Tích Đao Phủ Thủ Nanh Đồng
Tambadāṭhikacoraghātakavatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 100 Kinh Pháp Cú, phẩm Ngàn, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 100)
“Sahassamapi ce vācā,
Anatthapadasañhitā1
Ekaṃ atthapadaṃ seyyo,
Yaṃ sutvā upasammati.”
“Dầu nói ngàn ngàn lời,
Nhưng không gì lợi ích,
Tốt hơn một câu nghĩa,
Nghe xong, được tịnh lạc”.
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết, khi Ngài ngự tại Veḷuvana (Trúc Lâm), đề cập đến đao phủ thủ (Coraghātakaṃ) tên Tambadāṭhika (Nanh Đồng).
Tương truyền rằng: Có bốn trăm chín mươi chín tên cướp, chuyên môn làm việc phi Pháp nhất là cướp phá xóm làng mà nuôi mạng sống.
Khi ấy có một thanh niên tráng kiện không bị việc chi ràng buộc, tên là Tambadāṭhika (Nanh Đồng) đi đến gặp bọn cướp và nói: “Tôi cũng muốn chung sống với mấy anh.”. Bọn cướp đưa thanh niên vào thưa với đảng trưởng: “Chú nầy ngỏ ý muốn sống chung với bọn ta.”. 1. Anatthapadasaṃhitā (theo bản Pāli của CSCD/Dhammagiri. India).
Chúa đảng cướp nhìn xem tướng thanh niên, nghĩ thầm: “Thằng nầy tướng ác ôn lắm, nó có thể chặt vú mẹ hoặc là cắt cổ cha mà ăn thịt, uống máu.”. Chúa đảng nói: “Chúng ta không cần hắn sống chung với chúng ta làm chi cả.”. Mặc dù bị chúa đảng không chấp nhận cho vào đảng, gã thanh niên cũng cứ đến hầu hạ, phục dịch lấy lòng tên phó đảng. Tên nầy lại dắt anh ta vào tiến cử với đảng trưởng: “Xin chúa công chấp nhận cho tên nầy vào làm người giúp việc cho chúng ta!”. Vì có lời yêu cầu của phó đảng, đảng trưởng chấp thuận cho thanh niên vào đảng.
Thế rồi, một ngày nọ, dân chúng trong thành hợp lực với binh đội của đức Vua, bắt hết bọn cướp nầy, đưa ra tòa án để luận tội
Quan tòa đã lên án tử hình cả bọn, ra lịnh cho đao phủ thủ chặt đầu bọn cướp. Nhưng khi hỏi: “Ai chịu giết những tên phạm nhân nầy?”, thì không một ai chịu lãnh mạng giết chết bọn chúng cả. Sau cùng dân chúng bảo tên đầu đảng: “Nếu nhà ngươi chịu giết chết những tên đồng bọn, thì nhà ngươi sẽ được tha cho toàn mạng sống. Hãy giết chết bọn chúng cho tử tế đi.”.
Tên đầu đảng không chịu giết đồng đảng để mình được sống còn. Dân thành cứ thế mà hỏi hết cả bốn trăm chín mươi chín tên cướp, sau cùng người ta hỏi đến Tambadāṭhika, thì hắn ta nhận lời: “Được thôi!”. Sau khi giết cả bọn cướp, Tambadāṭhika được tha bổng và được tôn trọng quyền sống như một người dân lương thiện.
Về sau, dân thành hợp lực cùng quân đôi đức Vua, bắt được năm trăm tên cướp nhiễu loạn ở hướng Nam kinh thành, đưa đến quan xử, bọn cướp bị lên án tử hình như trước, dân thành cũng bắt đầu hỏi tên thủ lãnh, đến tên đồng đảng cuối cùng, cũng không tên nào chịu giết đồng bọn mình cả. Dân thành nhắc lại: “Lúc trước có người giết hết năm trăm tên cướp, bây giờ người đó ở đâu?” Có người đáp: “Anh ta đang ở xứ ấy, ta đến thì sẽ gặp thôi.”.
Nghe vậy, quan Chánh án ký trát cho mời Tambadāṭhika đến và mọi người đồng yêu cầu: “Hãy giết chết những tên cướp nầy thì anh sẽ được ban thưởng.”.
