Chú giải Pháp Cú · Kệ 157 · Dhp 157

Tích Bồ Đề Vương Tử

Bodhirājakumāravatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 157 Kinh Pháp Cú, phẩm Tự Ngã, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 157)

“Attānañce piyaṃ jaññā,
Rakkheyya naṃ surakkhitaṃ;
Tiṇṇaṃ aññataraṃ yāmaṃ,
Paṭijaggeyya paṇḍito.”

“Nếu biết yêu tự ngã,
Phải khéo bảo vệ mình,
Người trí trong ba canh,
Phải luôn luôn tỉnh
thức.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Thế Tôn thuyết khi ngự tại Bhesakaḷāvana, đề cập đến Hoàng tử Bodhi (Bồ Đề).

Tương truyền rằng: Hoàng tử Bodhi cho xây tòa Phi lâu có tên là Kokanada (Hồng Liên), lâu đài nầy không giống như các lâu đài khác, nó dường như nổi trên hư không.

Khi mới khởi công, Hoàng tử Bodhi hỏi ông thợ mộc kỳ tài rằng:

- Người có từng xây dựng tòa Phi lâu nầy cho ai chưa hay đây là công trình đầu tiên của ông vậy?

- Thưa Bệ hạ! Đây là công trình đầu tiên của hạ thần!

Hoàng tử suy nghĩ: “Nếu người thợ mộc nầy xây dựng tòa Phi lâu xong, ta sẽ hạ sát hắn ngay, nếu không y sẽ xây dựng tòa Phi lâu khác cho nhiều người, thì lâu đài của ta chẳng có gì là độc đáo cả. Ta sẽ cho móc mắt y, hay sẽ cho chặt cả tay chân y. Như thế gã sẽ chẳng còn có dịp xây dựng Phi lâu cho bất cứ ai khác.”.

Hoàng tử Bodhi tỏ thật ý mình cho Công tử con Đại thần Sañjīvaka (Xanh Chi Vá Ká) là bạn tâm đắc của mình. Công tử suy nghĩ: “Chắc chắn Hoàng tử sẽ hạ sát người thợ mộc kỳ tài nầy, người có tài nghệ như thế thật hiếm, ta không nên để cho y bị chết oan uổng như thế được. Ta sẽ báo cho y biết.”.

Công tử đến thăm người thợ mộc và hỏi:

- Công việc xây dựng tòa Phi lâu của ông đã xong

chưa?
- Thưa đã xong cả rồi!

- Nếu thế, ông hãy lo bảo vệ lấy mình đi! Hoàng tử Bodhi sẽ sát hại ông khi tòa Phi lâu hoàn tất đấy!

Người thợ mộc vô cùng kinh hãi, nghĩ thầm: “May thật! Ta được tin nầy thật may mắn.”. Ông tạ ơn vị Công tử rằng:

- Mang ơn Công tử đã có lòng tốt báo tin cho tôi được biết, tôi sẽ có cách làm điều lợi ích nên làm!

Khi Hoàng tử Bodhi đến hỏi người thợ mộc rằng:
- Nầy khanh, Phi lâu của Trẫm khanh xây dựng đã

xong chưa?

- Thưa Bệ hạ, chưa xong, còn dở dang nhiều chuyện lắm!

- Còn công việc gì dở dang đâu?

- Tâu Bệ hạ, sau đây, hạ thần sẽ chỉ ra bây giờ. Xin Bệ hạ truyền lịnh cho đem thêm những gỗ súc.

- Gỗ súc gì?

- Tâu bệ hạ, những gỗ tầm bộng (không có lõi) thật khô.

Hoàng tử Bodhi cho người mang gỗ đến theo yêu cầu của người thợ. Bấy giờ, người thợ mộc nói với Hoàng tử Bodhi rằng:

- Tâu bệ hạ! Từ nay trở đi, Ngài không nên đến gần hạ thần. Bởi vì công việc nầy phức tạp, rắc rối lắm sợ e có người ở một bên quấy rầy thì khó xong. Vậy nên, hạ thần xin Bệ hạ cho phép vợ hạ thần đến giờ ăn sẽ mang cơm đến mà thôi.

