Chú giải Pháp Cú · Kệ 204 · Dhp 204

Tích Đức Vua Pasenadi Bớt An

Pasenadikosalavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 204 Kinh Pháp Cú, phẩm An Lạc, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 204 )

“Ārogyaparamā lābhā,
Santuṭṭhiparamaṃ dhanaṃ;
Vissāsaparamā ñāti,
Nibbānaṃ paramaṃ, sukhaṃ.”

“Không bệnh, lợi tối thượng,
Biết đủ, tiền tối thượng.
Thành tín đối với nhau,
Là bà con tối thượng,
Niết bàn, lạc tối thượng.”
(Ngài HT Minh Châu)

Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết lên khi Ngài ngự nơi Jetavana, đề cập đến Đức Vua Pasenadi.

Một thời, Đức Vua Pasenadi thường dùng cơm hấp chung với canh và các món ăn khác. Một hôm, sau khi độ điểm tâm sáng, Đức Vua không thắng được sự hôm trầm vì ăn quá no, bèn ngự giá đến bái yết Đức Bổn Sư rồi đi bách bộ trước mặt Ngài với vẻ mệt mỏi, mặc dù buồn ngủ hết sức nhưng không dám nằm dài xuống. Đức Vua ngồi qua một bên. Khi ấy, Đức Bổn Sư hỏi Đức Vua rằng:

- Tâu Đại Vương! Có phải chưa được nghỉ ngơi thoải mái mà Đại Vương đã đến nơi đây chăng?

- Bạch Ngài, phải, sau bữa cơm Trẫm rất đau khổ nặng nề.

Đức Bổn Sư bèn nói với Đức Vua rằng:

- Tâu Đại Vương, sự thọ thực quá nhiều hằng có cái khổ như thế.

Rồi Ngài thuyết lên kệ ngôn dạy rằng:

Sau bài kệ nầy, Đức Bổn Sư dạy tiếp rằng:

- Tâu Đại Vương! Phàm trong sự ăn uống, con người phải biết tiết độ. Người biết tiết độ trong ăn uống hằng được sự an vui.

Rồi Ngài dạy thêm câu kệ ngôn:
“Người sẽ lâu già, bảo trì được tuổi thọ.”

Đức Vua không thể học thuộc được bài kệ nầy, Đức Bổn Sư bảo Hoàng diệt Sudassana đang đứng bên đó: “Hãy học thuộc bài kệ nầy”. Sau khi Sudassana học thuộc bài kệ. Đức Bổn Sư được Sudassana hỏi rằng:

- Bạch Ngài, con sẽ làm gì với kệ ngôn nầy?

- Khi nào Đức Vua độ cơm đến vắt cuối cùng, Hoàng diệt nên đọc lên bài kệ nầy, Đức Vua sẽ thấu rõ nghĩa lý của nó, sẽ ném bỏ vắt cơm cuối cùng. Vả lại, trong vắt cơm ấy có được bao nhiêu hạt cơm, thì đến giờ nấu cơm cho Đức Vua, hãy bảo đầu bếp bớt ra bấy nhiêu hạt gạo.

- Lành thay, bạch Ngài.

Thế rồi, suốt cả hai buổi sáng và chiều, khi Đức Vua ngự thiện đến vắt cơm cuối cùng, hoàng diệt Sudassana liền đọc lên bài kệ ấy. Trong vắt cơm cuối cùng được bỏ đếm được bao nhiêu hạt cơm thì bảo đều bớt ra bấy nhiêu hạt gạo.

Mỗi lần được nghe kệ ngôn, Đức Vua ban thưởng Sudassana ngàn đồng vàng. Thời gian sau, Đức Vua tận được thói quen tri túc với một đấu gạo (độ 1 lít) mỗi bữa ăn và được an vui, nhưng Long thể có ốm bớt.