Tambadāṭhika nhận lời: “Lành thay!” Và anh ta giết hết bọn cướp, được dân thành hoan hô nhiệt liệt. Tiếp theo đó dân thành quyết nghị: “Thanh niên nầy có biệt tài chặt đầu kẻ cướp như vậy, chúng ta hãy đề cử anh ta lên giữ chức đao phủ thủ thường trực.”.
Tambadāṭhika được mời đến công sở, được ủy nhiệm chức đao phủ thủ và được dân thành tôn trọng.
Tiếp theo đó, năm trăm tên cướp ở hướng Tây, rồi năm trăm tên cướp ở hướng Bắc bị bắt và bị xử tử, đều giao cho một tay Tambadāṭhika hành quyết cả. Đao phủ thủ đã giết tất cả là hai ngàn tên cướp từ bốn hướng giải về như thế.
Từ đó về sau, mỗi ngày Tambadāṭhika lai rai chặt đầu một vài người đã bị kết án tử hình và chàng ta hành nghề đao phủ thủ suốt năm mươi lăm năm. Đến khi già yếu, Tambadāṭhika không thể chém một nhát đứt lìa đầu người như trước, có khi phải chém đến ba nhát khiến tội nhân vô cùng đau đớn.
Dân thành nghĩ rằng: “Chắc ta phải tìm một đao phủ thủ, chớ ông nầy già yếu rồi, làm đau khổ tội nhân thái quá. Chúng ta còn lưu giữ ông ta lại làm gì?”. Thế là, người ta cách chức Tambadāṭhika.
Lúc trước, khi đang còn làm nghề đao phủ thủ, ông ta không hề được hưởng bốn điều này: một là mặc y phục mới, hai là ăn cháo sữa nấu với bơ trong mới, ba là trang sức bằng những vòng hoa lài và bốn là thoa xức dầu thơm.
Ngày bị ngưng chức, Tambadāṭhika dặn người nhà: “Hãy nấu cháo sữa cho ta ăn.”, rồi ông bảo đem y phục mới, trang điểm với vòng hoa lài, mang dầu thơm ra sông tắm rửa. Tắm xong, Tambadāṭhika mặc y phục mới, trang điểm vòng hoa lài, thoa dầu thơm khắp mình rồi về ngồi ở nhà. Lúc bấy giờ người nhà đem đến để trước mặt ông cháo sữa nấu với bơ trong mới cùng với nước rửa tay. Ngay trong sát na ấy, Trưởng lão Sārīputta vừa xuất khỏi Thiền Diệt (Samāpatti), quán xem hôm nay mình phải đi khất thực nơi nào? Thấy món cháo sữa của Tambadāṭhika, Trưởng lão tự hỏi: “Người nầy sẽ hộ độ cho ta hay không?”. Trưởng lão quán thấy: “Sau khi thấy ta, Tambadāṭhika sẽ cúng dường cháo sữa đến ta và y sẽ được phước báu lớn.”. Hiểu rõ như thế rồi, Trưởng lão đắp y mang bát đến đứng ngay trước cửa nhà của Tambadāṭhika để cho gia chủ thấy.
Tambadāṭhika trông thấy Trưởng lão liền phát tâm tịnh tín, nghĩ thầm: “Ta hành nghề đao phủ thủ đã lâu năm, chém giết rất nhiều người rồi, hôm nay trong nhà ta có sẵn cháo sữa và trước cửa nhà ta có vị Trưởng lão đứng chờ, bây giờ ta phải cúng dường cho Trưởng lão mới được.”.
Tambadāṭhika bèn dẹp món cháo sữa qua một bên, ra đảnh lễ thỉnh Trưởng lão vào ngồi trong nhà, sớt cháo sữa vào bát, rưới thêm bơ trong mới, rồi đứng hầu quạt Trưởng lão. Vì đã lâu không dùng món cháo sữa, Tambadāṭhika cảm thấy thèm ăn dữ lắm. Trưởng lão biết tâm trạng của ông ta, bèn bảo: “Nầy gia chủ, ông hãy độ phần cháo của ông đi.”.
Tambadāṭhika liền trao quạt qua tay người khác, rồi đi dùng món cháo sữa của mình.