Ông hoàng chấp nhận ngay:
- Lành thay!

Ông thợ mộc vào trong một gian phòng, ngồi xuống, đẻo những gỗ súc, đóng thành cỗ xe, hình nhân điểu (chim linh) có đủ chỗ ngồi cho cả mình và vợ con. Khi hoàn tất công trình ông bảo vợ ông:

- Bà hãy bán hết đồ đạc trong nhà, rồi thâu vàng bạc để dành sẵn đi.

Bên ngoài khu biệt ốc, Hoàng tử Bodhi cho quân canh gác thật nghiêm ngặt, canh phòng người thợ mộc bỏ trốn. Tuy nhiên khi hoàn tất con chim máy rồi, người thợ mộc bảo vợ rằng:

- Hôm nay, bà hãy về dắt hết mấy đứa trẻ lại đây!

Sau khi độ điểm tâm sáng, ông thợ mộc bảo vợ con vào ngồi trong bụng con chim linh rồi do lỗ trống cửa sổ mà thoát ra ngoài, bay đi lánh nạn.

Mặc kệ những tiếng kêu khóc của đám lính gác: “Tâu bệ hạ, ông thợ mộc chạy trốn.”, ông ta lái máy bay thẳng đến Tuyết Sơn, tìm nơi tốt đẹp hạ cánh. Người thợ mộc đã kiến thiết một thành phố tại đó và được mệnh danh là Vua Chở Gỗ (Kaṭṭhavāhana).

Về phần ông Hoàng, sau khi ông thợ mộc biệt tích, một mặt cho người thỉnh Đức Bổn Sư đến dự lễ khánh thành tòa Phi lâu do mình kiến tạo, một mặt cho rải bốn loại hương thơm như nghệ, hoa lài, v.v… khắp tòa Phi lâu. Từ cổng ngõ trở vào, Đức vua cho trải vải trắng mới tinh.

Người ta nói: Đức vua không có con cho nên đã trải tấm vải lót đường với ý nghĩ: “Nếu số Trẫm có con trai hoặc con gái, chớ không đến nỗi tuyệt tự, thì xin cho Đức Bổn Sư sẽ bước đi trên vải trải này!”.

Khi Bậc Đạo Sư ngự đến, Hoàng tử Bodhi đảnh lễ Ngài bằng cách ngũ thể đầu địa, rước lấy cái bát Ngài và bạch rằng:

- Bạch Thế Tôn! Kính thỉnh Ngài vào cung.

Đức Bổn Sư không tiến bước dầu Hoàng tử Bodhi có thỉnh cầu đôi ba lượt, Đức Thế Tôn vẫn đứng lặng yên, Ngài đưa mắt nhìn Trưởng lão Ānanda, hiểu ý Đức Thế Tôn, Trưởng lão Ānanda bảo Hoàng tử Bodhi rằng:

- Tâu Bệ hạ, xin Ngài hãy cho cuốn tấm vải trắng ấy đi. Đức Thế Tôn không muốn bước lên tấm vải trắng ấy, vì Đức Như Lai nhìn thấy được những gì sẽ phát sanh!

Đức vua y lời, cho người cuốn tấm vải lại, xong rồi lại thỉnh Đức Thế Tôn ngự vào cung, cúng dường cháo và bánh ngọt cho Ngài điểm tâm, đoạn ngồi xuống một nơi phải lẽ, đảnh lễ Ngài và bạch rằng:

- Bạch Thế Tôn! Trẫm là người hộ độ Ngài, Trẫm là người Thiện nam đã có Qui y Ngài ba lần rồi. Nghe nói lần thứ nhất khi con còn trong thai bào của mẫu thân, lần thứ hai vào thời thanh thiếu niên và lần thứ ba khi Trẫm đến tuổi lớn khôn. Thế mà, tại sao Ngài chẳng niệm tình bước đi trên tấm vải trắng tinh của Trẫm lót đường nơi Phi lâu nầy?

