Tích Đại Phú Phá Sản
Mahādhanaseṭṭhiputtavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 155–156 Kinh Pháp Cú, phẩm Già, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 155-156)
“Acaritvā brahmacariyaṃ,
Aladdhā yobbane dhanaṃ;
Jiṇṇakoñcāva jhāyanti,
Khīṇamaccheva pallale.”
“Acaritvā brahmacariyaṃ,
Aladdhā yobbane dhanaṃ;
Senti cāpātikhīṇāva,
Purāṇāni anutthunaṃ.”
“Lúc trẻ, không Phạm hạnh,
Không tìm kiếm bạc tiền,
Như cò già bên ao,
Ủ rũ, không tôm cá.”
“Lúc trẻ không Phạm hạnh,
Không tìm kiếm bạc tiền;
Như cây cung bị gẫy,
Thở than những ngày qua.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết khi ngự tại Isipatane migadāye (rừng Lộc Giả), đề cập đến con trai ông Bá hộ Mahādhana (Cự Phú).
Tương truyền rằng: Công tử nầy sanh ra trong một gia đình cự phú trong thành Bārāṇasī (Ba La Nại), giàu có đến tám trăm triệu đồng vàng. Song thân của Công tử đã nghĩ rằng: “Gia tộc ta có đại tài sản, ta sẽ giao lại con ta, nó sẽ tiêu xài thoải mái, không cần phải làm việc gì khác.”.
Thế là, ông bà Bá hộ rước thầy về dạy cho Công tử ca, hát, đờn, kèn v.v… (ca vũ nhạc).
Cũng vào thời ấy, trong thành Bārāṇasī ấy cũng có một gia tộc Bá hộ khác, cũng có gia sản là tám trăm triệu đồng vàng, gia tộc nầy cũng chỉ có độc nhất một nàng Tiểu thư, hai ông bà Bá hộ nầy lại cùng có cùng sự suy nghĩ như Bá hộ trên, nên chỉ cho Tiểu thư học khiêu vũ cùng với hòa tấu.
Đến tuổi thành nhơn, Công tử và Tiểu thư nầy được phối ngẫu thành vợ chồng, và một thời gian sau, cả song thân của hai người đều qua đời, hai phần tài sản từ đó được nhập chung về một nhà, tổng cộng là một trăm sáu mươi triệu đồng tiền vàng.
Công tử thường xuyên vào hầu Đức vua, mỗi ngày là ba lần. Bọn du đãng trong thành nghĩ rằng: “Nếu mà Công tử nầy trở nên nghiện rượu, thì có lẽ bọn mình sẽ sung sướng lắm! Vậy ta hãy tìm cách tập cho Công tử chè chén, nhậu nhẹt.”.
Thế rồi, họ mang theo rượu ngon, thịt béo, muối hột, bọc trong một chéo vải, và lấy thêm gia vị như củ hành v.v… ra ngồi bên đường, đón chờ Công tử đi vào triều chầu Đức vua. Khi thấy dạng Công tử đi đến, bọn du thủ du thực bắt đầu uống rượu, bỏ muối hột vào miệng, cắn một củ hành rồi đồng thanh nói:
- Chúc Công tử tiểu chủ sống lâu trăm tuổi! Nhân dịp nầy, chúng tôi ăn uống để chúc mừng Công tử.
Được nghe mấy lời của bọn du thực, lúc đi trở về, Công tử hỏi người chuốc rượu:
- Họ uống nước gì thế?
- Thưa ông chủ, đó là một thứ nước giải lao!
- Nước ấy có ngon ngọt không?
- Thưa ông chủ, trong cõi nhân gian nầy, không có thứ nước nào nên uống cho bằng nước ấy cả!
- Nếu vậy, thì ta cũng phải uống nước ấy mới được.
