Chú giải Pháp Cú · Kệ 153–154 · Dhp 153–154

Tích Phật Thành Đạo

Udānavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 153–154 Kinh Pháp Cú, phẩm Già, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 153-154)

153. “Anekajātisaṃsāraṃ,
Sandhāvissaṃ anibbisaṃ;
Gahakārakaṃ gavesanto,
Dukkhā jāti punappunaṃ.”
154. “Gahakāraka diṭṭhosi,
Puna gehaṃ na kāhasi;
Sabbā te phāsukā bhaggā,
Gahakūṭaṃ visaṅkhataṃ;
Visaṅkhāragataṃ cittaṃ,
Taṇhānaṃ khayamajjhagā.”

“Lang thang bao kiếp sống,
Ta tìm nhưng chẳng gặp,
Người xây dựng nhà nầy,
Khổ thay, phải tái sanh.”
“Ôi! Người làm nhà kia,
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa.
Đòn tay ngươi bị gẫy,
Kèo cột ngươi bị tan,
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong.”

(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã cảm hứng thốt lên khi ngồi dưới gốc cây Bồ Đề, về sau, Ngài thuyết lại thể theo lời yêu cầu của Trưởng lão Ānanda.

Khi Đức Bồ Tát ngồi dưới cây Bồ Đề, vào lúc mặt trời chưa mọc Ngài đã thắng toàn đội binh của Ma Vương. Trong canh đầu đêm ấy, Ngài phá vỡ màn vô minh mà đắc Túc Mạng Minh, vào canh giữa Ngài chứng đắc Thiên Nhãn Minh, vào canh cuối Ngài phát khởi tâm Từ mẫn đối với chúng sanh, quán xét Thập nhị nhân duyên theo lý thuận nghịch (hoặc sanh và diệt) và đắc Lậu Tận Minh. Khi bình minh vừa ló dạng, Ngài đắc quả Chánh Biến Tri với các Pháp huyền diệu. Đó là theo truyền thống của hằng sa chư Phật roi truyền không dứt, khi vừa chứng quả Chánh Giác, Ngài thốt lên lời cảm hứng, xuất khẩu thành kệ như sau:

153. “Anekajātisaṃsāraṃ,
Sandhāvissaṃ anibbisaṃ;
Gahakārakaṃ gavesanto,
Dukkhā jāti punappunaṃ.”
154. “Gahakāraka diṭṭhosi,
Puna gehaṃ na kāhasi;
Sabbā te phāsukā bhaggā,
Gahakūṭaṃ visaṅkhataṃ;
Visaṅkhāragataṃ cittaṃ,
Taṇhānaṃ khayamajjhagā.”

153 – 154. Ta lang thang trong vòng luân hồi qua bao kiếp sống, tìm mãi mà không gặp kẻ làm nhà.

Đau khổ thay, kiếp sống cứ tái diễn mãi.
Hỡi kẻ làm nhà! Nay ta đã gặp được ngươi rồi.
Ngươi không được làm nhà nữa!
Bao nhiêu rui mè của ngươi đều gãy cả rồi,
Kèo cột của ngươi đã tan vụn cả rồi.
Trí ta đã đạt đến Vô thượng Níp Bàn,
Bao nhiêu dục vọng đều dứt sạch cả.
(Bản dịch của T.K. Trí Đức)

CHÚ GIẢI:

Gahakārakaṃ gavesanto: trong khi Ta đang đi tìm tên thợ mộc Ái dục, là người làm nên ngôi nhà gọi là tự ngã của Ta đây. Ta đã từng phát nguyện dưới chân Đức cổ Phật Dīpaṅkara (Nhiên Đăng), xin cho đắc Giác tuệ (Bodhiñāṇa) ngõ hầu có thể thấy gặp tên thợ làm nhà. Từ bấy lâu đến nay, Ta đã trải qua vô số kiếp luân hồi, vô số trăm ngàn lần sanh tử, cho đến vòng luân hồi mà vẫn chưa gặp mặt hắn, vẫn chưa ngộ được Giác tuệ. Vì chưa đạt đến mục đích cứu cánh như thế, nên Ta cứ mãi trôi lăn trong biển luân hồi liên miên bất tận.

Dukkhā jāti punappunaṃ: lời nầy chỉ về nguyên nhân của luân hồi là sự đi tìm tên thợ làm nhà. Một khi còn tái sanh trở đi trở lại còn phải chịu luôn cả lão, bịnh, tử. Dầu chịu khổ nhưng chưa gặp tên thợ làm nhà là chưa quay trở lại, bởi thế mới đi tìm mãi.

Diṭṭho’si: bây giờ Ta đã thấy, đã gặp ngươi, hỡi tên thợ làm nhà! (Tức là Ta đã thấu rõ nguyên nhân sanh tử luân hồi) Ta đã đắc quả Toàn Giác!

Puna gehaṃ: kể từ nay, trong vòng luân hồi nầy, nhà ngươi không còn tạo tác nhà tức là tự ngã cho Ta nữa.

Sabbā te phāsukā bhaggā: Ta đã bẻ gãy tất cả cây làm sườn nhà, tức là những phiền não còn sót lại của ngươi.

Gahakūṭaṃ visaṅkhataṃ: cái nóc nhà gọi là vô minh của cái nhà tự ngã, do nhà ngươi tạo ra, Ta đã phá đổ rồi.

Visaṅkhāragataṃ cittaṃ: bây giờ, tâm Ta đã đạt đến đối tượng (cảnh giới) Níp Bàn Vô vi rồi.

Taṇhānaṃ khayamajjhagā: Ta đã chứng đạt A La Hán, tức là đã đoạn ái dục.

