – “ahaṃ, āvuso, ekaṃ petaṃ addasaṃ tigāvutappamāṇena attabhāvena, tassa saṭṭhi ayakūṭasahassāni ādittāni sampajjalitāni uparimatthake patitvā patitvā uṭṭhahanti sīsaṃ bhindanti, bhinnaṃ bhinnaṃ puna samuṭṭhahati, iminā attabhāvena mayā evarūpo attabhāvo na diṭṭhapubbo, ahaṃ taṃ disvā sitaṃ pātvākāsi”nti. Petavatthusmiñhi –

“Saṭṭhi kūṭasahassāni, paripuṇṇāni sabbaso;
Sīse tuyhaṃ nipatanti, vobhindanteva matthaka”nti. (pe. va. 808, 810, 813) ādi –

Imameva petaṃ sandhāya vuttaṃ. Satthā therassa kathaṃ sutvāva, “bhikkhave, mayāpesa satto bodhimaṇḍe nisinneneva diṭṭho ‘ye ca pana me vacanaṃ na saddaheyyuṃ, tesaṃ ahitāya bhaveyyā’ti paresaṃ anukampāya na kathesiṃ, idāni pana moggallānassa sakkhī hutvā kathemī”ti āha. Taṃ sutvā bhikkhū tassa pubbakammaṃ pucchiṃsu. Satthāpi nesaṃ kathesi –

Atīte kira bārāṇasiyaṃ sāḷittakasippe nipphattiṃ patto eko pīṭhasappi ahosi. So nagaradvāre ekassa vaṭarukkhassa heṭṭhā nisinno sakkharāni khipitvā tassa paṇṇāni chindanto “hatthirūpakaṃ no dassehi, assarūpakaṃ no dassehī”ti gāmadārakehi vuccamāno icchiticchitāni rūpāni dassetvā tesaṃ santikā khādanīyādīni labhati. Athekadivasaṃ rājā uyyānaṃ gacchanto taṃ padesaṃ pāpuṇi. Dārakā pīṭhasappiṃ pārohantare katvā palāyiṃsu. Rañño ṭhitamajjhanhike rukkhamūlaṃ paviṭṭhassa chiddāvachiddacchāyā sarīraṃ phari. So “kiṃ nu kho eta”nti uddhaṃ olokento rukkhapaṇṇesu hatthirūpakādīni disvā “kassetaṃ kamma”nti pucchitvā “pīṭhasappino”ti sutvā taṃ pakkosāpetvā āha – “mayhaṃ purohito atimukharo appamattakepi vutte bahuṃ bhaṇanto maṃ upaddaveti, sakkhissasi tassa mukhe nāḷimattā ajalaṇḍikā khipitu”nti? “Sakkhissāmi, deva. Ajalaṇḍikā āharāpetvā purohitena saddhiṃ tumhe antosāṇiyaṃ nisīdatha, ahamettha kattabbaṃ jānissāmī”ti. Atha rājā tathā kāresi. Itaro kattariyaggena sāṇiyā chiddaṃ katvā purohitassa raññā saddhiṃ kathentassa mukhe vivaṭamatte ekekaṃ ajalaṇḍikaṃ khipi. Purohito mukhaṃ paviṭṭhaṃ paviṭṭhaṃ gili. Pīṭhasappī khīṇāsu ajalaṇḍikāsu sāṇiṃ cālesi. Rājā tāya saññāya ajalaṇḍikānaṃ khīṇabhāvaṃ ñatvā āha – “ācariya, ahaṃ tumhehi saddhiṃ kathento kathaṃ nittharituṃ na sakkhissāmi, tumhe atimukharatāya nāḷimattā ajalaṇḍikā gilantāpi tuṇhībhāvaṃ nāpajjathā”ti. Brāhmaṇo maṅguubhāvaṃ āpajjitvā tato paṭṭhāya mukhaṃ vivaritvā raññā saddhiṃ sallapituṃ nasakkhi. Rājā pīṭhasappiguṇaṃ anussaritvā taṃ pakkosāpetvā “taṃ nissāya me sukhaṃ laddha”nti tuṭṭho tassa sabbaṭṭhakaṃ nāma dhanaṃ datvā nagarassa catūsu disāsu cattāro varagāme adāsi. Tamatthaṃ viditvā rañño atthadhammānusāsako amacco imaṃ gāthamāha –