Thế rồi, Công tử cho người mang rượu đến và tập uống lần lần, từ chút. Không bao lâu, bọn du thực biết tin Công tử đã ghiền rượu, chúng đến tháp tùng Công tử. Công tử có đi đâu, chúng cũng đi theo đông đủ, lúc thì một trăm, có lúc hai trăm. Công tử cho mang theo rượu, uống cho đã rồi ngồi nơi nọ, nơi kia, cho chất tiền vàng cao lên thành đống, vừa nhậu vừa bảo bộ hạ: “Lấy tiền nầy đi mua tràng hoa, lấy tiền mua hương…” và ban thưởng cho ca sĩ hay, vũ nữ và nhạc công giỏi, người một ngàn, người hai ngàn đồng vàng…
Công tử tiêu pha hoang phí như vậy, chẳng bao lâu số tài sản tám trăm triệu đồng của riêng Công tử hết sạch. Vị quản gia cho biết:
- Thưa chủ! Tài sản của ông đã hết sạch rồi!
- Thế phần tài sản của vợ ta không có ư?
- Thưa ông chủ, có ạ!
- Nếu vậy, hãy đem của ấy lại cho ta tiêu xài.
Thế là số tài chánh sau nầy cũng bị Công tử phung phí hết sạch, rồi lần lượt đến ruộng vườn, đất cát, bò xe… cho đến nồi đồng, mâm thau, dụng cụ, thảm, chiếu, tọa cụ v.v… tất cả đều bị Công tử đưa đi bán để lấy tiền ăn. Đến lúc tuổi già, gia tài khánh kiệt, Công tử bán luôn ngôi nhà của mình rồi phải bị chủ nhà mới đuổi ra khỏi nhà. Công tử dắt vợ đi ngụ nhờ ở vách chái nhà người khác, cầm cái mai rùa đi khất thực xin ăn cơm thừa canh cặn của người.
Thế rồi một hôm, Công tử đến trước cửa phước xá. Thấy Công tử thọ lãnh đồ ăn thừa do các Tỳ khưu trẻ bố thí, Đức Bổn Sư mỉm cười. Trưởng lão Ānanda bèn hỏi Ngài về lý do của cái cười nụ ấy. Đức Bổn Sư bèn giải rằng:
- Nầy Ānanda, hãy nhìn xem, vị Công tử con ông Đại Bá hộ ở trong thành nầy đã phung phí hết hai cái gia tài tám trăm triệu đồng vàng rồi dắt vợ đi xin ăn như thế kia! Giá như lúc thiếu niên, Công tử đừng phung phí của cải, siêng năng chăm làm công việc, thì chắc sẽ trở nên đệ nhất Bá hộ ở thành nầy, chẳng sai. Hoặc giả, nếu như Công tử xuất gia hành đạo, ắt đắc quả A La Hán, vợ Công tử cũng đắc quả A Na Hàm…
Giá như lúc trung niên, đừng phung phí của cải, siêng năng, chăm làm việc, chắc sẽ trở nên đệ nhị Bá hộ ở thành nầy, nhược bằng xuất gia hành đạo, chắc sẽ đắc quả A Na Hàm, còn vợ thì đắc quả Tư Đà Hàm.
Giá như lúc lão niên, đừng phung phí của cải, siêng năng chăm làm việc, chắc sẽ trở nên đệ tam Bá hộ trong thành nầy, nhược bằng xuất gia hành đạo, ắt đắc quả Tư Đà Hàm, còn vợ thì đắc quả Tu Đà Hườn, chẳng sai. Còn bây giờ, Công tử đã bỏ cả tài sản của người cư sĩ tại gia, bỏ cả quả báu của bậc xuất gia giải thoát, thành ra phải chịu đói khát y như con cò già đứng dưới cái ao khô.
Nói rồi, Đức Bổn Sư ngâm kệ rằng:
155. “Acaritvā brahmacariyaṃ,
Aladdhā yobbane dhanaṃ;
Jiṇṇakoñcāva jhāyanti,
Khīṇamaccheva pallale.”
Lúc thanh niên cường tráng,đã không kiếm ra tài
sản, cũng chẳng lo tu hành, thì khi già cả chẳng khác gì con cò già bên bờ ao, chẳng kiếm ra mồi, phải khô héo chết mòn.