Thế rồi, một hôm Đức Vua đến bái yết Đức Bổn Sư, bạch rằng:

- Bạch Ngài, bây giò Trẫm được an vui. Hơn thế nữa, Trẫm còn có thể săn đuổi thú, bắt được hươu nai và ngựa rừng nữa. Lúc trước Trẫm hay chiến đấu với cháu Trẫm, nhưng mới đây Trẫm gả Công Nương Kim Cương cho Hoàng diệt. Trẫm đã ban cho Công Chúa làng Kāsi để Công chúa có thể làm hồ tắm. Sự tranh chấp giữa Hoàng diệt và Trẫm đã chấm dứt. Nhờ vậy, Trẫm càng được an vui. Hôm trước viên bảo ngọc của Hoàng Gia bị mất cắp, nay nó được tìm thấy, trở về với Trẫm, do đó Trẫm càng thêm an vui. Muốn được tình thân thiện với các Thinh Văn của Ngài, do đó Trẫm lại càng được an vui hơn.

- Tâu Đại Vương! Thật vậy, vô bịnh là lợi tối thượng, biết tri túc là khi được bạc tiền, tình thân mật là những quyến thuộc tốt nhất, sự an vui của Níp Bàn không có gì sánh được.

Rồi Ngài thuyết lên kệ ngôn rằng:

“Ārogyaparamā lābhā,
Santuṭṭhiparamaṃ dhanaṃ;
Vissāsaparamā ñāti,
Nibbānaṃ paramaṃ, sukhaṃ.”

“Không bệnh, lợi tối thượng,
Biết đủ, tiền tối thượng.
Thành tín đối với nhau,
Là bà con tối thượng,
Niết bàn, lạc tối thượng.”
(Ngài HT Minh Châu)

CHÚ GIẢI:

Ārogyaparamā: Trạng thái vô bịnh là tối thượng. Quả vậy, những người có bịnh dầu đang có lợi cũng giống như không có lợi, bởi thế, tất cả đều có đến cho người vô bịnh, vì thế Đức Bổn Sư đã dạy sự vô bịnh là lợi tối thắng.

Santuṭṭhiparamaṃ dhanaṃ: Người cư sĩ hoặc bậc xuất gia nào có sự vui thích đến lợi lộc của mình hoặc tài sản của mình, sự vui thích ấy là biết đủ hay tri túc. Nó là của cải cao thượng hơn những thứ của cải khác.

Vissāsaparamā ñāti: Ví như mẹ, cha của một người nào mà đối với họ không có tình thân mật thì mặc dầu không phải là bà con, họ hàng, người thân mật cũng là quyến thuộc tối thượng. Do đó, Đức Bổn Sư đã nói tình thân mật là quyến thuộc tối thượng vậy.

Không có sự an vui nào sánh bằng sự an vui của Níp Bàn, nên nói Níp Bàn là lạc tối thượng vậy.

Cuối thời pháp nhiều người đắc chứng Đạo Quả Dự Lưu.

Lợi dưỡng như Vua dễ phát phì
Nặng nề Long thể, chẳng vui chi
Ngồi lo mệt mõi, sanh buồn ngủ
Đừng sợ hôn trầm ráng sức đi.
Phật dạy bớt cơm bằng giọng kệ
Cháu mình nhắc cậu với bài thơ.
Uống ăn tiết độ, người tinh tiến
Vô bịnh, nương nhờ hạnh xả ly

DỨT TÍCH ĐỨC VUA PASENADI

Pasenadikosalavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Ārogyaparamā lābhāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto rājānaṃ pasenadikosalaṃ ārabbha kathesi.

Ekasmiñhi samaye rājā taṇḍuladoṇassa odanaṃ tadupiyena sūpabyañjanena bhuñjati. Ekadivasaṃ bhuttapātarāso bhattasammadaṃ avinodetvā satthu santikaṃ gantvā kilantarūpo ito cito ca samparivattati, niddāya abhibhūyamānopi ujukaṃ nipajjituṃ asakkonto ekamantaṃ nisīdi. Atha naṃ satthā āha – “kiṃ, mahārāja, avissamitvāva āgatosī”ti? “Āma, bhante, bhuttakālato paṭṭhāya me mahādukkhaṃ hotī”ti. Atha naṃ satthā, “mahārāja, atibahubhojanaṃ evaṃ dukkhaṃ hotī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Middhī yadā hoti mahagghaso ca,
Niddāyitā samparivattasāyī;
Mahāvarāhova nivāpapuṭṭho,
Punappunaṃ gabbhamupeti mando”ti. (dha. pa. 325); –