Trưởng lão lại bảo người quạt hầu rằng: “Hãy đi qua hầu gia chủ ấy đi.”.
Được quạt hầu, Tambadāṭhika độ cháo đầy bụng rồi lại đứng hầu quạt Trưởng lão. Chờ Trưởng lão độ xong cháo, thỉnh lấy bát đem đi rửa.
Trưởng lão tụng kinh phúc chúc cho thí chủ, nhưng thí chủ không thể đưa tâm mình theo dõi lời Pháp của Trưởng lão thuyết, Trưởng lão suy nghĩ rồi hỏi: “Nầy gia chủ, tại sao ông không thể đưa tâm an tịnh để theo dõi Pháp thoại được như vậy?”.
- Bạch Ngài, vì tôi hành nghề thô bạo đã lâu năm giết chết rất nhiều người, tôi mãi nhớ đến hành vi ấy của mình, nên không thể đưa tâm theo dõi lời Pháp của Trưởng lão thuyết.
Trưởng lão tự nghĩ: “Ta phải gạt ông nầy.” (Vañcessāminanti) rồi hỏi rằng: “Ông có tự ý mình vui thích làm việc ấy, hay bị người khác sai bảo ông làm?”.
- Bạch Ngài, đức Vua ra lịnh cho tôi làm.
- Vậy thì, nầy Thiện nam, ông có làm chi bất thiện đâu?
Gia chủ Tambadāṭhika vốn tư chất đần độn, nghe Trưởng lão nói như vậy, tự cho là mình chẳng có điều chi bất thiện cả, nên mừng rỡ nói: “Nếu vậy, xin Ngài hãy thuyết pháp.”.
Trong khi Trưởng lão tụng kinh phúc chúc thì Tambadāṭhika định được nhất tâm, nghe Pháp đắc Tu Đà Hườn đạo, rồi tiếp theo đó phát sinh tâm nhẫn nại.
Sau khi phúc chúc xong, Trưởng lão ra đi, ông Tambadāṭhika tiễn chân Trưởng lão một khoảng đường, rồi quay lại trở về. Một nữ Dạ xoa nhập vào một con bò cái, chạy đến húc vào ngực Tambadāṭhika khiến ông ta ngã xuống chết ngay. Sau khi chết, ông được tái sanh về cung trời Đấu Suất.
Các Tỳ khưu, câu hội cùng nhau tại giảng đường đề khởi câu chuyện nầy: “Ông đao phủ đã hành nghề thô bạo trong năm mươi lăm năm, mới nghỉ việc hôm nay để bát cho Trưởng lão Sārīputta rồi chết ngay, không biết tái sanh về đâu?”.
Đức Bổn Sư ngự đến hỏi: “Nầy các Tỳ khưu! Hôm nay các thầy bàn luận về vấn đề gì?”.
- Bạch Ngài, về việc như vầy…
Nghe vậy, Đức Bổn Sư dạy: “Nầy các Tỳ khưu, ông ta đã sanh lên cõi Đâu Suất Đà Thiên.”.
- Bạch Ngài nói sao? Có phải sau khi giết chết bấy nhiên nhân mạng, trong bấy nhiêu lâu, ông ta được sanh lên cung trời Đâu Suất chăng?
- Phải đó, nầy các Tỳ khưu, may nhờ gặp được một bậc Hiền trí vĩ đại ông ta nghe Pháp của Đức Sārīputta nên đã hồi tâm, đắc được Pháp nhãn. Sau khi lìa đời được sanh lên Đâu Suất Đà Thiên.
Nói rồi, Đức Bổn Sư ngâm kệ rằng:
“Subhāsitaṃ suṇitvāna,
Nagare coraghātako;
Anulomakhantiṃ laddhāna,
Modati tivivaṅgatoti.”.
Sau khi được nghe lời kinh khéo giảng, ông đao phủ thủ trong thành phố, chứng được Pháp nhẫn hợp thời, hoan hỷ mà đi về Thiên giới.
- Bạch Ngài, kinh phúc chúc không đủ mãnh lực, đối với tổng số lớn lao các nghiệp bất thiện của ông ta. Tại sao chỉ có bấy nhiêu đó mà ông hồi tâm giác ngộ được Chánh Pháp?