- Tâu bệ hạ! Người đã suy nghĩ thế nào, khi người cho trải tấm vải trắng ấy?

- Bạch Thế Tôn! Con suy nghĩ rằng: “Nếu Trẫm được có con trai hoặc con gái thì Bậc Đạo Sư sẽ ngự đi trên tấm vải của Trẫm lót đường.”.

- Tâu Bệ hạ! Hãy hiểu rằng vì sao Như Lai không bước lên tấm vải trắng ấy đi?

- Bạch Thế Tôn! Sao thế? Trẫm sẽ không bao giờ có con trai, con gái gì chăng?

- Thật như vậy, tâu Bệ hạ!

- Bạch Thế Tôn! Tại nguyên nhân nào vậy?

- Vì ngươi cùng vợ ngươi đã dể duôi trong quá khứ.

- Bạch Thế Tôn! Trong thời nào vậy?

Tiếp đến, Đức Thế Tôn thuyết lên Túc Sanh về tiền nghiệp của Hoàng tử Bodhi như sau:

Thuở quá khứ, có đoàn thương buôn hằng trăm người đi trên một thuyền buôn ra biển. Khi chiếc thương thuyền ra giữa biển thì một cơn bão lớn nổi lên, đánh đắm con thuyền, có hai vợ chồng người thương buôn nọ nhờ bám vào một tấm ván tàu, sóng đánh tạt họ vào một đảo hoang nhỏ giữa biển nên được sống sót, kỳ dư đều chết dưới lòng đại dương. Hoang đảo ấy có rất nhiều chim trú ngụ, khi hai vợ chồng đói thì họ dùng trứng chim để ăn, khi trứng chim hết thì họ lại bắt lấy những con chim non mà dùng rồi đến các chim lớn. Cả hai vợ chồng đều dùng trứng, chim non và chim lớn suốt cả ba thời kỳ: Thiếu niên, trung niên và lão niên, cả ba thời kỳ ấy hai vợ chồng thương buôn ấy đều dể duôi như thế. Sự không dể duôi dù chỉ là một thời kỳ thôi cũng không có. Lại nữa, trong hai người, nếu chỉ một người không dể duôi, sự kiện nầy lại không hề có.

Sau khi giải rõ tiền nghiệp của Đức vua, Bậc Đạo Sư kết luận rằng:

- Tâu Bệ hạ! Nếu như lúc bấy giờ, Bệ hạ cùng với nương nương đã giữ mình không dể duôi, dù chỉ trong một thời kỳ, thì ắt hoàng nam hay công nữ sẽ sanh ra trong một thời kỳ. Nếu như một trong hai người không buôn lung thì tùy theo người đó mà con trai hoặc con gái sẽ sanh lên. Tâu Bệ hạ, những ai biết nghĩ thương mình thì trong ba thời kỳ phải lo giữ mình một cách chuyên cần. Bằng không được vậy thì cũng phải rán lo giữ mình cho được một thời kỳ.

Nói rồi, Đức Bổn Sư ngâm kệ rằng:
“Attānañce piyaṃ jaññā,
Rakkheyya naṃ surakkhitaṃ;
Tiṇṇaṃ aññataraṃ yāmaṃ,
Paṭijaggeyya paṇḍito.”
Nếu tự biết thương mình, phải gắng tự bảo hộ,

trong ba thời có một, người có Trí nên tỉnh ngộ, chớ mê man!

(Bản dịch của T.K. Trí Đức)

CHÚ GIẢI:

Yāmaṃ: Đức Bổn Sư là bậc Pháp Vương, Ngài thuyết pháp rất thiện xảo. Ở đây, Ngài dùng danh từ yāmaṃ là (ba) canh (trong một đêm) để ám chỉ luôn ba thời kỳ (thanh, trung, lão) của một đời người, hoặc trong ba thời đó. Bởi vậy, ở đây, ta nên giải thích rằng: Nếu ai biết tự thương và tự giữ mình, thì đó là người khéo giữ lấy mình. Người ấy khéo giữ mình thế nào, ta nên khéo giữ mình như thế ấy.”