156. “Acaritvā brahmacariyaṃ,
Aladdhā yobbane dhanaṃ;
Senti cāpātikhīṇāva,
Purāṇāni anutthunaṃ.”
Lúc thanh niên cường tráng, đã không kiếm ra tài sản, cũng chẳng lo tu hành, nên khi già nằm xuống, dáng người như câu cung gãy, cứ buồn than về dĩ vãng.
(Bản dịch của T.K. Trí Đức)
CHÚ GIẢI:
Acaritvā: đã không trú trong Phạm hạnh, tức là không tu hành kiên cố để đắc Đạo quả.
Yobbane: trong thời tráng kiện, của cải chưa sanh có thể làm cho phát sanh, của cải đã sanh có thể gìn giữ được, mà không kiếm được của cải.
Khīṇamaccheva: những kẻ ngu như vậy, giống như những con cò già quá sức già đứng dưới cái ao cạn hết nước, không có cá, tận tuyệt hết lương thực, không có gì để xơi cả. Như trên đã nói, ví như trong ao cạn hết nước, những người nầy không có chỗ ngụ; ví như trong ao hết cá, những người nầy gia tài đã khánh kiệt; ví như những con cò già bay đi đây đó, những người nầy bây giờ không có năng lực để kiếm ra tiền của dầu dưới nước hay trên bộ. Bởi thế cho nên, họ giống như những con cò già nằm ủ rũ bên bờ ao khô vậy.
Cāpātikhīṇāva: bắn ra khỏi cây cung (cāpavi nimuttā). Theo Chú giải thì ví như mũi tên đã thoát ra khỏi cây cung, bay nhanh đi cho đến hết trớn thì rơi xuống, không còn lấy lên được nữa, chỉ còn nằm dưới đất làm mồi cho mấy con mối. Những người nầy cũng thế, đã trải qua ba thời (thanh, trung, lão niên), bây giờ không thể tự cất mình lên được nữa, chỉ còn chờ chết mà thôi. Do đó, Đức Bổn Sư mới ví họ như những mũi tên đã thoát ra khỏi cây cung rồi (cāpāti khīṇāva) vậy.
Purāṇāni anutthunaṃ: những người nầy thở than hối tiếc dĩ vãng, nhớ mãi thời vàng son đã qua rồi, nào là “những khi ăn, nhậu, những lúc đàn ca, nhảy múa mà than ôi! Bây giờ đã không còn…”.
Cuối thời Pháp, nhiều vị Tỳ khưu chứng đắc Thánh quả, nhất là Tu Đà Hườn quả.
Đại phú là con Bá hộ thành,
Phong lưu tài tử, điệu chơi sành,
Sau vì nhậu nhẹt, gia đình khổ,
Bán nốt ngôi nhà để độ sanh.
Đến già, chồng vợ dắt đi xin,
Ăn mót đồ dư, ngủ quán đình.
Phật thấy mỉm cười, A Nan hỏi:
Mới hay: Đại phú ở trong thành,
Không lo tu niệm, chỉ ăn chơi,
Nhậu nhẹt, đờn ca, lúc thiếu thời,
Nay giống cò già bên suối cạn,
Mỏi mòn, đứng đợi hột cơm rơi!
DỨT TÍCH ĐẠI PHÚ PHÁ SẢN
Mahādhanaseṭṭhiputtavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Acaritvāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā isipatane migadāye viharanto mahādhanaseṭṭhiputtaṃ ārabbha kathesi.