- Nầy các Tỳ khưu, Pháp của Ta thuyết dầu ít hay nhiều, chớ có so bì số lượng. Quả thật vậy, chẳng thà chỉ nói một lời mà lời hữu ích, còn hơn là ngàn câu, ngàn lời mà vô ích.
Rồi Đức Bổn Sư thuyết pháp tóm tắt và ngâm kệ rằng:
“Sahassamapi ce vācā,
Anatthapadasañhitā;
Ekaṃ atthapadaṃ seyyo,
Yaṃ sutvā upasammati.”
“Dầu cho nói đến ngàn câu.
Toàn lời vô nghĩa thì đâu ích gì?
Thà lời chí lý, thích nghi,
Một câu nghe cũng đoạn ly khổ sầu”.
CHÚ GIẢI:
Sahassamapi: dầu cả ngàn lời nói ra, nếu tính số nhiều từ một ngàn đến hai ngàn lời nói như vậy, mà toàn là lời nói vô ích, chẳng hạn như lời nói giải về vũ trụ, về núi non, về rừng rú… Những câu nói vô ích vì không phải là những câu nói là đuốc soi đường đi Níp Bàn, thì dầu có nói nhiều bao nhiêu cũng chỉ dẫn đến nơi tội ác.
Ekaṃ atthapadaṃ: một lời nói hữu ích, như câu: “Người có thân, niệm thân trược thì đắc Tam Minh, là đã làm xong lời dạy của Chư Phật.”. Khi được nghe một câu hữu ích rồi, thính giả làm cho lắng dịu các Pháp bất thiện nhất là tình dục, bằng chứng của sự hữu ích ấy là làm cho các Pháp sáng tỏ các pháp liên hệ với Níp Bàn như Ngũ Uẩn (Khandha), Tứ Đại (Dhātu), Thập nhị Xứ (Āyatana), Ngũ Quyền (Indriya), Ngũ Lực (Bala), Thất Giác chi (Bojjhanga), Tứ Niệm Xứ (Saṭipatthāna). Thà chỉ một lời nói như thế, nghe xong cũng được an vui.
Cuối thời Pháp, nhiều vị Tỳ khưu chứng đắc Thánh quả, nhất là Tu Đà Hườn.
Làm nghề chém cổ cướp nhiều năm,
Kẻ ác còn dư chút Thiện tâm,
Thấy Pháp Chủ vừa ra Đại định,
Cúng dường cháo sữa một phần mâm.
Nhờ duyên Bố thí đủ đầy chi,
Sơ Quả chứng liền, dứt ngại nghi,
Đâu Suất được về an hưởng phước,
Mặc cho bò húc rã thây thi…
DỨT TÍCH ĐAO PHỦ THỦ NANH ĐỒNG
Tambadāṭhikacoraghātakavatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Sahassamapi ce vācāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā veḷuvane viharanto tambadāṭhikacoraghātakaṃ ārabbha kathesi.