Ví như có người cư sĩ suy nghĩ rằng: “Ta sẽ giữ mình cho bình thản.”, rồi vào trong căn phòng riêng được thu thúc kỹ lưỡng, trên từng thượng của tòa lâu đài, sau khi có đầy đủ sự giữ gìn, rồi ở trong đó; hoặc bậc đã xuất gia an cư trong động đá, được thu thúc kỹ lưỡng là các cửa lớn và cửa sổ đều đóng kín đi nữa, hai người làm như thế chưa hẳn là tự giữ mình đúng cách.

Còn người cư sĩ có tâm bình thản tùy sức mình mà tạo phước đức như Bố thí, Trì giới v.v…, hoặc bậc Xuất gia mà rán chú tâm học hỏi các phận sự lớn nhỏ của mình, cả hai người mới đáng gọi là đang bảo vệ mình. Như vậy, trong ba thời kỳ, người thường không thể làm, còn bậc trượng phu, Hiền trí thì dầu sao cũng tự chăm sóc lấy mình được trong một thời kỳ nào đó. Thật vậy, nếu người cư sĩ trong thời thanh niên đã lỡ mải miết vui chơi không chuyên cần lo làm điều thiện, nếu như trong thời trung niên mắc bận nuôi vợ con mà không thể hành thiện thì đến thời kỳ lão niên cũng phải rán lo thực hành. Được như vậy mới là người tự bảo vệ, săn sóc lấy mình. Nhược bằng ai không làm như vậy, tức là không có sự thương mình, ắt là tự mình khiến cho mình kiếp sau sa vào khổ cảnh chẳng sai.

Còn bậc Xuất gia mà trong thời kỳ đầu tiên lỡ không lo tập dượt, ôn thuần, học thuộc làu pháp Hành, lại dể duôi không làm các phận sự lớn nhỏ của mình thì đến thời kỳ giữa phải rán chuyên cần hành Sa môn Pháp. Nếu trong thời kỳ giữa đã lỡ dể duôi, không lo học hỏi Kinh Luật và Chú giải, thì đến thời kỳ chót cũng phải lo chuyên cần hành Sa môn Pháp. Như thế mới là người chăm lo gìn giữ tự kỷ. Bằng ai không làm như vậy, tức là người ấy không có lòng thương mình. Về sau, người ấy cũng bị lửa phiền não theo thiêu đốt họ.

Cuối thời Pháp, ông Hoàng Bodhi đắc quả Tu Đà Hườn. Kỳ dư hội chúng đều hưởng lợi ích do nhờ thời pháp của Đức Bổn Sư.

Bồ Đề Vương muốn có con trai,
Thỉnh Phật đi trên tấm vải dài,
Phật chẳng ưng đi, Vương mới hỏi,
Phật rằng: “Vương chớ khá van nài!
Kiếp trước, hai người trên đảo hoang,
Trứng chim ăn hết, mạng châu toàn,
Suốt đời, chẳng tuổi nào tu niệm,
Nay tuyệt tự thì cũng chẳng oan…”.
Phật ngôn: Một đêm có ba canh,
Phải có canh nào lo Pháp hành,
Người Trí thương mình, nên Tỉnh giác,

DỨT TÍCH BỒ ĐỀ VƯƠNG TỬ

Bodhirājakumāravatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Attānañceti imaṃ dhammadesanaṃ satthā bhesakaḷāvane viharanto bodhirājakumāraṃ ārabbha kathesi.