So kira bārāṇasiyaṃ asītikoṭivibhave kule nibbatti. Athassa mātāpitaro cintesuṃ – “amhākaṃ kule mahābhogakkhandho, puttassa no hatthe ṭhapetvā yathāsukhaṃ paribhogaṃ karissāma, aññena kammena kiccaṃ natthī”ti. Taṃ naccagītavāditamattameva sikkhāpesuṃ. Tasmiṃyeva nagare aññasmiṃ asītikoṭivibhave kule ekā dhītāpi nibbatti. Tassāpi mātāpitaro tatheva cintetvā taṃ naccagītavāditamattameva sikkhāpesuṃ. Tesaṃ vayappattānaṃ āvāhavivāho ahosi. Atha nesaṃ aparabhāge mātāpitaro kālamakaṃsu. Dveasītikoṭidhanaṃ ekasmiṃyeva gehe ahosi. Seṭṭhiputto divasassa tikkhattuṃ rañño upaṭṭhānaṃ gacchati. Atha tasmiṃ nagare dhuttā cintesuṃ – “sacāyaṃ seṭṭhiputto surāsoṇḍo bhavissati, amhākaṃ phāsukaṃ bhavissati, uggaṇhāpema naṃ surāsoṇḍabhāva”nti. Te suraṃ ādāya khajjakamaṃse ceva loṇasakkharā ca dussante bandhitvā mūlakande gahetvā tassa rājakulato āgacchantassa maggaṃ olokayamānā nisīditvā taṃ āgacchantaṃ disvā suraṃ pivitvā loṇasakkharaṃ mukhe khipitvā mūlakandaṃ ḍaṃsitvā “vassasataṃ jīva sāmi, seṭṭhiputta, taṃ nissāya mayaṃ khādanapivanasamatthā bhaveyyāmā”ti āhaṃsu. So tesaṃ vacanaṃ sutvā pacchato āgacchantaṃ cūḷūpaṭṭhākaṃ pucchi – “kiṃ ete pivantī”ti. Ekaṃ pānakaṃ, sāmīti. Manāpajātikaṃ etanti. Sāmi, imasmiṃ jīvaloke iminā sadisaṃ pātabbayuttakaṃ nāma natthīti. So “evaṃ sante mayāpi pātuṃ vaṭṭatī”ti thokaṃ thokaṃ āharāpetvā pivati. Athassa nacirasseva te dhuttā pivanabhāvaṃ ñatvā taṃ parivārayiṃsu. Gacchante kāle parivāro mahā ahosi. So satenapi satadvayenapi suraṃ āharāpetvā pivanto iminā anukkameneva nisinnaṭṭhānādīsu kahāpaṇarāsiṃ ṭhapetvā suraṃ pivanto “iminā mālā āharatha, iminā gandhe, ayaṃ jano jute cheko, ayaṃ nacce, ayaṃ gīte, ayaṃ vādite. Imassa sahassaṃ detha, imassa dve sahassānī”ti evaṃ vikiranto nacirasseva attano santakaṃ asītikoṭidhanaṃ khepetvā “khīṇaṃ te, sāmi, dhana”nti vutte kiṃ bhariyāya me santakaṃ natthīti. Atthi, sāmīti. Tena hi taṃ āharathāti. Tampi tatheva khepetvā anupubbena khettaārāmuyyānayoggādikampi antamaso bhājanabhaṇḍakampi attharaṇapāvuraṇanisīdanampi sabbaṃ attano santakaṃ vikkiṇitvā khādi. Atha naṃ mahallakakāle yehissa kulasantakaṃ gehaṃ vikkiṇitvā gahitaṃ, te taṃ gehā nīhariṃsu. So bhariyaṃ ādāya parajanassa gehabhittiṃ nissāya vasanto kapālakhaṇḍaṃ ādāya bhikkhāya caritvā janassa ucchiṭṭhakaṃ bhuñjituṃ ārabhi.