Ekūnapañcasatā kira corā gāmaghātakādīni karontā jīvikaṃ kappesuṃ. Atheko puriso nibbiddhapiṅgalo tambadāṭhiko tesaṃ santikaṃ gantvā “ahampi tumhehi saddhiṃ jīvissāmī”ti āha. Atha naṃ corajeṭṭhakassa dassetvā “ayampi amhākaṃ santike vasituṃ icchatī”ti āhaṃsu. Atha naṃ corajeṭṭhako oloketvā “ayaṃ mātu thanaṃ chinditvā pitu vā galalohitaṃ nīharitvā khādanasamattho atikakkhaḷo”ti cintetvā “natthetassa amhākaṃ santike vasanakicca”nti paṭikkhipi. So evaṃ paṭikkhittopi āgantvā ekaṃ tasseva antevāsikaṃ upaṭṭhahanto ārādhesi. So taṃ ādāya corajeṭṭhakaṃ upasaṅkamitvā, “sāmi, bhaddako esa, amhākaṃ upakārako, saṅgaṇhatha na”nti yācitvā corajeṭṭhakaṃ paṭicchāpesi. Athekadivasaṃ nāgarā rājapurisehi saddhiṃ ekato hutvā te core gahetvā vinicchayamahāmaccānaṃ santikaṃ nayiṃsu. Amaccā tesaṃ pharasunā sīsacchedaṃ āṇāpesuṃ. Tato “ko nu kho ime māressatī”ti pariyesantā te māretuṃ icchantaṃ kañci adisvā corajeṭṭhakaṃ āhaṃsu – “tvaṃ ime māretvā jīvitañceva labhissasi sammānañca, mārehi ne”ti. Sopi attānaṃ nissāya vasitattā te māretuṃ na icchi. Etenūpāyena ekūnapañcasate pucchiṃsu, sabbepi na icchiṃsu. Sabbapacchā taṃ nibbiddhapiṅgalaṃ tambadāṭhikaṃ pucchiṃsu. So “sādhū”ti sampaṭicchitvā te sabbepi māretvā jīvitañceva sammānañca labhi. Etenūpāyena nagarassa dakkhiṇatopi pañca corasatāni ānetvā amaccānaṃ dassetvā tehi tesampi sīsacchede āṇatte corajeṭṭhakaṃ ādiṃ katvā pucchantā kañci māretuṃ icchantaṃ adisvā “purimadivase eko puriso pañcasate core māresi, kahaṃ nu kho so”ti. “Asukaṭṭhāne amheti diṭṭho”ti vutte taṃ pakkosāpetvā “ime mārehi, sammānaṃ lacchasī”ti āṇāpesuṃ. So “sādhū”ti sampaṭicchitvā te sabbepi māretvā sammānaṃ labhi. Atha naṃ “bhaddako ayaṃ puriso, nibaddhaṃ coraghātakameva etaṃ karissāmā”ti mantetvā tassa taṃ ṭhānantaraṃ datvāva sammānaṃ kariṃsu. So pacchimadisatopi uttaradisatopi ānīte pañcasate pañcasate core ghātesiyeva. Evaṃ catūhi disāhi ānītāni dve sahassāni māretvā tato paṭṭhāya devasikaṃ ekaṃ dveti ānīte te manusse māretvā pañcapaṇṇāsa saṃvaccharāni coraghātakakammaṃ akāsi.
So mahallakakāle ekappahāreneva sīsaṃ chindituṃ na sakkoti, dve tayo vāre paharanto manusse kilameti. Nāgarā cintayiṃsu – “aññopi coraghātako uppajjissati, ayaṃ ativiya manusse kilameti, kiṃ iminā”ti tassa taṃ ṭhānantaraṃ hariṃsu. So pubbe coraghātakakammaṃ karonto “ahatasāṭake nivāsetuṃ, navasappinā saṅkhataṃ khīrayāguṃ pivituṃ, sumanapupphāni pilandhituṃ, gandhe vilimpitu”nti imāni cattāri na labhi. So ṭhānā cāvitadivase “khīrayāguṃ me pacathā”ti vatvā ahatavatthasumanamālāvilepanāni gāhāpetvā nadiṃ gantvā nhatvā ahatavatthāni nivāsetvā mālā pilandhitvā gandhehi anulittagatto gehaṃ āgantvā nisīdi. Athassa navasappinā saṅkhataṃ khīrayāguṃ purato ṭhapetvā hatthadhovanodakaṃ āhariṃsu. Tasmiṃ khaṇe sāriputtatthero samāpattito vuṭṭhāya “kattha nu kho ajja mayā gantabba”nti attano bhikkhācāraṃ olokento tassa gehe khīrayāguṃ disvā “karissati nu kho me puriso saṅgaha”nti upadhārento “maṃ disvā mama saṅgahaṃ karissati, karitvā ca pana mahāsampattiṃ labhissati ayaṃ kulaputto”ti ñatvā cīvaraṃ pārupitvā pattaṃ ādāya tassa gehadvāre ṭhitameva attānaṃ dassesi.
