Chú giải Pháp Cú · Kệ 286 · Dhp 286

Tích Đại Phú Thương

Mahādhanavāṇijavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 286 Kinh Pháp Cú, phẩm Đạo, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 286)

“Idha vassaṃ vasissāmi
Idha hemantagimhisu
Iti bālo visinteti
Antarāyaṃ na bujjhati .”

Mùa mưa ta ở đây
Đông, Hạ cũng ở đây
Người ngu tâm tưởng vậy
Không tự giác hiểm nguy.”
(HT Thích Minh Châu)

Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết tại Jetavana, đề cập đến ông phú thương Mahādhana.

Tương truyền rằng: Đại phú thương nầy cho chất đầy 500 cỗ xe bò vật dụng như vải nhuộm vàng, đỏ… từ thành Bārāṇamī đi buôn bán. Trên đường trở về thành Sāvatthī, khi đi đến bờ sông, ông nghĩ thầm: “Ngày mai ta sẽ sang sông.” . Ông cho mở bò, dừng xe tại nơi ấy. Ban đêm trời bỗng nổi giông to bão lớn suốt cả bảy ngày, nước sông dâng cao. Dân chúng trong thành mở lễ hội vui chơi, thế là số vải đỏ, vàng không có dịp bày ra bán. Ông lái buôn thầm nghĩ: “Ta từ phương xa đến đây, nếu trở về thì phí mất nhiều ngày. Chi bằng ta hãy lưu lại nơi nầy cả mùa mưa, mùa lạnh và mùa nóng. Vừa làm công việc của ta, vừa bán các hàng vải nầy.” .

Đức Bổn Sư đang đi khất thực trong thành Sāvatthī, biết được tâm của người thương buôn nên Ngài mỉm cười. Đại Đức Ānanda thấy lạ liền bạch hỏi Ngài về lý do sự mỉm cười. Ngài hỏi rằng:

- Nầy Ānanda! Thầy có thấy người thương buôn nầy chăng?

- Bạch Ngài! Có.

- Vì không biết có sự tai hại đến sinh mạng của mình, nên ông ta quyết định ở lại nơi nầy trọn năm để bán hàng hóa.

- Bạch Ngài! Ông ta gặp tai nạn gì?

- Phải! Nầy Ānanda! Ông ta chỉ còn sống được bảy ngày nữa thôi, rồi ông ta sẽ rơi vào bụng cá.

Tiếp theo, Đức Thế Tôn thuyết lên kệ ngôn rằng:
“Ajjeva kiccaṃ ātappaṃ
Kojaññā maranaṃ suve
Nahino savigarantena
Mahāsenena maccunā
Taṃ ve bhaddekarattoti
Santo ācikkhate munīti .”
(Hãy gấp rút làm việc phải làm trong ngày hôm

nay. Ai đâu biết ngày mai tử thần có thể đến. Vì chúng ta chưa chiến đấu với Tử thần và đội hùng binh của nó?

Hạnh phúc thay! Người hằng tinh cần ngày đêm như vậy không biết mệt mỏi. Dầu người chỉ sống một đêm thôi. Bậc Tịnh giả đã tuyên bố như thế.)

- Bạch Ngài! Xin Ngài cho phép con báo cho ông ta biết.

- Lành thay! Nầy Ānanda! Thầy cứ đi tự do.

Đại Đức đi đến vòng rào xe bò và trì bình nơi ấy, người lái buôn cúng dường vật thực đến Đại Đức. Đại Đức hỏi ông ta rằng:

- Ông còn định ở đây bao lâu nữa?

- Bạch Ngài! Con từ phương xa đến, nếu con quay về thì phí thời giờ, bất tiện lắm. Con sẽ lưu lại đây trọn năm nay và chừng nào con bán hết hàng hóa rồi con mới ra đi.

- Nầy thiện nam, cho dầu là phút lâm chung cũng khó biết được. Ông nên tinh cần mới được.

- Bạch Ngài! Chắc là có tai nạn gì cho con chăng?

- Phải, nầy thiện nam, ông chỉ còn sống thêm bảy ngày nữa mà thôi.

Sanh tâm kinh cảm, ông lái buôn cung thỉnh Tỳ Khưu có Đức Phật là vị Thượng Thủ đến thọ trai thực suốt cả bảy ngày liền, rồi rước bát Đức Thế Tôn, thỉnh cầu Ngài ban phúc. Ngài tùy hỷ bằng những lời rằng:

Nầy cận sự nam! Bậc hiền trí không bao giờ nghĩ rằng: Ta sẽ ở đây trọn cả mùa mưa, mùa lạnh và mùa nóng. Ta sẽ làm công việc nầy, công việc kia. Trái lại, vị ấy hằng quán tưởng rằng: “Phút lâm chung của mình”. Rồi Đức Thế Tôn ngâm kệ ngôn rằng:

“Idha vassaṃ vasissāmi
Idha hemantagimhisu
Iti bālo visinteti
Antarāyaṃ na bujjhati .”