Atha naṃ ekadivasaṃ āsanasālāya dvāre ṭhatvā daharasāmaṇerehi diyyamānaṃ ucchiṭṭhakabhojanaṃ paṭiggaṇhantaṃ disvā satthā sitaṃ pātvākāsi. Atha naṃ ānandatthero sitakāraṇaṃ pucchi. Satthā sitakāraṇaṃ kathento “passānanda, imaṃ mahādhanaseṭṭhiputtaṃ imasmiṃ nagare dveasītikoṭidhanaṃ khepetvā bhariyaṃ ādāya bhikkhāya carantaṃ. Sace hi ayaṃ paṭhamavaye bhoge akhepetvā kammante payojayissa, imasmiṃyeva nagare aggaseṭṭhi abhavissa. Sace pana nikkhamitvā pabbajissa, arahattaṃ pāpuṇissa, bhariyāpissa anāgāmiphale patiṭṭhahissa. Sace majjhimavaye bhoge akhepetvā kammante payojayissa, dutiyaseṭṭhi abhavissa, nikkhamitvā pabbajanto anāgāmī abhavissa. Bhariyāpissa sakadāgāmiphale patiṭṭhahissa. Sace pacchimavaye bhoge akhepetvā kammante payojayissa, tatiyaseṭṭhi abhavissa, nikkhamitvā pabbajantopi sakadāgāmī abhavissa, bhariyāpissa sotāpattiphale patiṭṭhahissa. Idāni panesa gihibhogatopi parihīno sāmaññatopi. Parihāyitvā ca pana sukkhapallale koñcasakuṇo viya jāto”ti vatvā imā gāthā abhāsi –
“Acaritvā brahmacariyaṃ, aladdhā yobbane dhanaṃ;
Jiṇṇakoñcāva jhāyanti, khīṇamaccheva pallale.
“Acaritvā brahmacariyaṃ, aladdhā yobbane dhanaṃ;
Senti cāpātikhīṇāva, purāṇāni anutthuna”nti.
Tattha acaritvāti brahmacariyavāsaṃ avasitvā. Yobbaneti anuppanne vā bhoge uppādetuṃ uppanne vā bhoge rakkhituṃ samatthakāle dhanampi alabhitvā. Khīṇamaccheti te evarūpā bālā udakassa abhāvā khīṇamacche pallale parikkhīṇapattā jiṇṇakoñcā viya avajhāyanti. Idaṃ vuttaṃ hoti – pallale udakassa abhāvo viya hi imesaṃ vasanaṭṭhānassa abhāvo, macchānaṃ khīṇabhāvo viya imesaṃ bhogānaṃ abhāvo, khīṇapattānaṃ koñcānaṃ uppatitvā gamanābhāvo viya imesaṃ idāni jalathalapathādīhi bhoge saṇṭhāpetuṃ asamatthabhāvo. Tasmā te khīṇapattā koñcā viya ettheva bajjhitvā avajhāyantīti. Cāpātikhīṇāvāti cāpato atikhīṇā, cāpā vinimuttāti attho. Idaṃ vuttaṃ hoti – yathā cāpā vinimuttā sarā yathāvegaṃ gantvā patitā, taṃ gahetvā ukkhipante asati tattheva upacikānaṃ bhattaṃ honti, evaṃ imepi tayo vaye atikkantā idāni attānaṃ uddharituṃ asamatthatāya maraṇaṃ upagamissanti. Tena vuttaṃ – “senti cāpātikhīṇāvā”ti. Purāṇāni anutthunanti “iti amhehi khāditaṃ iti pīta”nti pubbe katāni khāditapivitanaccagītavāditādīni anutthunantā socantā anusocantā sentīti.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Mahādhanaseṭṭhiputtavatthu navamaṃ.
Jarāvaggavaṇṇanā niṭṭhitā.
Ekādasamo vaggo.
XI. 9. Great-Wealth, the Treasurer’s Son
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
155. They that have not led the holy life, they that have not obtained wealth in time of youth,
Perish like worn-out herons in a pond from which the fish have disappeared.
156. They that have not led the holy life, they that have not obtained wealth in time of youth,
Lie like worn-out bows, bewailing the times that are past.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Isipatana with reference to Great-Wealth, Mahādhana, the treasurer’s son.
Great-Wealth, it appears, was reborn at Benāres in a household worth eighty crores. Now his mother and father thought to themselves, “We have a vast store of wealth in our house, and there is no necessity that our son should do anything else than enjoy himself according to his own good pleasure.” Accordingly they had him instructed in singing and in the playing of musical instruments, and that was all the instruction he received. Likewise in that same city, in a household worth eighty crores of treasure, a daughter also was reborn. The same thought occurred to her mother and father also, and they had her instructed only in dancing and singing. When the two reached the proper age, they were married with the customary ceremonies. In the course of time both their mothers and fathers died, and then there were twice eighty crores of treasure in the same house.