So theraṃ disvā pasannacitto cintesi – “mayā ciraṃ coraghātakakammaṃ kataṃ, bahū manussā māritā, idāni me gehe khīrayāgu paṭiyattā, thero āgantvā mama gehadvāre ṭhito, idāni mayā ayyassa deyyadhammaṃ dātuṃ vaṭṭatī”ti purato ṭhapitayāguṃ apanetvā theraṃ upasaṅkamitvā vanditvā antogehe nisīdāpetvā patte khīrayāguṃ ākiritvā navasappiṃ āsiñcitvā theraṃ bījamāno aṭṭhāsi. Athassa ca dīgharattaṃ aladdhapubbatāya khīrayāguṃ pātuṃ balavaajjhāsayo ahosi. Thero tassa ajjhāsayaṃ ñatvā “tvaṃ, upāsaka, attano yāguṃ pivā”ti āha. So aññassa hatthe bījaniṃ datvā yāguṃ pivi. Thero bījamānaṃ purisaṃ “gaccha, upāsakameva bījāhī”ti āha. So bījiyamāno kucchipūraṃ yāguṃ pivitvā āgantvā theraṃ bījamāno ṭhatvā katāhārakiccassa therassa pattaṃ aggahesi. Thero tassa anumodanaṃ ārabhi. So attano cittaṃ therassa dhammadesanānugaṃ kātuṃ nāsakkhi. Thero sallakkhetvā, “upāsaka, kasmā cittaṃ desanānugaṃ kātuṃ na sakkosī”ti pucchi. “Bhante, mayā dīgharattaṃ kakkhaḷakammaṃ kataṃ, bahū manussā māritā, tamahaṃ attano kammaṃ anussaranto cittaṃ ayyassa desanānugaṃ kātuṃ nāsakkhi”nti. Thero “vañcessāmi na”nti cintetvā “kiṃ pana tvaṃ attano ruciyā akāsi, aññehi kāritosī”ti? “Rājā maṃ kāresi, bhante”ti. “Kiṃ nu kho te, upāsaka, evaṃ sante akusalaṃ hotī”ti? Mandadhātuko upāsako therenevaṃ vutte “natthi mayhaṃ akusala”nti saññī hutvā tena hi, “bhante, dhammaṃ kathethā”ti. So there anumodanaṃ karonte ekaggacitto hutvā dhammaṃ suṇanto sotāpattimaggassa orato anulomikaṃ khantiṃ nibbattesi. Theropi anumodanaṃ katvā pakkāmi.
Upāsakaṃ theraṃ anugantvā nivattamānaṃ ekā yakkhinī dhenuvesena āgantvā ure paharitvā māresi. So kālaṃ katvā tusitapure nibbatti. Bhikkhū dhammasabhāyaṃ kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ “coraghātako pañcapaṇṇāsa vassāni kakkhaḷakammaṃ katvā ajjeva tato mutto, ajjeva therassa bhikkhaṃ datvā ajjeva kālaṃ kato, kahaṃ nu kho nibbatto”ti. Satthā āgantvā “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā”ti pucchitvā “imāya nāmā”ti vutte, “bhikkhave, tusitapure nibbatto”ti āha. “Kiṃ, bhante, vadetha, ettakaṃ kālaṃ ettake manusse ghātetvā tusitavimāne nibbatto”ti. “Āma, bhikkhave, mahanto tena kalyāṇamitto laddho, so sāriputtassa dhammadesanaṃ sutvā anulomañāṇaṃ nibbattetvā ito cuto tusitavimāne nibbatto”ti vatvā imaṃ gāthamāha –
“Subhāsitaṃ suṇitvāna, nagare coraghātako;
Anulomakhantiṃ laddhāna, modatī tidivaṃ gato”ti.
“Bhante, anumodanakathā nāma na balavā, tena kataṃ akusalakammaṃ mahantaṃ, kathaṃ ettakena visesaṃ nibbattesī”ti. Satthā “kiṃ, bhikkhave, ‘mayā desitadhammassa appaṃ vā bahuṃ vā’ti mā pamāṇaṃ gaṇhatha. Ekavācāpi hi atthanissitā seyyāvā”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Sahassamapi ce vācā, anatthapadasaṃhitā;
Ekaṃ atthapadaṃ seyyo, yaṃ sutvā upasammatī”ti.