Mùa mưa ta ở đây
Đông, Hạ cũng ở đây
Người ngu tâm tưởng vậy
Không tự giác hiểm nguy.”
(HT Thích Minh Châu)

CHÚ GIẢI:

Idha vassaṃ : Trong chỗ nầy ta sẽ kiết hạ an cư trong bốn tháng, vừa làm việc nầy vừa làm việc nọ.

Hemantagimhisu : Trong bốn thánh lạnh và bốn tháng nóng, ta sẽ ở đây làm việc nầy, việc nọ. Kẻ ngu cứ nghĩ như vậy, chớ không hiểu biết sự lợi ích hiện tại và vị lai.

Antarāya : Không biết trước giờ lâm chung của mình. Như ta sẽ chết tại một địa điểm nào, vào thời nào, ở xứ nào, chừng tuổi nào…

Cuối thời Pháp, lái buôn chứng đắc quả Tu Đà Hườn. Thính chúng câu hội hưởng được sự lợi ích của thời Pháp.

Thương nhân theo tiễn chân Đức Phật, khi quay trở lại, ông kêu:

- Tôi nhức đầu quá. Rồi ông lên giường nằm và mệnh chung, tái sanh về cõi Tusitā.

Điều cần hãy gấp rút làm đi
Chớ để dây dưa trễ hạn kỳ
Ai chắc ngày mai ta vẫn sống
Hay là chết đọa xuống A Tỳ
Phú thương định ở trọn năm nay
Khi biết mình còn sống bảy ngày
Lật đật cúng dường luôn một thất
Vãng sanh Đâu Suất cũng là may

DỨT TÍCH ĐẠI PHÚ THƯƠNG

Mahādhanavāṇijavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Idha vassanti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto mahādhanavāṇijaṃ nāma ārabbha kathesi.

So kira bārāṇasito kusumbharattānaṃ vatthānaṃ pañca sakaṭasatāni pūretvā vaṇijjāya sāvatthiṃ āgato nadītīraṃ patvā “sve nadiṃ uttarissāmī”ti tattheva sakaṭāni mocetvā vasi. Rattiṃ mahāmegho uṭṭhahitvā vassi. Nadī sattāhaṃ udakassa pūrā aṭṭhāsi. Nāgarāpi sattāhaṃ nakkhattaṃ kīḷiṃsu. Kusumbharattehi vatthehi kiccaṃ na niṭṭhitaṃ. Vāṇijo cintesi – “ahaṃ dūraṃ āgato. Sace puna gamissāmi, papañco bhavissati. Idheva vassañca hemantañca gimhañca mama kammaṃ karonto vasitvā imāni vikkiṇissāmī”ti. Satthā nagare piṇḍāya caranto tassa cittaṃ ñatvā sitaṃ pātukaritvā ānandattherena sitakāraṇaṃ puṭṭho āha – “diṭṭho te, ānanda, mahādhanavāṇijo”ti? “Āma, bhante”ti. So attano jīvitantarāyaṃ ajānitvā imaṃ saṃvaccharaṃ idheva vasitvā bhaṇḍaṃ vikkiṇituṃ cittamakāsīti. “Kiṃ pana tassa, bhante, antarāyo bhavissatī”ti? Satthā “āmānanda, sattāhameva jīvitvā so maccumukhe patissatī”ti vatvā imā gāthā abhāsi –

“Ajjeva kiccamātappaṃ, ko jaññā maraṇaṃ suve;
Na hi no saṅgaraṃ tena, mahāsenena maccunā.

“Evaṃ vihāriṃ ātāpiṃ, ahorattamatanditaṃ;
Taṃ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate munī”ti. (ma. ni. 3.272);

Gacchāmissa, bhante, ārocessāmīti. Vissattho gacchānandāti. Thero sakaṭaṭṭhānaṃ gantvā bhikkhāya cari. Vāṇijo theraṃ āhārena patimānesi. Atha naṃ thero āha – “kittakaṃ kālaṃ idha vasissasī”ti? “Bhante, ahaṃ dūrato āgato”. Sace puna gamissāmi, papañco bhavissati, imaṃ saṃvaccharaṃ idha vasitvā bhaṇḍaṃ vikkiṇitvā gamissāmīti. Upāsaka, dujjāno jīvitantarāyo, appamādaṃ kātuṃ vaṭṭatīti. “Kiṃ pana, bhante, antarāyo bhavissatī”ti. “Āma, upāsaka, sattāhameva te jīvitaṃ pavattissatīti”. So saṃviggamānaso hutvā buddhappamukhaṃ bhikkhusaṅghaṃ nimantetvā sattāhaṃ mahādānaṃ datvā anumodanatthāya pattaṃ gaṇhi. Athassa satthā anumodanaṃ karonto, “upāsaka, paṇḍitena nāma ‘idheva vassādīni vasissāmi, idañcidañca kammaṃ payojessāmī’ti cintetuṃ na vaṭṭati, attano pana jīvitantarāyameva cintetuṃ vaṭṭatī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Idha vassaṃ vasissāmi, idha hemantagimhisu;
Iti bālo vicinteti, antarāyaṃ na bujjhatī”ti.