Imāya gāthāya ovaditvā, “mahārāja, bhojanaṃ nāma mattāya bhuñjituṃ vaṭṭati. Mattabhojino hi sukhaṃ hotī”ti uttari ovadanto imaṃ gāthamāha –

“Manujassa sadā satīmato,
Mattaṃ jānato laddhabhojane;
Tanukassa bhavanti vedanā,
Saṇikaṃ jīrati āyupālaya”nti. (saṃ. ni. 1.124);

Rājā gāthaṃ uggaṇhituṃ nāsakkhi, samīpe ṭhitaṃ pana bhāgineyyaṃ, sudassanaṃ nāma māṇavaṃ “imaṃ gāthaṃ uggaṇha, tātā”ti āha. So taṃ gāthaṃ uggaṇhitvā “kiṃ karomi, bhante”ti satthāraṃ pucchi. Atha naṃ satthā āha – “rañño bhuñjantassa osānapiṇḍakāle imaṃ gāthaṃ vadeyyāsi, rājā atthaṃ sallakkhetvā yaṃ piṇḍaṃ chaḍḍessati, tasmiṃ piṇḍe sitthagaṇanāya rañño bhattapacanakāle tattake taṇḍule hareyyāsī”ti. So “sādhu, bhante”ti sāyampi pātopi rañño bhuñjantassa osānapiṇḍakāle taṃ gāthaṃ udāharitvā tena chaḍḍitapiṇḍe sitthagaṇanāya taṇḍule hāpesi. Rājāpi tassa gāthaṃ sutvā sahassaṃ sahassaṃ dāpesi. So aparena samayena nāḷikodanaparamatāya saṇṭhahitvā sukhappatto tanusarīro ahosi.

Athekadivasaṃ satthu santikaṃ gantvā satthāraṃ vanditvā āha – “bhante, idāni me sukhaṃ jātaṃ, migampi assampi anubandhitvā gaṇhanasamattho jātomhi. Pubbe me bhāgineyyena saddhiṃ yuddhameva hoti, idāni vajīrakumāriṃ nāma dhītaraṃ bhāgineyyassa datvā so gāmo tassāyeva nhānacuṇṇamūlaṃ katvā dinno, tena saddhiṃ viggaho vūpasanto, imināpi me kāraṇena sukhameva jātaṃ. Kulasantakaṃ rājamaṇiratanaṃ no gehe purimadivase naṭṭhaṃ, tampi idāni hatthapattaṃ āgataṃ, imināpi me kāraṇena sukhameva jātaṃ. Tumhākaṃ sāvakehi saddhiṃ vissāsaṃ icchantena ñātidhītāpi no gehe katā, imināpi me kāraṇena sukhameva jāta”nti. Satthā “ārogyaṃ nāma, mahārāja, paramo lābho, yathāladdhena santuṭṭhabhāvasadisampi dhanaṃ, vissāsasadiso ca paramā ñāti, nibbānasadisañca sukhaṃ nāma natthī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Ārogyaparamā lābhā, santuṭṭhiparamaṃ dhanaṃ;
Vissāsaparamā ñāti, nibbānaparamaṃ sukha”nti.

Tattha ārogyaparamā lābhāti arogabhāvaparamā lābhā. Rogino hi vijjamānāpi lābhā alābhāyeva, tasmā arogassa sabbalābhā āgatāva honti. Tenetaṃ vuttaṃ – “ārogyaparamā lābhā”ti. Santuṭṭhiparamaṃ dhananti gihino vā pabbajitassa vā yaṃ attanā laddhaṃ attano santakaṃ, teneva tussanabhāvo santuṭṭhī nāma sesadhanehi paramaṃ dhanaṃ. Vissāsaparamā ñātīti mātā vā hotu pitā vā, yena saddhiṃ vissāso natthi, so aññātakova. Yena aññātakena pana saddhiṃ vissāso atthi, so asambandhopi paramo uttamo ñāti. Tena vuttaṃ – “vissāsaparamā ñātī”ti. Nibbānasadisaṃ pana sukhaṃ nāma natthi, tenevāha – nibbānaparamaṃ sukhanti.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Pasenadikosalavatthu chaṭṭhaṃ.