Tattha sahassamapīti paricchedavacanaṃ, ekaṃ sahassaṃ dve sahassānīti evaṃ sahassena cepi paricchinnavācā honti, tā ca pana anatthapadasaṃhitā ākāsavaṇṇanāpabbatavaṇṇanāvanavaṇṇanādīni pakāsakehi aniyyānadīpakehi anatthakehi padehi saṃhitā yāva bahukā hoti, tāva pāpikā evāti attho. Ekaṃ atthapadanti yaṃ pana “ayaṃ kāyo, ayaṃ kāyagatāsati, tisso vijjā anuppatto, kataṃ buddhassa sāsana”nti evarūpaṃ ekaṃ atthapadaṃ sutvā rāgādivūpasamena upasammati, taṃ atthasādhakaṃ nibbānappaṭisaṃyuttaṃ khandhadhātuāyatanaindriyabalabojjhaṅgasatipaṭṭhānaparidīpakaṃ ekampi padaṃ seyyoyevāti attho.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Tambadāṭhikacoraghātakavatthu paṭhamaṃ.
VIII. 1. A Public Executioner
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
100. Though a speech consist of a thousand words, if the sentences lack meaning,
Better were a single sentence full of meaning, which if a man hear, he is at peace.
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Veḷuvana with reference to Copper-tooth, a public executioner.
We are told that five hundred thieves less one made a living by plundering villages and other acts of violence. Now a certain man with copper-colored teeth and tawny skin, his body covered with scars, came to them and said, “Let me also live with you.” They took him to the ringleader of the thieves, saying, “This man also wishes to live with us.” The ringleader of the thieves looked at the man and thought to himself, “This man’s nature is inordinately cruel. He is capable of cutting out the breast of his mother and eating it, or of drawing the blood from the throat of his father and drinking it.” Therefore he refused his request, saying, “It will not do for this man to live with us.”
Although he had thus been refused admission to the band of thieves, he went and won the favor of a certain pupil of the ringleader by his courteous attentions to him. This pupil took the man with him, approached the ringleader of the thieves, and said to him, “Master, this man is a dutiful servant of ours; bestow your favor on him.” Having made this request, he turned the man over to the ringleader of the thieves.
One day the citizens joined forces with the king’s men, captured those thieves, took them to court, and arraigned them before the lords of justice. The justices ordered their heads to be chopped off with an axe. “Who will put these men to death?” said the citizens. After a thorough search they were unable to find a single man who was willing to put them to death. Finally they said to the ringleader of the thieves, “You put these men to death, and we will spare your life and give you a rich reward besides. You kill them.” But because they had lived with him, he also was unwilling to put them to death. In like manner also all of the five hundred less one refused when asked. Last of all they asked that scarred, tawny, copper-tooth. “Yes, indeed,” said he, consenting. So he put to death all the thieves, and in return received his life and rich gifts besides.
In like manner also they brought in five hundred thieves from the country to the south of the city and arraigned them before the justices. When the justices ordered their heads to be chopped off, they asked each thief, beginning with the ringleader, to put his companions to death, but found not a single one willing to act as executioner. Then they said, “The other day a certain man put five hundred thieves to death. Where is he?” “We saw him in such and such a place,” was the reply. So they summoned him and said to him, “Put these men to death, and you will receive a rich reward.” “Yes, indeed,” said he, consenting. So he put them all to death and received his reward.
The citizens consulted together and said, “This is a most excellent man. We will make him permanent executioner of thieves.” So saying, they gave him the post. Later on, they brought in five hundred thieves also from the west and still later five hundred also from the north, and he put them all to death. Thus he put to death two thousand thieves brought in from each of the four cardinal points. As time went on, and one or two men were brought in each day, he put them all to death. For a period of fifty-five years he acted as public executioner.
In old age he could no longer cut off a man’s head with a single blow, but was obliged to deliver two or three blows, causing much unnecessary suffering to the victims. The citizens thought to themselves, “We can get another executioner of thieves. This man subjects his victims to much unnecessary torture. Of what use is he any longer?” Accordingly they removed him from his office. During his term of office as executioner of thieves, he had been accustomed to receive four perquisites: old clothes for him to wear, milk-porridge made with fresh ghee for him to drink, jasmine flowers wherewith to deck himself, and perfumes wherewith to anoint himself. But these four perquisites he received no longer. On the day he was deposed from office, he gave orders that milk-porridge should be cooked for him. And taking with him old clothes and jasmine flowers and perfumes, he went to the river and bathed. Having so done, he put on the old clothes, decked himself with garlands, anointed his limbs, and went home and sat down. They set before him milk-porridge made with fresh ghee and water for rinsing the hands.