“Sādhu kho sippakaṃ nāma, api yādisa kīdisaṃ;
Passa khañjappahārena, laddhā gāmā catuddisā”ti. (jā. 1.1.107);

So pana amacco tena samayena ayameva bhagavā ahosi. Atheko puriso pīṭhasappinā laddhasampattiṃ disvā cintesi – “ayaṃ nāma pīṭhasappī hutvā imaṃ sippaṃ nissāya mahāsampattiṃ patto, mayāpetaṃ sikkhituṃ vaṭṭatī”ti. So taṃ upasaṅkamitvā vanditvā “idaṃ me, ācariya, sippaṃ dethā”ti āha. “Na sakkā, tāta, dātu”nti. So tena paṭikkhitto “hotu, ārādhessāmi na”nti tassa hatthapādaparikammādīni karonto cirassaṃ taṃ ārādhetvā punappunaṃ yāci, pīṭhasappī “ayaṃ me ativiya upakāro”ti taṃ paṭibāhituṃ asakkonto sippaṃ sikkhāpetvā “nipphannaṃ te, tāta, sippaṃ, idāni kiṃ karissasī”ti āha. “Bahi gantvā sippaṃ vīmaṃsissāmī”ti. “Kiṃ karissasī”ti? “Gāviṃ vā manussaṃ vā paharitvā māressāmī”ti. “Tātā, gāviṃ mārentassa sataṃ daṇḍo hoti manussaṃ mārentassa sahassaṃ, tvaṃ saputtadāropi taṃ nittharituṃ na sakkhissasi, mā vinassa, yamhi pahaṭe daṇḍo natthi, tādisaṃ nimātāpitikaṃ kañci upadhārehī”ti. So “sādhū”ti sakkharā ucchaṅge katvā tādisaṃ upadhārayamāno vicaranto gāviṃ disvā “ayaṃ sasāmikā”ti paharituṃ na visahi, manussaṃ disvā “ayaṃ samātāpitiko”ti paharituṃ na visati.

Tena samayena sunetto nāma paccekabuddho taṃ nagaraṃ nissāya paṇṇasālāya viharati. So taṃ piṇḍāya pavisantaṃ nagaradvārantare disvā “ayaṃ nimātāpitiko, imasmiṃ pahaṭe daṇḍo natthi, imaṃ paharitvā sippaṃ vīmaṃsissāmī”ti paccekabuddhassa dakkhiṇakaṇṇasotaṃ sandhāya sakkharaṃ khipi. Sā dakkhiṇakaṇṇasotena pavisitvā vāmena nikkhami, dukkhā vedanā uppajji. Paccekabuddho bhikkhāya carituṃ nāsakkhi, ākāsena paṇṇasālaṃ gantvā parinibbāyi. Manussā paccekabuddhe anāgacchante “kiñci aphāsukaṃ bhavissatī”ti cintetvā tattha gantvā taṃ parinibbutaṃ disvā rodiṃsu parideviṃsu. Sopi mahājanaṃ gacchantaṃ disvā tattha gantvā paccekabuddhaṃ sañjānitvā “ayaṃ piṇḍāya pavisanto dvārantare mama sammukhībhūto, ahaṃ attano sippaṃ vīmaṃsanto imaṃ pahari”nti āha. Manussā “iminā kira pāpakena paccekabuddho pahaṭo, gaṇhatha gaṇhathā”ti pothetvā tattheva naṃ jīvitakkhayaṃ pāpesuṃ. So avīcimhi nibbattitvā yāvāyaṃ mahāpathavī yojanamattaṃ ussannā, tāva paccitvā vipākāvasesena gijjhakūṭamatthake saṭṭhikūṭapeto hutvā nibbatti. Satthā tassa imaṃ pubbakammaṃ kathetvā, “bhikkhave, bālassa nāma sippaṃ vā issariyaṃ vā uppajjamānaṃ anatthāya uppajjati. Bālo hi sippaṃ vā issariyaṃ vā labhitvā attano anatthameva karotī”ti anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha.

“Yāvadeva anatthāya, ñattaṃ bālassa jāyati;
Hanti bālassa sukkaṃsaṃ, muddhamassa vipātaya”nti.