So kira pathavītale aññehi pāsādehi asadisarūpaṃ ākāse uppatamānaṃ viya kokanudaṃ nāma pāsādaṃ kāretvā vaḍḍhakiṃ pucchi – “kiṃ tayā aññatthāpi evarūpo pāsādo katapubbo, udāhu paṭhamasippameva te ida”nti. “Paṭhamasippameva, devā”ti ca vutte cintesi – “sace ayaṃ aññassapi evarūpaṃ pāsādaṃ karissati, ayaṃ pāsādo anacchariyo bhavissati. Imaṃ mayā māretuṃ vā hatthapāde vāssa chindituṃ akkhīni vā uppāṭetuṃ vaṭṭati, evaṃ aññassa pāsādaṃ na karissatī”ti. So tamatthaṃ attano piyasahāyakassa sañjīvakaputtassa nāma māṇavakassa kathesi. So cintesi – “nissaṃsayaṃ esa vaḍḍhakiṃ nāsessati, anaggho sippī, so mayi passante mā nassatu, saññamassa dassāmī”ti. So taṃ upasaṅkamitvā “pāsāde te kammaṃ niṭṭhitaṃ, no”ti pucchitvā “niṭṭhita”nti vutte “rājakumāro taṃ nāsetukāmo attānaṃ rakkheyyāsī”ti āha. Vaḍḍhakīpi “bhaddakaṃ te, sāmi, kataṃ mama ārocentena, ahamettha kattabbaṃ jānissāmī”ti vatvā “kiṃ, samma, amhākaṃ pāsāde kammaṃ niṭṭhita”nti rājakumārena puṭṭho “na tāva, deva, niṭṭhitaṃ, bahu avasiṭṭha”nti āha. Kiṃ kammaṃ nāma avasiṭṭhanti? Pacchā, deva, ācikkhissāmi, dārūni tāva āharāpethāti. Kiṃ dārūni nāmāti? Nissārāni sukkhadārūni, devāti. So āharāpetvā adāsi. Atha naṃ āha – “deva, te ito paṭṭhāya mama santikaṃ nāgantabbaṃ. Kiṃ kāraṇā? Sukhumakammaṃ karontassa hi aññehi saddhiṃ sallapantassa me kammavikkhepo hoti, āhāravelāyaṃ pana me bhariyāva āhāraṃ āharissatī”ti. Rājakumāropi “sādhū”ti paṭissuṇi. Sopi ekasmiṃ gabbhe nisīditvā tāni dārūni tacchetvā attano puttadārassa anto nisīdanayoggaṃ garuḷasakuṇaṃ katvā āhāravelāya pana bhariyaṃ āha – “gehe vijjamānakaṃ sabbaṃ vikkiṇitvā hiraññasuvaṇṇaṃ gaṇhāhī”ti. Rājakumāropi vaḍḍhakissa anikkhamanatthāya gehaṃ parikkhipitvā ārakkhaṃ ṭhapesi. Vaḍḍhakīpi sakuṇassa niṭṭhitakāle “ajja sabbepi dārake gahetvā āgaccheyyāsī”ti bhariyaṃ vatvā bhuttapātarāso puttadāraṃ sakuṇassa kucchiyaṃ nisīdāpetvā vātapānena nikkhamitvā palāyi. So tesaṃ, “deva, vaḍḍhakī palāyatī”ti kandantānaṃyeva gantvā himavante otaritvā ekaṃ nagaraṃ māpetvā kaṭṭhavāhanarājā nāma jāto.