At that moment Elder Sāriputta arose from a state of trance. Said he to himself, “Where ought I to go to-day?” Surveying his rounds for alms, he saw milk-porridge in the house of the former executioner. Considering within himself, “Will this man receive me kindly?” he became aware of the following, “This excellent man will receive me kindly and will thereby gain a rich reward.” So the Elder put on his robe, took his bowl, and showed himself at the door of the former executioner’s house.
When the man saw the Elder, his heart was filled with joy. Thought he to himself, “For a long time I have acted as executioner of thieves, and many are the men I have put to death. Now milk-porridge has been prepared in my house, and the Elder has come and stands at my threshold. Now ought I to present alms to his reverence.” So he removed the porridge which had been set before him, approached the Elder, and paid obeisance to him. And escorting him into his house, he provided him with a seat, poured the milk-porridge into his bowl, spread fresh ghee thereon, and standing beside him, began to fan him.
Now not for a long time had he tasted milk-porridge, and therefore desired greatly to drink thereof. The Elder, knowing his desire, said to him, “Lay disciple, drink your own porridge.” The man placed the fan in the hand of another and drank the porridge. The Elder said to the man who was fanning him, “Go fan the lay disciple instead.” So while he was being fanned, he filled his belly with porridge, and then went and resumed fanning the Elder. When the Elder had finished his meal, he took his bowl.
When the Elder began the words of thanksgiving to his host, the man was not able to fix his mind on the Elder’s discourse. The Elder, observing this, said to him, “Lay disciple, why is it that you are not able to fix your mind on my discourse?” “Reverend Sir, for a long time I have done deeds of cruelty; I have put many men to death. It is because I keep recalling my own past deeds, that I am unable to fix my mind on your reverence’s discourse.” The Elder thought to himself, “I will play a trick on him.” So he said to the man, “But did you do this of your own free will, or were you made to do it by others?” “The king made me do it, Reverend Sir.” “If that is the case, lay disciple, what wrong did you do?” The bewildered disciple thought, “According to what the Elder says, I have done no wrong.” Said he to the Elder, “Very well, Reverend Sir, continue your discourse.”
As the Elder pronounced the words of thanksgiving, the man’s mind became tranquil; and as he listened to the Law, he developed the quality of patience, and progressed in the direction of the Path of Conversion. When the Elder had completed the words of thanksgiving, he departed. The lay disciple accompanied him a little way and then turned back. As the lay disciple was returning, an ogress came along in the form of a cow, struck him with her shoulder, and killed him. So he died and was reborn in the World of the Tusita gods.
The monks began a discussion in the Hall of Truth: “He who was an executioner of thieves, he who for fifty-five years committed acts of cruelty, to-day was relieved of his office, to-day gave alms to the Elder, to-day met death. Where was he reborn?” The Teacher came in and asked them, “Monks, what are you sitting here now talking about?” When they told him, he said, “Monks, he has been reborn in the World of the Tusita gods.” “What say you, Reverend Sir? he who killed men for so long a time has been reborn in the World of the Tusita gods?” “Yes, monks. A great and good spiritual counselor did he receive. He heard Sāriputta preach the Law, and profiting thereby, acquired knowledge. When he departed from this existence, he was reborn in the World of the Tusita gods.” So saying, he pronounced the following Stanza,
He who was executioner of thieves in the city listened to words well spoken.
Gained patience accordingly, went to heaven, and is in joy.
“Reverend Sir, there is no great power in words of thanksgiving, and this man had done much wrong. How could he gain Specific Attainment with so little?” The Teacher replied, “Monks, do not measure the Law I have preached as being little or much. One saying possessed of meaning is of surpassing merit.” So saying, he instructed them in the Law by pronouncing the following Stanza,
100. Though a speech consist of a thousand words, if the sentences lack meaning,
Better were a single sentence full of meaning, which if a man hear, he is at peace.
- Text: N. ii. 203-209.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.