It was the custom of the treasurer’s son to go thrice a day to wait upon the king. One day a company of knaves who lived in that city thought to themselves, “If this treasurer’s son would only get drunk, it would be a fine thing for us. Let us show him how to get drunk.” Accordingly they procured strong drink, put roast meat, salt, and sugar in the skirts of their clothing, and taking roots and bulbs, seated themselves in a convenient place, watching the path by which he would approach from the royal palace. When they saw him approaching, they began to drink strong drink, placed particles of salt and sugar in their mouths, and took the roots and bulbs in their teeth and chewed them. And they said, “Live for a hundred years, master, treasurer’s son! With your help may we be enabled to eat and drink to our heart’s content!” Hearing their words, the youth asked the little page who followed him, “What are these men drinking?” “A certain drink, master.” “Does it taste good?” “Master, in this world of the living there is no kind of drink to be had comparable to this.” “In that case,” said the youth, “I must have some too.” So he caused the page to bring him first a little and then a little more, and all this he drank.
Now in no long time those knaves discovered that he had taken up the habit of drinking. Then they flocked around him. As time went on, the crowd that surrounded him increased in numbers. He would spend a hundred or two hundred pieces of money at a time on strong drink. It became a habit with him after a time, wherever he happened to be, to pile up a heap of coins and call out as he drank, “Take this coin and fetch me flowers! take this coin and fetch me perfumes! This man is clever at dicing, and this man at dancing, and this man at singing, and this man at the playing of musical instruments! Give this man a thousand and this man two thousand!” Thus did he spend his money.
In no long time he squandered all the eighty crores of treasure that formerly belonged to him. Then those knaves said to him, “Master, your wealth is all spent.” “Has my wife no money?” “Yes, master, she has.” “Well then, fetch that too.” And he spent his wife’s money in precisely the same way. As time went on, he sold his fields and his parks and his gardens and his carriages. He even disposed of the vessels he used at meals, of his coverlets and his cloaks and couches. All that belonged to him, he sold, and the proceeds he spent in riotous living. In old age he sold his house, the property of his family. And those to whom he sold his house took possession of it and straightway put him out. Thereupon, taking his wife with him, he found lodging near the house-wall of other people’s houses. With a broken potsherd in his hand, he would go about begging alms. Finally he began to eat the leavings of other people’s food.
One day he stood at the door of a rest-house, receiving leavings of food presented to him by novices and probationers. The Teacher saw him and smiled. Thereupon Elder Ānanda asked him why he smiled. The Teacher explained the reason for his smile by saying, “Ānanda, just look here at Great-Wealth, the treasurer’s son! In this very city he has squandered twice eighty crores of treasure. Now, accompanied by his wife, he is begging alms. For if, in the prime of life, this man had not squandered his wealth, but had applied himself to business, he would have become the principal treasurer in this very city; and if he had retired from the world and become a monk, he would have attained Arahatship, and his wife would have been established in the Fruit of the Third Path. If in middle life he had not squandered his wealth, but had applied himself to business, he would have become the second treasurer; and if he had retired from the world and become a monk, he would have attained the Fruit of the Third Path, and his wife would have been established in the Fruit of the Second Path. If in the latter years of his life he had not squandered his wealth, but had applied himself to business, he would have become the third treasurer; and if he had retired from the world and become a monk, he would have attained the Fruit of the Second Path, and his wife would have been established in the Fruit of Conversion. But now he has fallen away from the wealth of a layman and he has likewise fallen away from the estate of a religious. He has become like a heron in a dried-up pond.” So saying, he pronounced the following Stanzas,
155. They that have not led the holy life, they that have not obtained wealth in time of youth,
Perish like worn-out herons in a pond from which the fish have disappeared.
156. They that have not led the holy life, they that have not obtained wealth in time of youth,
Lie like worn-out bows, bewailing the times that are past.
- Text: N iii. 129-133.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.