Rājakumāropi “pāsādamahaṃ karissāmī”ti satthāraṃ nimantetvā pāsāde catujjātiyagandhehi paribhaṇḍikaṃ katvā paṭhamaummārato paṭṭhāya celapaṭikaṃ patthari. So kira aputtako, tasmā “sacāhaṃ puttaṃ vā dhītaraṃ vā lacchāmi, satthā imaṃ akkamissatī”ti cintetvā patthari. So satthari āgate satthāraṃ pañcapatiṭṭhitena vanditvā pattaṃ gahetvā “pavisatha, bhante”ti āha. Satthā na pāvisi, so dutiyampi tatiyampi yāci. Satthā apavisitvāva ānandattheraṃ olokesi. Thero olokitasaññāyeva vatthānaṃ anakkamanabhāvaṃ ñatvā taṃ “saṃharatu, rājakumāra, dussāni, na bhagavā celapaṭikaṃ akkamissati, pacchimajanataṃ tathāgato oloketī”ti dussāni saṃharāpesi. So dussāni saṃharitvā satthāraṃ antonivesanaṃ pavesatvā yāgukhajjakena sammānetvā ekamantaṃ nisinno vanditvā āha – “bhante, ahaṃ tumhākaṃ upakārako tikkhattuṃ saraṇaṃ gato, kucchigato ca kiramhi ekavāraṃ saraṇaṃ gato, dutiyaṃ taruṇadārakakāle, tatiyaṃ viññubhāvaṃ pattakāle. Tassa me kasmā celapaṭikaṃ na akkamitthā”ti? “Kiṃ pana tvaṃ, kumāra, cintetvā celāni attharī”ti? “Sace puttaṃ vā dhītaraṃ vā lacchāmi, satthā me celapaṭikaṃ akkamissatī”ti idaṃ cintetvā, bhanteti. Tenevāhaṃ taṃ na akkaminti. “Kiṃ panāhaṃ, bhante, puttaṃ vā dhītaraṃ vā neva lacchāmī”ti? “Āma, kumārā”ti. “Kiṃ kāraṇā”ti? “Purimakaattabhāve jāyāya saddhiṃ pamādaṃ āpannattā”ti. “Kasmiṃ kāle, bhante”ti? Athassa satthā atītaṃ āharitvā dassesi –

Atīte kira anekasatā manussā mahatiyā nāvāya samuddaṃ pakkhandiṃsu. Nāvā samuddamajjhe bhijji. Dve jayampatikā ekaṃ phalakaṃ gahetvā antaradīpakaṃ pavisiṃsu, sesā sabbe tattheva mariṃsu. Tasmiṃ kho pana dīpake mahāsakuṇasaṅgho vasati. Te aññaṃ khāditabbakaṃ adisvā chātajjhattā sakuṇaaṇḍāni aṅgāresu pacitvā khādiṃsu, tesu appahontesu sakuṇacchāpe gahetvā khādiṃsu. Evaṃ paṭhamavayepi majjhimavayepi pacchimavayepi khādiṃsuyeva. Ekasmimpi vaye appamādaṃ nāpajjiṃsu, ekopi ca nesaṃ appamādaṃ nāpajji.

Satthā idaṃ tassa pubbakammaṃ dassetvā “sace hi tvaṃ, kumāra, tadā ekasmimpi vaye bhariyāya saddhiṃ appamādaṃ āpajjissa, ekasmimpi vaye putto vā dhītā vā uppajjeyya. Sace pana vo ekopi appamatto abhavissa, taṃ paṭicca putto vā dhītā vā uppajjissa. Kumāra, attānañhi piyaṃ maññamānena tīsupi vayesu appamattena attā rakkhitabbo, evaṃ asakkontena ekavayepi rakkhitabboyevā”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Attānañce piyaṃ jaññā, rakkheyya naṃ surakkhitaṃ;
Tiṇṇaṃ aññataraṃ yāmaṃ, paṭijaggeyya paṇḍito”ti.

Tattha yāmanti satthā attano dhammissaratāya desanākusalatāya ca idha tiṇṇaṃ vayānaṃ aññataraṃ vayaṃ yāmanti katvā desesi, tasmā evamettha attho veditabbo. Sace attānaṃ piyaṃ jāneyya, rakkheyya naṃ surakkhitanti yathā so surakkhito hoti, evaṃ naṃ rakkheyya. Tattha sace gīhī samāno “attānaṃ rakkhissāmī”ti uparipāsādatale susaṃvutaṃ gabbhaṃ pavisitvā sampannārakkho hutvā vasantopi, pabbajito hutvā susaṃvute pihitadvāravātapāne leṇe viharantopi attānaṃ na rakkhatiyeva. Gihī pana samāno yathābalaṃ dānasīlādīni puññāni karonto, pabbajito vā pana vattapaṭivattapariyattimanasikāresu ussukkaṃ āpajjanto attānaṃ rakkhati nāma. Evaṃ tīsu vayesu asakkonto aññatarasmimpi vaye paṇḍitapuriso attānaṃ paṭijaggatiyeva. Sace hi gihibhūto paṭhamavaye khiḍḍāpasutatāya kusalaṃ kātuṃ na sakkoti, majjhimavaye appamattena hutvā kusalaṃ kātabbaṃ. Sace majjhimavaye puttadāraṃ posento kusalaṃ kātuṃ na sakkoti, pacchimavaye kātabbameva. Evampi karontena attā paṭijaggitova hoti. Evaṃ akarontassa pana attā piyo nāma na hoti, apāyaparāyaṇameva naṃ karoti. Sace pana pabbajito paṭhamavaye sajjhāyaṃ karonto dhārento vācento vattapaṭivattaṃ karonto pamādaṃ āpajjati, majjhimavaye appamattena samaṇadhammo kātabbo. Sace paṭhamavaye uggahitapariyattiyā aṭṭhakathaṃ vinicchayaṃ kāraṇākāraṇañca pucchanto majjhimavaye pamādaṃ āpajjati, pacchimavaye appamattena samaṇadhammo kātabboyeva. Evampi karontena attā paṭijaggitova hoti. Evaṃ akarontassa pana attā piyo nāma na hoti, pacchānutāpeneva naṃ tāpetīti.