XV. 6. On Moderation in Eating

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

204. Health is the greatest acquisition, contentment is the greatest wealth,
Confidence is the best of relatives, Nibbāna is the greatest happiness.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to King Pasenadi Kosala.

For at a certain period of his life King Pasenadi Kosala used to eat boiled rice cooked by the bucketful, and sauce and curry in proportion. One day after he had eaten his breakfast, unable to shake off the drowsiness occasioned by over-eating, he went to see the Teacher and paced back and forth before him with a very weary look. Overcome with a desire to sleep, but not daring to lie down and stretch himself out, he sat down on one side. Thereupon the Teacher said to him, “Did you come, great king, before you were well rested?” “Oh no, Reverend Sir; but I always suffer greatly after eating a meal.” Then said the Teacher to him, “Great king, over-eating brings just such suffering in its train.” So saying, the Teacher pronounced the following Stanza,

325. If a man gives way to indolence, eats overmuch.
Spends his time in sleep, and lies and rolls about
Like a great hog fed on grain.
Such a simpleton will enter the womb again and again.

After admonishing the king with this Stanza, the Teacher continued, “Great king, one ought to observe moderation in eating, for in moderate eating there is comfort.” And admonishing him further, the Teacher pronounced the following Stanza,

If a man be ever mindful, if he observe moderation in taking food.
His sufferings will be but slight; he will grow old slowly, preserving his life.

The king was unable to memorize this Stanza. So the Teacher said to the king’s nephew, Prince Good-looking, Sudassana, who stood near, “Memorize this Stanza.” Sudassana asked the Teacher, “Reverend Sir, after I have memorized this Stanza, what shall I do with it?” The Teacher replied, “When the king eats his meal, just as he is about to take the last lump of boiled rice, you must recite this Stanza. The king will understand its purport and will immediately throw away that lump of rice. When it comes time to boil the rice for the king’s next meal, you must fetch just as many grains of fresh rice as there were grains of boiled rice in that lump of rice.” “Very well, Reverend Sir,” replied Sudassana. So both evening and morning, when the king ate his meal, his nephew would recite that Stanza just as the king was about to take the last lump of boiled rice, and would fetch for his next meal just as many grains of fresh rice as there were grains of boiled rice in the lump of boiled rice which the king had thrown away. And every time the king heard that Stanza recited, he gave away a thousand pieces of money in alms. The king contented himself with a pint-pot of boiled rice a day, never exceeding that amount. After a time he became cheerful and lean.

One day the king went to pay his respects to the Teacher, and having saluted the Teacher, said to him, “Reverend Sir, now I am happy. Once more I am able to follow the chase and to catch wild beasts and horses. I used to quarrel with my nephew. But recently, however, I gave my nephew my daughter, the Princess Vajirā, to wife. I have given her this village, that she may have a pool wherein to bathe. My quarrels with my nephew have ceased, and for this reason also I am happy. The other day a precious stone, the property of the royal household was lost; this has but recently returned to my hand, and for this reason also I am happy. Desiring to establish friendly relations with your disciples, I established the daughter of one of your kinsmen in our household, and for this reason also I am happy.” The Teacher replied, “Great king, health is the greatest blessing one can ask for, contentment with whatever one has received is the greatest wealth, confidence is the best of relatives. But there is no happiness that can be compared with Nibbāna.” So saying, he pronounced the following Stanza,

204. Health is the greatest acquisition, contentment is the greatest wealth,
Confidence is the best of relatives, Nibbāna is the greatest happiness.

  1. This story is almost word for word the same as Saṁyutta, iii. 2. 3: i. 81-82. Cf. Story xxiii. 4. Text: N iii. 264-267.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp cùng chủ đề

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này