Tattha yāvadevāti avadhiparicchedanatthe nipāto. Ñattanti jānanasabhāvo. Yaṃ sippaṃ jānāti, yamhi vā issariye yase sampattiyañca ṭhito janena ñāyati, pākaṭo paññāto hoti, tassetaṃ nāmaṃ. Sippaṃ vā hi issariyādibhāvo vā bālassa anatthāyeva jāyati. Taṃ nissāya so attano anatthameva karoti. Hantīti vināseti. Sukkaṃsanti kusalakoṭṭhāsaṃ, bālassa hi sippaṃ vā issariyaṃ vā uppajjamānaṃ kusalakoṭṭhāsaṃ ghātentameva uppajjati. Muddhanti paññāyetaṃ nāmaṃ. Vipātayanti viddhaṃsayamānaṃ. Tassa hi taṃ sukkaṃsaṃ hanantaṃ paññāsaṅkhātaṃ muddhaṃ vipātentaṃ viddhaṃsentameva hantīti.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsu.

Saṭṭhikūṭapetavatthu terasamaṃ.

V. 13. The Sledge-Hammer Ghost

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

72. When to his disadvantage a simpleton acquires knowledge,
It injures the fortune of the simpleton and crushes his head.

This religious instruction was given by the Teacher while in residence at Veḷuvana about a sledge-hammer ghost.

For under the same circumstances as in the preceding story Elder Moggallāna the Great, while descending from Vulture Peak with Elder Lakkhaṇa, smiled on reaching a certain spot. When Elder Lakkhaṇa asked him why he smiled, he said, “Wait until we are in the presence of the Exalted One and then ask me.” When Moggallāna the Great had completed his alms-pilgrimage, he approached the Teacher, saluted him, and sat down respectfully on one side. Thereupon his companion asked him the same question again. Moggallāna replied as follows, “Brother, I saw a ghost three-quarters of a league in height. Sixty thousand sledge-hammers, blazing and burning, rose and fell uninterruptedly on top of his head. Again and again they broke his skull, and again and again his skull sprang up again. When I saw him I smiled, for I thought to myself, ‘In my present state of existence I never before saw such a being.’ ” In the Petavatthu occurs the following Stanza, together with many others, relating to this very ghost:

Full sixty thousand sledge-hammers on all sides
Fall on your head and break your skull.

The Teacher listened to the Elder’s story and said, “Monks, I also saw that very creature as I sat on the Throne of Enlightenment. But out of compassion for others, I did not say, ‘As for those who will not believe my words, may it be to their disadvantage.’ Now, however, I will make Moggallāna my witness and tell what I saw.” When the monks heard this, they asked about the ghost’s misdeed in a previous state of existence. Thereupon the Teacher related the following

13 a. Story of the Past: The stone-thrower and his pupil

Once upon a time, the story goes, there lived in Benāres a cripple who was an adept at the art of slinging stones. He used to sit at the city-gate under a certain banyan-tree, sling stones, and cut the leaves of the tree. The boys of the city would say to him, “Make an elephant for us, make a horse for us;” and he would make every animal they asked him to. As a reward he received from them food both hard and soft. One day, as the king was on his way to the pleasure-garden, he came to this place. The boys left the cripple within the shoots of the banyan-tree and ran away. Now it was noon when the king stopped and went in among the roots of the tree, and his body was overspread with the chequered shade.

“What does this mean?” said he, looking up. Seeing leaves cut in the forms of elephants and horses, he asked, “Whose work is this?” On being informed that it was the work of the cripple, he sent for him and said to him, “I have a house-priest who is excessively talkative. However little be said to him, he talks much and wearies me. Could you throw a pint-pot of goat’s dung into his mouth?” “I could, your majesty. Have goat’s dung brought, seat yourself behind a curtain with the house-priest, and I shall know just how to go to work.” The king did as the cripple suggested.