Desanāvasāne bodhirājakumāro sotāpattiphale patiṭṭhahi, sampattaparisāyapi sātthikā dhammadesanā ahosīti.

Bodhirājakumāravatthu paṭhamaṃ.

XII. 1. Prince Bodhi and the Magic Bird

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

157. If a man value his life, he should ever guard it and guard it well.
During one of the three watches a wise man should be watchful.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Bhesakaḷāvana with reference to Prince Bodhi.

1 a. The prince, the builder, and the magic bird

The story goes that Prince Bodhi had a palace erected unlike any other palace on the face of the earth. It seemed almost to float in the air. Its name was Red Lotus, Kokanada. When it was finished, the prince asked the builder, “Have you ever built a palace like this anywhere else, or is this the first work of the sort you have done?” The builder replied, “Your majesty, this is the first work of the sort I have ever done.” The prince, hearing his reply, thought to himself, “If this man should build a palace like this for anyone else, there would no longer be anything wonderful about this palace. I had best kill this man, or cut off his hands and feet, or tear out his eyes; for if I do this, he will never build a palace like this for anyone else.”

Prince Bodhi went to an intimate friend of his, a youth named Sañjikāputta, and told him what was in his mind. Sañjikāputta straightway thought to himself, “Without a doubt this prince intends to kill the builder. But I shall not look on quietly and see an artisan who possesses so priceless a gift killed before my very eyes; I will give him a hint of what is in store for him.” So Sañjikāputta went to the builder and asked him, “Have you, or have you not, finished your work on the palace?” “My work is finished,” replied the builder. Then said Sañjikāputta, “The prince is seeking to kill you; look out for yourself.” The builder replied, “Master, you did me a great kindness in telling me. Now I know exactly what to do to avoid trouble.”

The prince asked the builder, “Friend, have you finished your work on our palace?” “No, your majesty,” replied the builder, “my work is not yet finished; a good deal still remains to be done.” “Just what work still remains to be done?” asked the prince. “Your majesty, I will tell you all about it afterwards. Just now, send me some timber.” “What kind of timber?” “Seasoned timber, with the sap well dried out, your majesty.” The prince immediately caused it to be procured and delivered to him. Then the builder said to the prince, “Your majesty, from this time forward, no one should be permitted to come to me, for when I am engaged in a delicate piece of work, it distracts my mind to be obliged to converse with anyone else. At meal-time my wife alone will bring me my food.” “Very well,” said the prince, consenting to this arrangement.

Thereupon the builder sat down in a certain room, and out of that timber fashioned a wooden Garuḍa-bird large enough to contain himself and his son and his wife. And when meal-time came, he said to his wife, “Go sell everything in the house and bring back to me the money you receive, the yellow gold.” Now the prince, in order to make sure that the builder should not leave the house, surrounded the house with a strong guard. But the builder, as soon as the bird was finished, having previously said to his wife, “To-day bring all the children and wait,” immediately after breakfast placed his children and his wife inside of the bird, whereupon the bird soared out of the window and was gone. Thus did the builder escape. When the guards saw the bird winging its flight away, they cried out, “Your majesty, the builder has escaped!” But even as they cried out, the builder made good his escape, and alighting in the Himālaya country, created by magical power a city to dwell in. Thereafter he was known as King Wooden-horse.

