Tích Đại Đức Tissa Cúng Dường Cao Thượng
Tissattheravatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 205 Kinh Pháp Cú, phẩm An Lạc, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 205 )
“Pavivekarasaṃ pitvā,
Rasaṃ upasamassa ca;
Niddaro hoti nippāpo,
Dhammapītirasaṃ pivaṃ.”
“Đã nếm vị độc cư,
Được hưởng vị nhàn tịnh,
Không sợ hãi, không ác,
Nếm được vị pháp hỷ.”
(Ngài HT Minh Châu)
Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết lên khi Ngài ngự tại thành Vesāli, đề cập đến vị Tỳ Khưu.
Khi Đức Thế Tôn tuyên bố rằng:
- Nầy các Tỳ Khưu! Từ nay đến bốn tháng nữa, Như Lai sẽ viên tịch Níp Bàn.
Nghe xong như vậy, cả 700 vị Tỳ Khưu ở gần Ngài phát sanh kinh cảm, cả chư Thánh Thinh Văn Lậu Tận cũng phát sanh sự động tâm về pháp hữu vi vô thường. Những Tỳ Khưu phàm không cầm được nước mắt. Chư Tỳ Khưu họp thành từng nhóm, đi quanh hỏi ý kiến nhau:
“Chúng ta phải làm gì đây?”
Khi ấy, có vị Tỳ Khưu tên là Tissa, tự nghĩ rằng: “Nghe nói còn bốn tháng nữa, Đức Bổn Sư sẽ Đại Níp Bàn, thế mà ta chưa diệt được tham ái, ta sẽ phải nỗ lực hành đạo đắc quả A La Hán, trong khi Đức Bổn Sư còn tại tiền.”
Thế rồi, vị ấy nguyện hành Sa môn pháp trong cả bốn oai nghi, sống hạnh độc cư, không thân cận với chư Tăng, hoặc không trò chuyện với Tỳ Khưu nào cả. Chư Tăng nói với vị ấy rằng:
- Nầy hiền giả Tissa! Tại sao hiền giả lại làm như thế?
Vị ấy cũng chẳng màng nghe chuyện chư Tăng nói. Chư Tăng bèn đem chuyện nầy mách lại với Đức Bổn Sư.
- Bạch Ngài! Đại Đức Tissa không yêu nể Đức Thế Tôn.
Đức Bổn Sư cho gọi Đại Đức Tissa đến, hỏi rằng:
- Nầy Tissa! Vì sao ngươi lại làm như vậy.
Đại Đức Tissa trình bày việc mình suy nghĩ lên Đức Bổn Sư, Ngài tán thán, nói rằng:
- Nầy các Tỳ Khưu! Những vị nào yêu mến Ta, hãy noi gương của Tissa nầy. Dầu ai cúng dường hương hoa, tràng hoa đến ta, ta không gọi là họ cúng dường Ta cao thượng. Trái lại, những ai hành đạo đúng theo chánh pháp, chính họ là người cúng dường Ta cao thượng vậy.
Rồi Ngài nói lên kệ ngôn rằng:
“Pavivekarasaṃ pitvā,
Rasaṃ upasamassa ca;
Niddaro hoti nippāpo,
Dhammapītirasaṃ pivaṃ.”
“Đã nếm vị độc cư,
Được hưởng vị nhàn tịnh,
Không sợ hãi, không ác,
Nếm được vị pháp hỷ.”
(Ngài HT Minh Châu)
CHÚ GIẢI:
Pavivekarasam: Vị phát sanh từ nơi thanh vắng, ám chỉ sự an vui của trạng thái độc cư.
Pitvā: Do sự hành thiền làm cho thấu rõ Tứ Đế, nhất là khổ đế mà nếm được hương vị độc cư nhàn tịnh.
Rasaṃ upasamassa ca: Nếm vị của Níp bàn tịnh lạc, không còn phiền não.
Niddaro hoti: Do được uống hai thứ nước cam lồ độc cư và nhàn lạc.
Dhammapītirasaṃ pivaṃ: Nhờ 9 Pháp Thánh mà phỉ lạc phát sanh. Người hưởng được thứ gì phỉ lạc của bậc Thánh Nhân thì không còn buồn rầu đau khổ, quấy ác nữa.
Cuối thời Pháp Đại Đức Tissa đắc A La Hán, kỳ dư đại chúng thính pháp đều hưởng được lợi ích.
Nhân lành tuy có, thiếu công phu
Đại Đức cầu mong quả đặc thù.
“Cõi Phật”, Phật về trong bốn tháng
Đời ta, ta sẽ ở bao thu.
Cúng dường hạ cấp đành buông bỏ
Hành đạo cao nhân quyết tiến tu
Tăng chẳng thấu tình, đem xử lý.