Dưới cội Bồ Đề thắng Quỉ vương,
Một mình chứng đạt Pháp chơn thường,
Thích Ca cảm hứng ngâm bài kệ,
Như của Phật Đà cả thập phương:
“Lang thang giong ruổi khắp san hà,
Kiếm mãi không ra thợ cất nhà,
Luẩn quẩn Luân hồi trong biển khổ,
Vì chưa gặp mặt kẻ oan gia,
Hôm nay, Ta bắt gặp ngươi rồi!
Biển khổ từ đây hết nổi trôi.
Nhà mới, ngươi không quyền cất nữa.
Mè rui, kèo cũ, gãy thì thôi!
Đòn dông cũ cũng đã tiêu tan,
Tâm của Như Lai đạt Níp Bàn,
Ái dục, vô minh đều diệt tận,
Không còn trở lại cõi nhân gian.”.

DỨT TÍCH PHẬT THÀNH ĐẠO

Udānavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Anekajātisaṃsāranti imaṃ dhammadesanaṃ satthā bodhirukkhamūle nisinno udānavasena udānetvā aparabhāge ānandattherena puṭṭho kathesi.

So hi bodhirukkhamūle nisinno sūriye anatthaṅgateyeva mārabalaṃ viddhaṃsetvā paṭhamayāme pubbenivāsapaṭicchādakaṃ tamaṃ padāletvā majjhimayāme dibbacakkhuṃ visodhetvā pacchimayāme sattesu kāruññataṃ paṭicca paccayākāre ñāṇaṃ otāretvā taṃ anulomapaṭilomavasena sammasanto aruṇuggamanavelāya sammāsambodhiṃ abhisambujjhitvā anekehi buddhasatasahassehi avijahitaṃ udānaṃ udānento imā gāthā abhāsi –

“Anekajātisaṃsāraṃ, sandhāvissaṃ anibbisaṃ;
Gahakāraṃ gavesanto, dukkhā jāti punappunaṃ.

“Gahakāraka diṭṭhosi, puna gehaṃ na kāhasi;
Sabbā te phāsukā bhaggā, gahakūṭaṃ visaṅkhataṃ;
Visaṅkhāragataṃ cittaṃ, taṇhānaṃ khayamajjhagā”ti.

Tattha gahakāraṃ gavesantoti ahaṃ imassa attabhāvasaṅkhātassa gehassa kārakaṃ taṇhāvaḍḍhakiṃ gavesanto yena ñāṇena sakkā taṃ daṭṭhuṃ, tassa bodhiñāṇassatthāya dīpaṅkarapādamūle katābhinīhāro ettakaṃ kālaṃ anekajātisaṃsāraṃ anekajātisatasahassasaṅkhātaṃ imaṃ saṃsāravaṭṭaṃ anibbisaṃ taṃ ñāṇaṃ avindanto alabhantoyeva sandhāvissaṃ saṃsariṃ, aparāparaṃ anuvicarinti attho. Dukkhā jāti punappunanti idaṃ gahakārakagavesanassa kāraṇavacanaṃ. Yasmā jarābyādhimaraṇamissitāya jāti nāmesā punappunaṃ upagantuṃ dukkhā, na ca sā tasmiṃ adiṭṭhe nivattati. Tasmā taṃ gavesanto sandhāvissanti attho. Diṭṭhosīti sabbaññutaññāṇaṃ paṭivijjhantena mayā idāni diṭṭhosi. Puna gehanti puna imasmiṃ saṃsāravaṭṭe attabhāvasaṅkhātaṃ mama gehaṃ na kāhasi. Sabbā te phāsukā bhaggāti tava sabbā avasesā kilesaphāsukā mayā bhaggā. Gahakūṭaṃ visaṅkhatanti imassa tayā katassa attabhāvagehassa avijjāsaṅkhātaṃ kaṇṇikamaṇḍalampi mayā viddhaṃsitaṃ. Visaṅkhāragataṃ cittanti idāni mama cittaṃ visaṅkhāraṃ nibbānaṃ ārammaṇakaraṇavasena gataṃ anupaviṭṭhaṃ. Taṇhānaṃ khayamajjhagāti taṇhānaṃ khayasaṅkhātaṃ arahattaṃ adhigatosmīti.

Udānavatthu aṭṭhamaṃ.

XI. 8. Elder Ānanda’s Stanzas

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

153-154. Through a round of countless existences...

This religious instruction was breathed forth by the Teacher while he sat at the foot of the Bo-tree, by way of Solemn Utterance; and at a later time was recited to the Elder Ānanda in answer to a question.

For the Teacher, sitting at the foot of the Bo-tree, before the set of sun, overcame the force of Māra; in the first watch, drove away the darkness that veils previous states of existence; in the middle watch, acquired Supernatural Vision; and in the last watch, out of pity for living beings, by focussing his thoughts on Dependent Originations and meditating on it both forwards and backwards, at sunrise he obtained Complete Enlightenment. Thereupon he breathed forth a Solemn Utterance common to countless thousands of Buddhas, pronouncing the following Stanzas,

153. Through a round of countless existences have I run to no purpose,
Seeking the Builder of the House. Repeated birth is suffering.

154. I see you, Builder of the House. You shall not build the house again.
All your rafters are broken, and your ridge-pole is shattered.
The mind, at rest in Nibbāna, has attained extinction of cravings.

  1. Nidānakathā, Stanzas 278-279 (Jātaka, i. p. 76). The “Builder of the House” is of course Craving, Taṇhā, the cause of rebirth and suffering. Text: N iii. 127-129.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp cùng chủ đề