The cripple made a hole in the curtain with the tip of a knife. While the house-priest talked with the king, whenever he opened his mouth, the cripple threw in a pellet of goat’s dung, and the house-priest swallowed every pellet thrown into his mouth. When the goat’s dung was exhausted, the cripple shook the curtain. The king, understanding by this sign that the goat’s dung was exhausted, said, “Teacher, while I am engaged in conversation with you, it is impossible for me to finish what I am saying. You talk so much that even in the act of swallowing a pint-pot of goat’s dung you cannot keep silent.” The Brahman immediately became silent. From that time on, he dared not open his mouth and talk with the king. The king remembered the skillful work of the cripple, caused him to be summoned, and said to him, “Through you I have gained happiness.” In token of his satisfaction, he gave him the Eightfold Gifts, and four fine large villages, north, east, south, and west of the city. Knowing this, a minister of the king who was his counselor in things temporal and spiritual pronounced the following Stanza,

Capital skill indeed! but, good or bad,
See, by a cripple’s throw, were won villages in the four quarters!

Now the minister at that time was this very Exalted One.

Now a certain man, observing the worldly prosperity won by the cripple, thought to himself, “This man, born a cripple, has won great prosperity through this art of his. I also ought to learn this art.” So he approached the cripple, bowed to him, and said to him, “Teacher, impart to me this art.” “Good friend, I cannot do so.” Although his request had been refused, he thought to himself, “Let be, I will win his favor.” Accordingly he bathed and rubbed the cripple’s hands and feet for a long time, and having thus won his favor, repeated his request. The cripple thought to himself, “This man has been exceedingly kind to me.” And unable to refuse his request, he taught him the art. Having so done, he said to him, “Good sir, your training is now complete; what will you do now?” “I shall go out into the world and display my art.” “What will you do?” “I will hit a cow or a man and kill him.” “Good sir, the penalty for killing a cow is a hundred pieces of money and for killing a man a thousand. Even with son and wife, you will not be able to pay. Do not commit murder. Look for something that has neither mother nor father and for hitting which there is no penalty.”

“Very well,” said the man. So placing stones in a fold of his garment, he walked about looking for just that sort of target. First he saw a cow. “This animal has a consort,” thought he. Therefore he did not dare hit the cow. Then he saw a man. But he thought to himself, “This being has a mother and father.” Therefore he did not dare hit the man. Now at that time a Private Buddha named Sunetta resided in a bower of leaves and grass near the city. When the man saw him enter the city through the gate for the purpose of receiving alms, he thought to himself, “This man has neither mother nor father. If I hit him, I shall have no penalty to pay; I will try my skill by hitting him.” So aiming a stone at the right ear of the Private Buddha, he let fly. The stone entered the Private Buddha’s right ear and came out of his left ear. The Private Buddha suffered intense pain, was unable to continue his alms-pilgrimage, and returning to his bower of leaves through the air, passed into Nibbāna.

When the Private Buddha failed to come, the people thought, “Something must have gone wrong with him.” Accordingly they went to his hermitage, and when they saw that he had passed into Nibbāna, they wept and lamented. The man who hit the Private Buddha saw the multitude flock to his hermitage and went thither also. Recognizing the Private Buddha, he said, “It was he who met me face to face at the gate as he entered the city, and I hit him in trying my skill.” The multitude said, “This wicked fellow says that he hit the Private Buddha. Catch him! catch him!” And straightway they beat him and then and there deprived him of life. He was reborn in the Avīci Hell. Until this great earth was elevated a league, during all that time he suffered torment. Thereafter, because the fruit of his evil deed was not yet exhausted, he was reborn on the summit of Vulture Peak as a sledge-hammer ghost.

The Teacher, after relating the story of his deed in a previous state of existence, said, “Monks, if a simpleton acquires art or power, it results to his disadvantage; for a simpleton who acquires art or power turns it to his own hurt.” And joining the connection and preaching the Law, he pronounced the following Stanza,

72. When to his disadvantage a simpleton acquires knowledge,
It injures the fortune of the simpleton and crushes his head.

  1. The Story of the Present is from Saṁyutta, xix: ii. 254 ff. Cf. stories v. 12, x. 6, xx. 6, and xxii. 2. The Story of the Past follows closely the Story of the Past in Jātaka 107: i. 418-420. The Jātaka, however, says nothing about the cripple’s killing a Private Buddha. The Dhammapada Commentary story is evidently derived Peta-Vatthu Commentary, iv. 16: 282-286. Text: N ii. 68-73.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.