Thầy khen một tiếng, khỏe chăng ru?
DỨT TÍCH ĐẠI ĐỨC TISSA
Tissattheravatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Pavivekarasanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā vesāliyaṃ viharanto aññataraṃ bhikkhuṃ ārabbha kathesi.
Satthārā hi, “bhikkhave, ahaṃ ito catūhi māsehi parinibbāyissāmī”ti vutte satthu santike satta bhikkhusatāni santāsaṃ āpajjiṃsu, khīṇāsavānaṃ dhammasaṃvego uppajji, puthujjanā assūni sandhāretuṃ nāsakkhiṃsu. Bhikkhū vaggā vaggā hutvā “kiṃ nu kho karissāmā”ti mantentā vicaranti. Atheko tissatthero nāma bhikkhū “satthā kira catumāsaccayena parinibbāyissati, ahañcamhi avītarāgo, satthari dharamāneyeva mayā arahattaṃ gaṇhituṃ vaṭṭatī”ti catūsu iriyāpathesu ekakova vihāsi. Bhikkhūnaṃ santike gamanaṃ vā kenaci saddhiṃ kathāsallāpo vā natthi. Atha naṃ bhikkhū āhaṃsu – “āvuso, tissa tasmā evaṃ karosī”ti. So tesaṃ kathaṃ na suṇāti. Te tassa pavattiṃ satthu ārocetvā, “bhante, tumhesu tissattherassa sineho natthī”ti āhaṃsu. Satthā taṃ pakkosāpetvā “kasmā tissa evaṃ akāsī”ti pucchitvā tena attano adhippāye ārocite “sādhu, tissā”ti sādhukāraṃ datvā, “bhikkhave, mayi sineho tissasadisova hotu. Gandhamālādīhi pūjaṃ karontāpi neva maṃ pūjenti, dhammānudhammaṃ paṭipajjamānāyeva pana maṃ pūjentī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Pavivekarasaṃ pitvā, rasaṃ upasamassa ca;
Niddaro hoti nippāpo, dhammapītirasaṃ piva”nti.
Tattha pavivekarasanti pavivekato uppannaṃ rasaṃ, ekībhāvasukhanti attho. Pitvāti dukkhapariññādīni karonto ārammaṇato sacchikiriyāvasena pivitvā. Upasamassa cāti kilesūpasamanibbānassa ca rasaṃ pitvā. Niddaro hotīti tena ubhayarasapānena khīṇāsavo bhikkhu abbhantare rāgadarathādīnaṃ abhāvena niddaro ceva nippāpo ca hoti. Rasaṃ pivanti navavidhalokuttaradhammavasena uppannaṃ pītirasaṃ pivantopi niddaro nippāpo ca hoti.
Desanāvasāne tissatthero arahattaṃ pāpuṇi, mahājanassāpi sātthikā dhammadesanā ahosīti.
Tissattheravatthu sattamaṃ.
XV. 7. By Righteousness Men honor the Buddha
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
205. He who has tasted the sweetness of solitude...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Vesāli with reference to a certain monk.
For when the Teacher said, “Monks, four months hence I shall pass into Nibbāna,” seven hundred monks of his retinue were overwhelmed with fear, the Arahats experienced religious exaltation, while those who had not yet attained the Fruit of Conversion were unable to restrain their tears. The monks gathered in little groups and went about consulting each other and asking, “What are we to do?”
Now a certain monk named Elder Tissa thought to himself, “If it be true that at the expiration of four months the Teacher will pass into Nibbāna, inasmuch as I am not yet free from the evil passions, it behooves me to win Arahatship while the Teacher yet remains alive.” Accordingly he adopted the Four Postures and kept residence by himself, never associating with the other monks and never talking or conversing with any one. The monks said to him, “Brother Tissa, why do you act in this manner?” Tissa, however, paid no attention to what they said.
The monks therefore reported the matter to the Teacher, saying, “Reverend Sir, Elder Tissa has no affection for you.” The Teacher caused Tissa to be summoned and asked him, “Tissa, why do you act in this manner?” When Tissa told the motive that actuated him, the Teacher applauded his conduct, saying, “Well done, Tissa.” Then said the Teacher to the monks, “Monks, he only that is like Tissa has real affection for me. For though men honor me with perfumes and garlands, they honor me not. But they that practice the Higher and the Lower Law, they alone truly honor me.” So saying, he pronounced the following Stanza,
205. He who has tasted the sweetness of solitude and the sweetness of tranquillity,
Such a one is free from fear and free from sin, for he drinks the sweetness of the joy of the Law.
- Cf. Stories xii. 10 and xxv. 4. Text: N iii. 267-269.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.