Tattha idha vassanti imasmiṃ ṭhāne idañcidañca karonto catumāsaṃ vassaṃ vasissāmi. Hemantagimhisūti hemantagimhesupi “cattāro māse idañcidañca karonto idheva vasissāmī”ti evaṃ diṭṭhadhammikasamparāyikaṃ atthaṃ ajānanto bālo vicinteti. Antarāyanti “asukasmiṃ nāma kāle vā dese vā vaye vā marissāmī”ti attano jīvitantarāyaṃ na bujjhatīti.

Desanāvasāne so vāṇijo sotāpattiphale patiṭṭhahi, sampattānampi sātthikā dhammadesanā ahosi. Vāṇijopi satthāraṃ anugantvā nivattitvā “sīsarogo viya me uppanno”ti sayane nipajji, tathānipannova kālaṃ katvā tusitavimāne nibbatti.

Mahādhanavāṇijavatthu dasamaṃ.

XX. 10. Thou shalt surely Die

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

286. “Here will I dwell during the rain, during the winter and summer.”
Thus the simpleton imagines, knowing not that he must die.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Merchant Great-Wealth, Mahādhana.

The story goes that he loaded five hundred carts with cloths dyed with safflower, and set out from Benāres to trade. When, on his return to Sāvatthi, he reached the bank of the river, he thought, “To-morrow I will cross the river,” and unyoked his carts right there and spent the night. During the night a severe storm came up and all night long it rained. For seven days the river was at flood; for seven days the citizens kept holiday. The result was that the merchant had no opportunity to dispose of his crimson cloths. Thought the merchant to himself, “I have come a long distance and if I go back again I shall be delayed; right here will I dwell during the rain, during the winter and summer, doing my work and selling these cloths.”

As the Teacher made his alms-pilgrimage through the city, he became aware of the merchant’s intention and smiled. Thereupon Elder Ānanda asked him why he smiled. The Teacher replied, “Ānanda, did you see Merchant Great-Wealth?” “Yes, Reverend Sir.” “Not realizing that the end of his life is near, he has made up his mind to dwell right here during this entire year for the purpose of selling his goods.” “But Reverend Sir, is the end of his life at hand?” “Yes, Ānanda; only seven days longer will he live and then he will fall into the mouth of a fish.” So saying, the Teacher pronounced the following Stanzas,

Bestir yourself, and do what should be done this very day. Who knows but on the morrow death may come?
For are we not ever in conflict with Death and his mighty host?

Happy is the man who lives thus zealous by day and by night, unwearied.
Though he live but a single night. Thus proclaims the tranquil sage.

“Reverend Sir, I will go tell him.” “By all means go, Ānanda.” The Elder went to the inclosure formed by the carts and made his round for alms. The merchant reverently presented him with food. Then said the Elder to the merchant, “How long a time do you expect to remain here?” “Reverend Sir, I have come a long distance, and if I go back again, I shall suffer delay; I shall remain here during this entire year, and when I have sold my goods, I shall go on.” “Layman, though the end of one’s life be near, yet is it hard to realize; one should be heedful.” “Why, Reverend Sir, is the end of my life at hand?” “Yes, layman, it is; only seven days more will your life continue.”

Overcome with emotion, the merchant invited the Congregation of Monks presided over by the Buddha to be his guests. For seven days he gave alms and finally took the Teacher’s bowl to permit him to pronounce the words of thanksgiving. Said the Teacher, in pronouncing the words of thanksgiving, “Disciple, a wise man should never allow himself to think, ‘Right here will I dwell during the rain, during the winter and summer. I will do this work and I will do that work.’ Rather should a man meditate on the end of his own life.” So saying, the Teacher pronounced the following Stanza,

286. “Here will I dwell during the rain, during the winter and summer.”
Thus the simpleton imagines, knowing not that he must die.

At the conclusion of the lesson the merchant was established in the Fruit of Conversion; the assembled company also profited by the lesson.

The merchant accompanied the Teacher on his way for a short distance and then turned back. “I feel as if I had some trouble in my head,” said he, and laid himself on his bed. No sooner had he lain down than he died, and was reborn in the World of the Tusita gods.

  1. Text: N iii. 429-431.
  2. Ed. note: The original in this position reads: Here I will dwell during the rain.
  3. Ed. note: these verses is from near the end of Lomasakaṅgiyattherāpadānaṁ (Ap. 55.8).

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.