1 b. The prince entertains the Buddha

The prince decided to give a festival in honor of the completion of the palace and invited the Teacher. First smearing the palace with loam mixed with the four kinds of perfumes, he spread mats and carpets on the floor, beginning at the threshold. He was childless, it appears, and for this reason spread the floor with mats and carpets; for he thought to himself, “If I am destined to obtain a son or a daughter, the Teacher will tread on them.” When the Teacher arrived, the prince saluted him with the Five Rests, took his bowl, and said to him, “Pray enter, Reverend Sir.” The Teacher refused to enter. A second and again a third time the prince requested him to enter. The Teacher, however, absolutely refused to enter, but looked at the Elder Ānanda.

The Elder knew, merely by the look in the Teacher’s eye, that he was unwilling to tread on the cloths which had been laid on the floor. Therefore he bade the prince have the cloths rolled up, saying, “Prince, let them roll up the cloths; the Exalted One will not step on those cloths; the Tathāgata has in view the generations that will follow.” The prince rolled up the cloths, escorted the Teacher within, honored him with offerings of rice-porridge and hard food, saluted the Teacher, and sitting on one side, said to him, “Reverend Sir, I am your devoted servitor. Thrice have I sought refuge in you. I sought refuge in you the first time (I am told), while I yet remained in my mother’s womb; the second time, when I was a mere boy; the third time, when I reached the age of reason. This being the case, why were you unwilling to step on my mats and carpets?” “Prince, with what thought in mind did you spread the floor with those cloths?” “Reverend Sir, the thought in my mind was this, ‘If I am destined to obtain a son or a daughter, the Teacher will step on these cloths.’ ” Then said the Teacher, “It was for that very reason that I refused to step on those cloths.” “But, Reverend Sir, is it my destiny never to obtain a son or a daughter?” “Precisely so, prince.” “What is the reason for this?” “Because you were guilty of the sin of heedlessness in a former existence.” “At what time, Reverend Sir?” In response to his request the Teacher explained the matter by relating the following

1 c. Story of the Past: The man who ate bird’s eggs

Once upon a time, the story goes, several hundred men put to sea in a large vessel. When they reached mid-ocean, they suffered shipwreck, and all on board lost their lives then and there, with the exception of two persons, a husband and wife, who clung to a plank and escaped to a neighboring island. Now in this island there was a large flock of birds. Husband and wife, overcome with hunger and seeing nothing else to eat, cooked the eggs of these birds over a bed of coals and ate them. When the eggs proved insufficient to satisfy their hunger, they caught the young of these birds and ate them. Thus did they eat in youth, in middle life, and in old age; in not a single period of their lives were they heedful; nor was either of the two heedful.

When the Teacher had shown the prince this misdeed of his in a previous state of existence, he said, “Prince, if in a single one of the three periods of your life in that previous state of existence, you and your wife had been heedful, you would have obtained a son or a daughter in one of the three periods of your present life. Nay more, if either one of you had been heedful, as the result thereof you would have obtained a son or a daughter. Prince, if a man hold his life dear, he should guard his life with heedfulness during the three periods of his life. Failing that, he should at least guard himself during one of the three periods of his life.” And when he had thus spoken, he pronounced the following Stanza,

157. If a man value his life, he should ever guard it and guard it well.
During one of the three watches a wise man should be watchful.

  1. In the Introduction to Jātaka 353: iii. 157-158, the brief statement is made that Prince Bodhi put out the builder’s eyes for fear that he might build a similar palace for another. There is no reference, however, to the story of the magic bird. The story of the Buddha’s visit to Prince Bodhi is derived either from the Vinaya, Culla Vagga, v. 21: ii. 127-129, or from Majjhima, 85: ii. 91-97. Text: N iii. 134-139.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.